Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022

 

MỘT SỐ Cảnh báo những biểu hiện lệch lạc trong sáng tạo văn chương

Một là, vấn đề nổi cộm, lệch lạc trong đời sống văn học thời gian qua cần chỉ ra là việc hư cấu lịch sử vượt ra khỏi logic của sự thật và bối cảnh xã hội thực tiễn của lịch sử. Viết về lịch sử không thể viết tùy tiện, sáng tạo hư cấu như thế nào cũng được. Nhà văn viết về lịch sử có thể sáng tạo ra tâm lý, ngôn ngữ, tư tưởng, tình cảm cho những nhân vật lịch sử nổi tiếng có thật, thậm chí có thể hoàn toàn sáng tạo ra thêm một vài nhân vật hư cấu để làm rõ hơn dụng ý nghệ thuật của mình, như Nguyễn Xuân Khánh đã làm trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly”. Nhưng nhà văn viết về lịch sử buộc phải nghiên cứu kỹ bối cảnh xã hội của thời điểm lịch sử mà tác phẩm đề cập đến. Đặt một loài cây, một đồ vật, một chi tiết, một sự kiện chưa/không thể có ở thời điểm lịch sử mà tác phẩm miêu tả, thì đó nhất định là một lỗi sáng tạo, một nhầm lẫn kém cỏi, chứ không thể ngụy biện dưới cái ô “sáng tạo không giới hạn về lịch sử”, hay thậm chí là cả thủ pháp “hư cấu siêu sử ký” (historical fiction) của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong văn học hậu hiện đại, những nhà văn như Isaac Bashevis Singer, Donald Barthelme có chủ ý và công khai ngay từ đầu những hư cấu lịch sử phi lý, cố tình trộn lẫn các sự kiện, nhân vật vào những bối cảnh xã hội khác nhau. Còn ở ta, đơn giản là những nhà văn có sự nhầm lẫn, sai sót về thời điểm và văn hóa lịch sử trong sáng tạo.

Hai là, vẫn còn hiện tượng nhiều nhà văn thường chủ trương sử dụng các chi tiết dục tính (sex), kinh dị, những chất liệu ngôn từ suồng sã, dung tục quá nhiều trong tác phẩm đã tạo ra nhiều hệ lụy, tác hại đối với đời sống tinh thần bạn đọc. Việc xuất hiện yếu tố sex, kinh dị hay từ tục trên văn đàn thế giới, trong sáng tác của các bậc thầy văn học là không hiếm. Nhưng yếu tố sex, từ tục hay kinh dị, huyền ảo xuất hiện trong tác phẩm của những bậc thầy văn học là những thủ pháp nghệ thuật có tính tư tưởng, có quan niệm thẩm mỹ nhất định. Ngược lại, nhiều tác phẩm văn học đương đại của Việt Nam hiện nay chủ yếu chỉ tập trung vào sex, kinh dị, hay sử dụng từ tục nhằm gây scandal (bê bối) nhằm nổi tiếng và bán sách. Ranh giới giữa thanh và tục, giữa thủ pháp nghệ thuật với sự non kém nghệ thuật, vấn đề đạo đức trong sáng tạo văn học luôn rất khó để minh/nhận định. Cùng một từ, một bối cảnh, một hành vi, nhưng ở nhà văn có tài, có tâm, thì nó có thể là một sáng tạo, ngược lại, với những nhà văn kém tài, hoặc có tài song tâm không trong sáng, thì nó chỉ đơn thuần là một chiêu trò để thu hút độc giả.

Ba là, biểu hiện lệch lạc khác trong sáng tác văn học là kiểu sáng tạo theo bản năng, viết văn “cứ hay là được”, “vô chiêu thắng hữu chiêu”. Rất nhiều nhà văn hiện nay, cả thế hệ già lẫn thế hệ trẻ cố chấp tin rằng tài năng thiên bẩm của họ sẽ là tấm hộ chiếu thông hành suốt đời trên con đường văn chương. Họ chẳng cần bất kỳ một "visa" nào để đi vào những thế giới khác của nghệ thuật đương đại thế giới.

Có nghĩa là, nhà văn cứ viết theo cảm xúc, nhận thức cá nhân là được, không cần đọc nhiều các tác giả đồng nghiệp, đọc văn học thế giới lại càng viển vông xa vời, tất nhiên không cần đọc các tri thức xã hội nhân văn hay khoa học tự nhiên làm gì cho mất thời gian. Những lý thuyết văn học, những trào lưu, trường phái văn học thế giới lại càng xa xỉ đối với nhà văn Việt Nam. Điều này dẫn đến hiện trạng những sáng tác văn học Việt Nam thiên về miêu tả vấn đề địa phương, về suy tư cá nhân, thời gian bị tù đọng. Những nhà văn dẫu tài năng nhất cũng sớm tàn lụi, hoặc mất đi sức sáng tạo, sự cương mãnh trong tư duy nghệ thuật sau khi những tác phẩm đầu tay đã gây xôn xao văn đàn, hứa hẹn một sự nghiệp tươi sáng. Họ đã không thể đi xa và đi lâu dài trong thế giới nghệ thuật khi tác phẩm thiếu đi tính tư tưởng, tính thời đại, những kiến thức đương đại về lý thuyết văn học và những quan điểm mỹ học, triết học mới. Nhiều nhà văn ngày nay có thể vẫn có những tác phẩm đáng chú ý, hoặc tác phẩm bán chạy trên thị trường sách, song họ đã không còn là người tiên phong, người dẫn đầu cho một thời đại văn học mới. Đơn giản hơn, họ đã không vượt qua được cái bóng của chính mình trong quá khứ. Chính vì ít đọc, nhất là ít đọc những kiệt tác văn học thế giới đương đại cùng những lý thuyết văn học, trào lưu và trường phái văn học mới của thế giới nên nhiều nhà văn ở nước ta ngộ nhận trong sáng tạo. 

Bốn là, trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay, tạo ra những hạn chế và lệch lạc không nhỏ là bộ phận văn học mạng. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, “thế giới phẳng” theo cách nói của nhà báo người Mỹ T.Friedman, nơi chứng kiến thân phận của tri thức bị biến thành hàng hóa và được chu chuyển, buôn bán trên internet. Nhà văn viết bằng bàn phím và mười đầu ngón tay chứ không dùng bút giấy truyền thống nữa. Mạng xã hội trở thành cộng đồng diễn giải chính, là không gian khả dĩ để nhà văn tồn tại, thay vì thế giới của thực tại. Thế giới ảo đang dần lấn át thế giới thực, từ đó những tác giả và tác phẩm văn học mạng bước ra văn đàn, lấn át những nhà văn truyền thống. Hàng loạt nhà văn được đông đảo bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ/nhỏ tuổi hiện nay yêu mến cuồng nhiệt là nhà văn mạng. Họ chiếm lĩnh thị trường sách một cách áp đảo so với văn học viết truyền thống. Đa phần họ đều trẻ tuổi, thông minh, có tài năng. Tuy nhiên, mặt trái của văn học mạng, xuất phát từ đặc trưng trong tiếp nhận và bản chất của ngôn ngữ, đó là nặng về tính giải trí, tính truyền thông đa phương tiện mà yếu về tính tư tưởng, thiếu chiều sâu về nghệ thuật. Chúng ta không phủ nhận những đóng góp của văn học mạng. Sự phát triển của nó trong xu thế văn hóa, văn minh hiện nay là tất yếu, song cũng cần nhận ra văn học mạng chỉ chủ yếu là văn học giải trí, văn học thị trường hoặc là cận văn học.

Sự thật

 PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy vai trò của kiểm tra, giám sát trong xây dựng Đảng hiện nay, chúng ta cần tiếp tục thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, ý thức thường xuyên tự kiểm tra, giám sát của cán bộ, đảng viên.

Hồ Chí Minh quan niệm, mỗi đảng viên do sự “tự giác” và “lòng hăng say” của mình mà vào Đảng, mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ tiên phong. Mỗi cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là một trong những người đại biểu cho dân tộc. Thực hiện chuẩn mực “chặt chẽ và nghiêm khắc” trong quan hệ với chính mình, Người yêu cầu, phận sự của đảng viên và cán bộ là “cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình”. Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, đồng thời phải nêu cao nhận thức và có ý thức tự kiểm điểm những lời nói, những việc làm, thường xuyên xem xét, đánh giá những điều hay - dở, đúng – sai, tốt – xấu để phát triển điều hay, sửa chữa khuyết điểm, đồng thời phải hoan nghênh cấp dưới và nhân dân phê bình, chống bệnh hữu danh, vô thực, bệnh hình thực. Hồ Chí Minh chỉ rõ, sau mỗi công việc, cần tự mình kiểm điểm, rút kinh nghiệm, tìm ra ưu điểm để phát huy, nhân rộng; đồng thời chỉ rõ khuyết điểm, nguyên nhân để sửa chữa, khắc phục kịp thời, không để sai lầm từ một người thành sai lầm của nhiều người, sai lầm của một tổ chức thành của nhiều tổ chức. 

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng nằm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, do đó nguy cơ suy thoái, mắc phải những sai lầm, khuyết điểm là nguy cơ thường trực. Nhất là trong điều kiện hoà bình, cán bộ, đảng viên ai cũng mong muốn chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của bản thân và gia đình. Đó là nhu cầu chính đáng. Tuy nhiên, nếu nhu cầu chăm lo cho bản thân và gia đình vượt qua những quy định cho phép của người đảng viên, vi phạm Điều lệ, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những chuẩn mực của cộng đồng thì nhu cầu đó là sự ích kỷ, hẹp hòi, vụ lợi. Do đó, mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải tự giác, thường xuyên kiểm tra, giám sát chính mình, trong đó người đứng đầu tổ chức phải gương mẫu, thống nhất cao về ý chí và hành động trong thực hiện kiểm tra, giám sát của Đảng và tự kiểm tra, giám sát chính mình. 

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong kiểm tra, giám sát.

Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức và quyết tâm chính trị của cấp uỷ tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên các cấp về kiểm tra, giám sát của Đảng. Cần phải thay đổi nhận thức chưa đúng đối với nhiều người hiện nay khi cho rằng kiểm tra, giám sát mang ý nghĩa tiêu cực, là sự kiềm chế, thúc ép, định ranh giới, theo dõi hoặc lôi kéo dẫn đến những cuộc tranh luận không đáng có hoặc những tổ chức và cá nhân bị kiểm tra, giám sát là những tổ chức, cá nhân “có vấn đề”. 

Cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Đảng, giữ nghiêm kỷ luật Đảng góp phần phát hiện và khắc phục những khuyết điểm ngay từ khi mới manh nha. Tăng cường kiểm tra, giám sát về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp lụât của Nhà nước, chấp hành Điều lệ Đảng và các chủ trương, chính sách. Trong kiểm tra cần chú ý lắng nghe dư luận quần chúng; tiếp nhận ý kiến của Mặt trận, đoàn thể nhân dân nhận xét phê bình cán bộ, đảng viên theo định kỳ hoặc đột xuất. Cần coi trọng phát hiện các nhân tố tích cực, việc làm tốt, điển hình tốt giúp cho cấp uỷ tổng kết, rút ra những kinh nghiệm hay, những cán bộ đảng viên tiêu biểu... để bồi dưỡng và nhân rộng.

Cùng với kiểm tra, giám sát là giữ vững kỷ luật Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, kỷ luật của Đảng là kỷ luật tự giác nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, đề cao trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, làm chủ bản thân, không làm điều gì khuất tất. Kỷ luật của Đảng cũng là kỷ luật sắt, nghĩa là rất nghiêm khắc, nghiêm minh. Chỉ có như vậy Đảng mới có sức mạnh và mỗi cán bộ, đảng viên mới tránh được sai phạm. Kỷ luật của Đảng có ý nghĩa răn đe, cảnh tỉnh, cảnh báo đồng thời hướng những người sai phạm có thể sửa chữa để tiến bộ. Trong điều kiện đảng cầm quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kỷ luật của Đảng gắn liền với pháp luật Nhà nước. Các cán bộ, đảng viên sai phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự phải được xử lý nghiêm minh, không có ngoại lệ và bình đẳng trước pháp luật. 

Thứ ba, tăng cường hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước.

Hệ thống pháp luật thực sự là phương tiện hiệu lực và hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội; phục vụ cho việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng về thứ bậc, chính xác, minh bạch và dễ hiểu, dễ thực hiện, có tính khả thi cao. Các đạo luật phải giữ vị trí tối thượng và là hình thức chủ yếu trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng của đời sống xã hội, quyền, nghĩa vụ của công dân. 

Trong bất kỳ trường hợp nào, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật. Thậm chí, những đảng viên giữ vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu thực thi pháp luật và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc. Pháp luật bảo vệ Đảng, bảo vệ những cán bộ, đảng viên chân chính, đồng thời nghiêm trị những phần tử đi ngược lại tôn chỉ, mục đích của Đảng. Hồ Chí Minh viết: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(8).

Thanh tra là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu trong hệ thống các giải pháp nhằm ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những thiết xót trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật, từ đó kiến nghị với với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp để khắc phục. Thanh tra Nhà nước xem xét, đánh giá, xử lý các cơ quan Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách pháp luật; nhiệm vụ của cơ quan tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền.

Tập trung chỉ đạo công tác thanh tra thực hiện tốt công tác tiếp dân; giải quyết khiếu nại đông người; giải quyết các vụ việc tồn đọng, bức xúc kéo dài. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cấp, các ngành; tăng cường công tác thanh tra trách nhiệm thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, tăng cường việc củng cố, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân; xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Thứ tư, phát huy vai trò của nhân dân 

Theo Hồ Chí Minh, đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là, hết sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối. Như vậy thì nhất định được nhân dân ủng hộ và việc gì to mấy, khó mấy làm cũng nên.

Nói về vai trò của nhân dân trước những sai lầm, khuyết điểm của đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tội tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(9).  Nói về việc thực hiện chữ Liêm của cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh cho rằng, “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm, cũng phải hoá ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM”(10). Vì vậy, phải làm cho nhân dân nhận thức được về vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của mình trong việc giám sát các tổ chức Đảng và đảng viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, tránh thái độ thờ ơ, lảng tránh hoặc qua quýt.

Dân chủ thể hiện quyền và nghĩa vụ của người dân (nhân dân là chủ và nhân dân làm chủ). Quyền và nghĩa vụ đó được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Nhưng để quyền đó được thực thi trong thực tế, để người dân có thể thực hiện quyền đó một cách thường xuyên, cần có những quy định rõ ràng, cụ thể, có cơ chế thực hiện. Thông qua nhiều hình thức khác nhau, nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình. Chẳng hạn thông qua Ban Thanh tra nhân dân (Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước) nhân dân giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước…

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát đồng thời xuất phát từ những yêu cầu, đỏi hỏi trong thực tiễn để đưa ra những giải pháp hiệu quả trong kiểm tra, giám sát sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đưa sự nghiệp đổi mới của chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Trung Lập


 Thể hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam qua Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Các thế lực thù địch lợi dụng chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc vừa qua, trên trang “Quyenduocbiet. com” có bài viết: “Chuyến công du thảm hại” của Nguyên Anh, không những đã phủ nhận kết quả chuyến thăm, mà sâu xa hơn, còn thể hiện sự suy diễn cá nhân của Y, cố tình hạ thấp sự phát triển lớn mạnh, vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Nội dung trong bài viết, chứa đựng những lời lẽ miệt thị, chế giễu hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, kích động mâu thuẫn quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với Trung Quốc, nên cần đấu tranh bác bỏ và khẳng định vấn đề sau:

Một là, ngoại giao hữu nghị, củng cố niềm tin chính trị là mục đích chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc. Việc phía Trung Quốc, đón tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm ngay sau thành công của Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của quan hệ giữa hai Đảng, hai nước. Đây là hoạt động đối ngoại chính thức trực tiếp đầu tiên giữa lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát, có ý nghĩa tăng cường truyền thống hữu nghị giữa hai Đảng, hai nước, cũng như thúc đẩy quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện trước yêu cầu mới của thực tiễn. Trong thời gian ở Trung Quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã tăng cường trao đổi chiến lược, thông báo cho nhau về những thành quả trong phát triển sự nghiệp của mỗi Đảng, mỗi nước; khẳng định ủng hộ nhau vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu phát triển mà hai Đảng đã xác định.

Hai là, ngoại giao tăng cường sự đoàn kết, thúc đẩy hợp tác, khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam. Kết quả chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được dư luận, báo chí hai nước và quốc tế phản ánh, đánh giá cao. Hãng thông tấn Riafan của Nga đã đăng tải bài viết của nhà khoa học chính trị, lịch sử – Anton Bredikhin, Tổng biên tập Tạp chí Khoa học Arkhont, đã khẳng định: trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Trung Quốc góp phần tích cực vào việc tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị truyền thống giữa hai nước. Trên Báo Độc Lập, chuyên gia Grigory Trofimchuk – nhà phân tích chính trị quốc tế đã nêu bật ý nghĩa chuyến thăm và cho rằng quan hệ tích cực giữa hai đảng là điều kiện thuận lợi cho hợp tác hiệu quả giữa hai nước. Các hãng tin lớn của nước Anh, nước Mỹ cũng đăng tải nhiều tin tức, kết quả, ý nghĩa của chuyến thăm. Theo các hãng tin này, Trung Quốc đã dành sự đón tiếp trọng thị đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thể hiện sự coi trọng mối quan hệ giữa hai bên; Việt Nam và Trung Quốc là hai đối tác truyền thống lâu đời và hai bên mong muốn duy trì mối quan hệ này vì lợi ích phát triển của nhân dân hai nước. Tại Trung Quốc, theo Tân Hoa xã, Báo “Bắc Kinh buổi tối”, Nhân Dân nhật báo, Đài CTTV đều cho rằng chuyến thăm đã củng cố truyền thống hữu nghị, tăng cường trao đổi chiến lược, thúc đẩy tin cậy chính trị, kiểm soát thỏa đáng bất đồng, đưa quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt tiến lên một giai đoạn mới. Thực tiễn trên, đã bác bỏ luận điệu chụp mũ và bôi nhọ của Nguyên Anh, khi Y cho rằng ý nghĩa của chuyến thăm là “đi chầu TQ như một quốc gia chư hầu”; “một tương lai lệ thuộc hoàn toàn vào Tàu cộng” trong bài viết của Y.

Ba là, ngoại giao là một phương thức giữ gìn độc lập, tự chủ của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Kế thừa truyền thống đấu tranh bảo vệ độc lập, quyền tự chủ vận mệnh của mình, ngay từ khi thành lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Việt Nam đã là một nước độc lập, tự chủ và quyết đem tính mạng, của cải đề giữ vững sự độc lập đó. Thấm nhuần điều này, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn cụ thể hóa bằng đường lối, chủ trương lãnh đạo đất nước, trong đó có đường lối đối ngoại – một phương thức giữ gìn độc lập, tự chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu hoạt động đối ngoại nhằm bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi với phương châm độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Điều này, khẳng định những lý do, căn cứ mà Nguyên Anh đưa ra về chính trị, quân sự, kinh tế để chứng minh “ước mơ”, “động cơ” “sáp nhập Việt Nam” “trở thành một khu đặc khu tự trị trực thuộc Trung Quốc” trong bài viết của Y là những luận điệu bôi nhọ, chống phá, trơ trẽn và lạc lõng.

Tóm lại, chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thành công tốt đẹp, góp phần tích cực trong việc phát huy tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống Việt Nam – Trung Quốc; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước trong tình hình mới; thúc đẩy hòa bình, ổn định, phát triển thịnh vượng của khu vực và thế giới. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước những luận điểm suy diễn, xuyên tạc và lợi dụng chuyến thăm để hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam và tích cực đấu tranh với những bài viết kích động mâu thuẫn trong quan hệ ngoại giao Việt – Trung mà Nguyên Anh và những kẻ như Y đã, đang rêu rao, đăng tải./

Bàn luận


 NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ...”

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, đó là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...”

Theo Ban Chấp hành Trung ương, nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm trên là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân.

Đúng như Ban Chấp hành Trung ương đánh giá, trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII việc nhận diện mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại các địa phương, cơ quan, đơn vị còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là tình trạng vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn khi phân tích, nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ chỗ đánh giá chưa đúng, nhận diện chưa đầy đủ nên chưa xác định rõ quyết tâm và thiếu các biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém.

Nguyên tắc khách quan đặt ra yêu cầu khi đánh giá, phân tích sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải phản ánh trung thực với tất cả những bản chất vốn có của nó. Chúng ta tuyệt đối không được lấy ý muốn chủ quan để áp đặt, gán ghép cho sự vật, hiện tượng cái mà nó không có. Mọi biểu hiện tô hồng hoặc bôi đen sự vật, hiện tượng đều là vi phạm nguyên tắc khách quan.

LHS


 Những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc thành quả cách mạng của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta.

Thứnhất, chúng đã phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Chúng rêu rao “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Chúng còn cho rằng, những thắng lợi mà Việt Nam giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rồi “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”. Một số lại xuyên tạc: Cách mạng Tháng Tám “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ” (!), v.v..

          Thứ hai, chúng phủ nhận những thành tựu vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Chúng cho rằng: Cuộc chiến tranh Việt Nam (cách gọi của chúng về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta) là “cuộc chiến in đậm dấu ấn dân tộc”, “cuộc nội chiến giữa một bên là chính quyền Sài Gòn, được Mỹ và một số nước phương Tây hậu thuẫn và một bên là chính quyền Hà Nội, được Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ” v.v..Chúng cho rằng: “Trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là để giải phóng chứ không phải để cai trị; hay chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản”. Từ đó, chúng đi đến kết luận rằng: “Cuộc chiến tranh Việt Nam thực chất là không cần thiết và hoàn toàn có thể tránh khỏi”.Chúng còn cho rằng: “Cuộc chiến tranh (Việt Nam) mang tính chất ủy nhiệm, cuộc chiến tranh mang tính ý thức hệ”; “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của nước nhà thì quý biết nhường nào?”; v.v.

LHS


 Những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc thành quả cách mạng của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta.

Thứnhất, chúng đã phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Chúng rêu rao “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Chúng còn cho rằng, những thắng lợi mà Việt Nam giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rồi “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”. Một số lại xuyên tạc: Cách mạng Tháng Tám “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ” (!), v.v..

          Thứ hai, chúng phủ nhận những thành tựu vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Chúng cho rằng: Cuộc chiến tranh Việt Nam (cách gọi của chúng về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta) là “cuộc chiến in đậm dấu ấn dân tộc”, “cuộc nội chiến giữa một bên là chính quyền Sài Gòn, được Mỹ và một số nước phương Tây hậu thuẫn và một bên là chính quyền Hà Nội, được Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ” v.v..Chúng cho rằng: “Trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là để giải phóng chứ không phải để cai trị; hay chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản”. Từ đó, chúng đi đến kết luận rằng: “Cuộc chiến tranh Việt Nam thực chất là không cần thiết và hoàn toàn có thể tránh khỏi”.Chúng còn cho rằng: “Cuộc chiến tranh (Việt Nam) mang tính chất ủy nhiệm, cuộc chiến tranh mang tính ý thức hệ”; “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của nước nhà thì quý biết nhường nào?”; v.v.

LHS


 

Luận thuyết phản động của các thế lực thù địch

về Cách mạng Tháng Mười Nga

 

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công là một sự kiện nổi bật của thế kỷ XX, mang ý nghĩa thời đại sâu sắc, phù hợp với quy luật vận động và phát triển khách quan của lịch sử xã hội loài người. Tính tất yếu lịch sử của Cách mạng Tháng Mười là không thể phủ nhận và ngày càng được khẳng định sinh động trong đời sống nhân loại. Thế nhưng, các thế lực thù địch dưới mọi hình thức ra sức công kích, xuyên tạc bằng luận thuyết: Cách mạng Tháng Mười là “một sai lầm của lịch sử” với cách lý giải cả trên phương diện nguyên nhân bùng nổ, diễn trình của cách mạng cũng như sản phẩm mà cuộc cách mạng đã sinh ra và sự tồn tại, phát triển của chế độ xã hội mới trong hơn 100 năm qua.

Những luận điệu: Cách mạng Tháng Mười là “một cuộc bạo động phản dân chủ”, một “cuộc đảo chính”, “tiếm quyền” lãnh đạo từ giai cấp tư sản, là một sự “đẻ non”; thiết lập nhà nước công - nông là “đi chệch” quy luật phát triển của lịch sử; chủ nghĩa xã hội - sản phẩm của cách mạng chỉ là một “quái thai của lịch sử”,... là sự cụ thể hóa luận thuyết trên, được họ tung lên các phương tiện thông tin, truyền thông trên khắp thế giới. Sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ của Đảng Cộng sản cầm quyền, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, các thế lực thù địch càng đẩy mạnh công kích, xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Mười, ra sức tuyên truyền về cái gọi là “hồi kết thúc”, sự “cáo chung” của chủ nghĩa xã hội, sự “lạc hậu, lỗi thời” của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Song, thực tiễn đã minh chứng: Cách mạng Tháng Mười Nga là sản phẩm tất yếu của những mâu thuẫn thời đại đầu thế kỷ XX; là kết quả hợp quy luật của sự phát triển tư tưởng và thực tiễn trong lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quần chúng công nông, những người lao động từ thân phận nô lệ vươn lên làm chủ, đứng ra cai quản, tổ chức xây dựng chế độ xã hội mới.

Tuy còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng nó chứng tỏ chủ nghĩa xã hội là hiện thực, đã và đang đổi mới, được xây dựng, phát triển trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện mới ở từng quốc gia dân tộc. Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra là mục tiêu hiện thực, đã và đang diễn ra trên thế giới và ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội vẫn là tương lai của nhân loại. Cách mạng Việt Nam dư­ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn chín thập kỷ qua, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý  nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay5. Đó là một hiện thực sinh động khẳng định những giá trị, tính hợp quy luật và sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Cách mạng Tháng Mười đã mở ra là đúng đắn, phù hợp với quy luật của lịch sử, không phải là “viển vông”, “phi thực tế”, không phải là “sai lầm của lịch sử” như sự bịa đặt, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Luận thuyết Cách mạng Tháng Mười Nga là “một sai lầm của lịch sử” mà các thế lực thù địch cố tình dựng lên là phản động, phản khoa học, phi lịch sử, nhất định bị phá sản bởi chính giá trị, sức sống trường tồn của Cách mạng Tháng Mười và sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới.

THN

Bác bỏ mọi hành động phá hoại, xuyên tạc

về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, cùng một số tổ chức thiếu thiện chí ở nước ngoài rất ưa thích để chống phá Việt Nam là vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”.  Với tư cách là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, các thế lực thù địch, dựa vào các thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo và tình hình nhân quyền do một số phần tử phản động ở trong nước, một số tổ chức phi chính phủ không thiện chí với Việt Nam, cũng đẩy mạnh các chiến dịch đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay các tiêu chuẩn về tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước,… theo tiêu chí của Mỹ và phương Tây; gắn “dân chủ”, “nhân quyền” với các vấn đề hợp tác phát triển.

Một số tổ chức phi chính phủ thù địch người Việt Nam và nước ngoài có quy chế quan sát viên tại Hội đồng Kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) cũng lợi dụng diễn đàn của Hội đồng Nhân quyền để vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người; tổ chức trao giải cho các đối tượng chống đối  để tạo dựng “ngọn cờ” chống phá Việt Nam. Một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi cái gọi là “thư ngỏ” tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Tuy nhiên, bất chấp mọi sự vu cáo, xuyên tạc, ngăn cản của các tổ chức và cá nhân nói trên, tình hình nhân quyền tại Việt Nam được thế giới nhìn nhận ngày một khách quan hơn. Bởi thế, trong cuộc bỏ phiếu ngày 11/10/2022 tại trụ sở Liên hợp quốc, trong bối cảnh cạnh tranh giữa các ứng viên rất quyết liệt, Đại hội đồng Liên hợp quốc vẫn đặt niềm tin và lựa chọn Việt Nam cùng 13 quốc gia khác làm thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025. Với gần 80% tổng số phiếu bầu, Việt Nam đứng vào nhóm nước trúng cử với số phiếu cao nhất.

Những thành tựu nói trên đã khẳng định rằng, 145/189 thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 không phải là ngẫu nhiên, mà được thẩm định chắc chắn bởi những cố gắng và nỗ lực không mệt mỏi của Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong thời gian qua trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người. Lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là cơ hội lớn để Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực vào những nỗ lực chung của Liên hợp quốc, cũng như của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ và thúc đẩy những giá trị phổ quát về quyền con người, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội. Chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng chắc chắn rằng: Việt Nam sẽ thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của mình trong Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

                                                                                                                                    THN 

 

LỊCH SỬ NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11

Trung Lập

Lịch sử của ngày nhà giáo Việt Nam bắt đầu từ một tổ chức quốc tế của các nhà giáo dục tiến bộ thành lập ở Pari (Pháp) vào hồi tháng 7 năm 1946 có tên là F.I.S.E (Fédertion International Syndicale des Enseignants - Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục). Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Công đoàn giáo dục Việt Nam đã mở rộng quan hệ với FISE để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, tố cáo tội ác của bọn xâm lược đối với nhân dân ta nói chung và với các thầy cô giáo, học sinh nói riêng. Vào mùa xuân năm 1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn dự Hội nghị quan trọng kết nạp Công đoàn Giáo dục của một số nước vào tổ chức FISE tại Viên (Thủ đô nước Áo), trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam. Như vậy, chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập, Công đoàn giáo dục Việt Nam đã được kết nạp là một thành viên của FISE. Từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 8 năm 1975 tại thủ đô Warszawa (Ba Lan) đã diễn ra một buổi hội nghị FISE với 57 quốc gia tham dự, trong đó có Giáo dục Công đoàn Việt Nam và quyết định lấy ngày 20/11/1958 là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”. Ngày này, lần đầu tiên được tổ chức tại khu vực phía bắc của nước ta vào năm 1958. Nhiều năm sau ngày này cũng được tổ chức tại các vùng giải phóng ở miền Nam. Vào ngày 28/9/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20/11 hằng năm là ngày lễ mang tên "Ngày nhà giáo Việt Nam". Ngày 20/11 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Giáo dục Việt Nam và gắn liền với phong tục tập quán của nước ta.

Ý nghĩa ngày nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11, vào ngày 20/11, từ lâu đã được xem là một ngày lễ "tôn sư trọng đạo" để tôn vinh các nhà giáo, người đã đứng trên bục giảng hằng ngày truyền đạt những tri thức qúy báu và cách sống trở thành người có ích cho xã hội cho những thế hệ học trò. Đây cũng là dịp để thế hệ học sinh tỏ lòng biết ơn, tri ân của mình tới những "người đưa đò thầm lặng" trên bến sông cuộc đời. Trong ngày 20/11, phụ huynh và học sinh cũng thường chuẩn bị những bó hoa tươi, những tấm thiệp đẹp ghi những lời chúc ý nghĩa và những món quà bất ngờ để tri ân các thầy cô, những người đã luôn tận tình truyền đạt kiến thức, dìu dắt mình lớn lên. Bên cạnh đó, ngày này cũng là dịp để ngành giáo dục đánh giá lại hoạt động giáo dục, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong việc giảng dạy và lập phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục. Như trở thành thông lệ, vào ngày 20/11 tất cả các trường trong cả nước lại nô nức với các hoạt động do những học sinh trong trường thực hiện như: Thi văn nghệ, lễ mít-tinh chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam, dựng trại, thi cắm hoa... và nhiều hoạt động có ý nghĩa khác./.

 

 

 

GIÁ TRỊ CÁCH MẠNG THÁNG 10 NGA

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Trung Lập

Cách đây 105 năm, ngày 7/11/1917, Cách mạng tháng 10 Nga (CMT10) nổ ra và giành thắng lợi. Hơn một thế kỷ trôi qua với bao biến cố thăng trầm nhưng giá trị lịch sử và thời đại của CMT10 vẫn vẹn nguyên, có ý nghĩa sâu sắc trong tiến trình phát triển của nhân loại tiến bộ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích Nga, đứng đầu là Lê-nin, liên minh giai cấp công nông và nhân dân lao động Nga đã tiến hành cuộc CMT10 thành công, chặt đứt mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền chủ nghĩa đế quốc, mở đầu cho thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. CMT10 Nga đã đưa CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, soi đường cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột trong đó có Việt Nam, vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đánh giá về tầm vóc sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, CMT10 chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Sau CMT10, Đảng Bôn-sê-vích Nga vừa lãnh đạo nhân dân kiên cường đấu tranh chống lại các thế lực tư sản, phản động, bảo vệ thành quả cách mạng, vừa tập trung củng cố chính quyền, xây dựng nhà nước XHCN, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. Hơn 70 năm xây dựng và phát triển, Liên Xô đã giành được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, lần lượt đánh thắng liên minh đế quốc trong chiến tranh thế giới thứ nhất, các thế lực phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, trở thành đầu tàu góp phần hình thành và dẫn dắt hệ thống các nước XHCN trên toàn thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

CMT10 thành công là minh chứng cho sức sống mãnh liệt, tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác - Lê nin. CMT10 và công cuộc xây dựng XHCN ở Liên Xô, Đông Âu và nhiều nước khác đã vạch ra những vấn đề có tính quy luật, để lại nhiều bài học lý luận và thực tiễn về con đường đi lên CNXH. Đó là về xây dựng khối liên minh công nông và nhân dân lao động; về sử dụng bạo lực cách mạng, lựa chọn thời cơ giành chính quyền; về xây dựng và giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân; kết hợp xây dựng với bảo vệ tổ quốc, độc lập dân tộc với CNXH…

Tuy nhiên, sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, CNXH hiện thực lâm vào khủng hoảng, thoái trào, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội xét lại ra sức công kích, phủ nhận, xuyên tạc ý nghĩa của CMT10. Chúng cho rằng CMT10 là “sự đẻ non”, “một sai lầm lịch sử”, “một cuộc phiêu lưu chính trị”, “đi chệch con đường phát triển của nhân loại”. Chúng hí hửng rằng “con đường mà CMT10 mở ra đã đi vào ngõ cụt”, “CNXH đến hồi kết thúc”, từ đó quy kết học thuyết Mác - Lê nin “lỗi thời và lạc hậu”, “soi rọi đến đâu lụi tàn đến đó”... Thậm chí trong đội ngũ những người cộng sản cũng có tư tưởng bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, ngộ nhận CNTB đã thay đổi bản chất để trở thành xã hội của tương lai.

Trước những luận điệu chống phá và nhận thức lệch lạc trên, chúng ta một lần nữa phải khẳng định lại rằng: CMT10 nổ ra và giành thắng lợi là tất yếu lịch sử và mang giá trị thời đại. Đó là cuộc cách mạng triệt để, nhân văn. Hơn một thế kỷ trôi qua, thế giới với muôn vàn biến động, nhưng không ai phủ nhận được tầm vóc vĩ đại của CMT10. Đối với Việt Nam, CMT10 là ánh sáng soi đường cho nhân dân ta giành độc lập dân tộc, vững bước tiến lên theo con đường XHCN. Hơn 90 năm qua, Đảng ta vẫn luôn kiên trì, kiên định con đường này và luôn quán triệt, vận dụng sáng tạo bài học CMT10 vào công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH ở Việt Nam càng khẳng định giá trị trường tồn của CMT10, của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta thừa nhận, sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là tổn thất lớn cho phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Sự sụp đổ đó không phải do học thuyết Mác-Lênin lỗi thời mà căn nguyên là do những sai lầm nghiêm trọng của các đảng cầm quyền, cùng với đó là sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, sự phản bội, xét lại của một số người cộng sản. Từ biến cố này, bài học đầu tiên và chủ yếu cho chúng ta là sự lãnh đạo của đảng, xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt, là vấn đề sống còn của chế độ. Xem nhẹ công tác xây dựng đảng, không tuân thủ nguyên tắc tổ chức hoạt động của đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình… sẽ làm cho đảng không còn là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, tất yếu dẫn đến thất bại.

Chúng ta cũng tuyệt đối không được mơ hồ, ảo tưởng CNTB đã thay đổi bản chất, xã hội tư bản cái gì cũng tốt đẹp. Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “CNTB chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ... Tuy nhiên, CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta cũng khẳng định: “CNTB còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công… Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”.

Lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn có những bước quanh co, phức tạp. Không thể vì sự sụp đổ của một mô hình CNXH cụ thể mà phủ nhận ý nghĩa của CMT10, xuyên tạc cả một hệ thống lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

 

 

CHUYẾN THĂM CHÍNH THỨC TRUNG QUỐC

CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG KHẲNG ĐỊNH

ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG

Hoa Súng

Chuyến thăm chính thức Trung Quốc là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ sau Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là lãnh đạo cao nhất nước ngoài đầu tiên mà Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình mời, đón tiếp ngay sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc - sự kiện chính trị trọng đại hàng đầu của Đảng và nhân dân Trung Quốc. Điều này thể hiện sự coi trọng lẫn nhau giữa hai Đảng, hai nước, nhất là sự trân trọng của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc và cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đối với Tổng Bí thư Đảng ta, thông qua việc thu xếp đón Tổng Bí thư Đảng ta với nghi thức ngoại giao cao nhất và có nhiều thu xếp đặc biệt.

Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, hội kiến với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến và đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng về quan hệ hai Đảng, hai nước Việt - Trung và tình hình quốc tế, khu vực hiện nay. Chuyến thăm góp phần thể hiện Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn coi trọng, ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, vì lợi ích căn bản, lâu dài của nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển của thế giới và khu vực.

 Hai bên đi sâu trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển; thống nhất kiểm soát thỏa đáng bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông vô cùng quan trọng; nhất trí xử lý ổn thỏa vấn đề trên biển, đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh lâu dài ở khu vực. Trong chuyến thăm, hai bên ký kết Thỏa thuận hợp tác quan trọng trên nhiều lĩnh vực.

Theo Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thành công tốt đẹp, góp phần tích cực trong việc phát huy tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống Việt Nam - Trung Quốc, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc trong thời đại mới, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực và thế giới. Hai Đảng và nhân dân hai nước rất vui mừng về những thành quả này.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, các bộ, ngành, địa phương của hai bên đã ký kết 13 văn kiện và thỏa thuận hợp tác quan trọng trên nhiều lĩnh vực, cụ thể hóa kết quả chuyến thăm. Đây là cơ sở và tiền đề để các bộ, ngành, địa phương hai nước triển khai hợp tác một cách hiệu quả trong những năm tiếp theo, góp phần đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Kết quả chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được dư luận, báo chí hai nước và quốc tế phản ánh đậm nét, đánh giá cao. Trước, trong và sau chuyến thăm, truyền thông Trung Quốc đã dành sự trang trọng nhất để đưa tin đậm nét về chuyến thăm. Những tờ báo lớn nhất như Nhân Dân nhật báo, Đài CTTV... khẳng định, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc được nâng lên một tầm cao mới sau chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, qua đó tăng cường sự tin cậy lẫn nhau về chính trị, kiểm soát những khác biệt nhằm đưa quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược lên một tầm cao mới. Tờ Nikkei của Nhật Bản cho rằng chuyến thăm là một sự kiện ngoại giao đáng chú ý, khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam, coi trọng mối quan hệ với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, cùng nhau trao đổi, hợp tác để củng cố hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Các hãng tin lớn như Reuters của Anh cũng đăng tải nhiều tin tức, kết quả, ý nghĩa của chuyến thăm. Theo hãng tin này, Trung Quốc đã dành sự đón tiếp trọng thị đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thể hiện sự coi trọng mối quan hệ giữa hai bên; Việt Nam và Trung Quốc là hai đối tác truyền thống lâu đời và hai bên mong muốn duy trì mối quan hệ này vì lợi ích phát triển của nhân dân hai nước, đặc biệt là củng cố duy trì sự ổn định, cân bằng hệ thống cung ứng và đầu tư trong một môi trường quốc tế phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Hay như tờ Diplomat của Mỹ nhấn mạnh những trọng tâm của chuyến thăm, thể hiện quan điểm nhất quán trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Bài báo cho biết, chuyến thăm không chỉ là minh chứng cho mối quan hệ láng giềng lâu đời giữa hai nước, khẳng định tăng cường sự tin cậy, thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ổn định và phát triển hơn...

Chuyến thăm là sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng: “Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mục tiêu hoạt động đối ngoại nhằm “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Phương châm trong đối ngoại là: “Độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế (Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng). 

Mục đích, ý nghĩa, kết quả chuyến thăm được thể hiện rõ nét và được truyền thông quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Sự thật đó là minh chứng khách quan, sinh động phản bác những luận điệu bôi nhọ, chống phá, những hành động trơ trẽn và lạc lõng của các thế lực xấu./.