Thứ Hai, 25 tháng 12, 2017

NHẬN THỨC LỊCH SỬ CHO ĐÚNG
Đức Bách
50 năm trước, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho ý chí xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ lung lay một bước nghiêm trọng. Thắng lợi đó đã tạo ra một bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.
Ngày nay vẫn không ít người nhận thức về chiến thắng vĩ đại này theo một cách ngây thơ, ngộ nhận rằng: “Ta thất bại về quân sự, nhưng thắng lợi về chính trịhoặc  “Mỹ - ngụy thắng về quân sự nhưng thất bại về tâm lý, đi đến thất bại về chính trị”.Thậm chí có người còn tin theo luận điệu chống chế và đổ thừa của những người Mỹ chủ chiến rằng: ta thắng lợi tại Oa-sinh-tơn ch không phải tại chiến trường. Ý cho rằng: vì nội bộ Mỹ lủng củng, tâm lý hoang mang, hoảng hốt, nên Oa-sinh-tơn quyết định rút khỏi cuộc chiến ch ta làm gì thng nổi Mỹ vì Mỹ giàu và mạnh lắm.
Đúng là tư tưởng vọng ngoại mù quáng. Không lẽ lại đi giải thích rằng anh bị địch nghiền nát trên chiến trường, bị địch đánh cho tht bại tơi bời và rồi tự nhiên anh có thắng lợi v tâm lý và chính trị, địch - tên đế quốc đầu sỏ - chỉ vì hoang mang và chia rẽ nội bộ nên mới có nhã ý để cho anh thắng lợi vinh quang. Không có thứ thắng lợi chính trị dễ dàng nào tự trên trời rơi xung hay kẻ địch cho anh mà không đ bao xương máu chiến trường trong một cuộc chiến tranh lớn như vậy.
Đúng đêm giao thừa và đêm mồng 1 Tết Mậu Thân (30 và 31-01-1968), Đùng một cái, chỉ trong 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, tất cả thành phố, tỉnh lỵ, trước Tết Mậu Thân hầu như đứng ngoài cuộc chiến, đều bị tiến công đồng loạt, các mục tiêu quan trọng nhất từ Bộ Tổng tham mưu đến Biệt khu thủ đô, từ dinh Tổng thống ngụy đến toà Đại sứ Mỹ đều bị tiến công ác liệt. Ngày 3 tháng 2, Thông tấn xã Pháp (AFP) đưa tin: "Đây chắc chắn là chiến trường rộng lớn nhất trong các cuộc chiến tranh. Toàn bộ nưc Việt Nam đều bốc lửa từ Khe Sanh đến Cà Mau". Cái thế của đôi bên trong chiến tranh đảo ngược: bỗng chốc hậu phương thành tiền tuyến và tiền tuyến hoá hậu phương. Các đơn vị thiện chiến được tung đi xa đến tận "xứ s của địch" để "tìm và diệt", thình lình nhận được lệnh cấp tốc chạy về "xứ sở của mình" để cứu nguy cho các cơ quan đầu não, c ngăn chặn và phản kích rồi từ đó c "quét và giữ" cho đến khi rút lui khỏi cuộc chiến. Ta đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn; đánh vào hầu hết cơ quan đầu não trung ương, địa phương cả Mỹ lẫn ngụy, bao gồm cả 4 bộ tư lệnh quân khu – quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu ngụy, 2 bộ tư lệnh dã chiến, 30 sân bay…(đưa chiến tranh vào tận thủ đô, sào huyệt của Mỹ, ngụy)…Trong đó, một số trận đánh gây chấn động lớn như tiến công Toà Đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh ở Sài Gòn và 26 ngày đêm làm chủ thành phố Huế. Ở mặt trận đường số 9 – Khe Sanh ta đánh cho các đơn vị thiện chiến nhất của quân đội Mỹ với gần 7000 tên hoang mang đến độ “sống không bằng chết”, Báo Anh “Tin hàng ngày”, ra ngày 11-2-1968 viết: “Quân đội Mỹ đã bị xơi no đòn kinh hoàng và mất hết tinh thần, luôn lo ngại rằng đối phương có thể đánh bất kỳ lúc nào”. Một trung sĩ nói: “Ôi Thượng đế! Chúng con còn phải chịu đựng tình trạng này bao lâu nữa”. Sau này còn có nhiều lính Mỹ đã phải thốt nên rằng:  “Sống ở Khe Sanh khác gì kẻ bị kết án ngồi trên ghế điện”. AFP đưa tin nhận xét: "Sức mạnh Huê Kỳ đã mất uy thế. Đội quân mạnh nhất thế giới đã bị đẩy về thế phòng ngự trên toàn bộ lãnh thổ…”. Chỉ riêng trong tháng 2 và tháng 3 năm 1968, theo tài liệu của Mỹ ( tuy còn xa sự thật), quân Mỹ đã bị thương vong 24.013 ngưi và mất 552 máy bay các loại, chưa kể các kho tàng và phương tiện bi hủy diệt. Còn quân ngụy thì theo báo cáo của Oét-mo-len: "Lực lượng Nam Việt Nam đã suy yếu do bị thương vong và nạn đào ngũ xảy ra trong dịp Tết...".  Lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ có nguy cơ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh (Tư lệnh Oétmolen bị cách chức, Bộ trưởng Mắc – ra – ma - ra từ chức, Tổng thống Giôn - xơn tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc, nhận đàm phán với ta tại hội nghị Pari. Không ra tranh cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai nữa). Đây là sự thừa nhận đầu tiên, đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ”, chiến lược chiến tranh quan trong nhất, chuẩn bị công phu nhất và được đánh giá cao nhất trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ.
Với những sự kiện lịch sử diễn ra như vậy, mỗi người chúng ta thử suy nghĩ xem: Đối với bọn trùm xâm lược Mỹ - những kẻ đầy mưu mô xảo quyệt có phải chỉ do tác động tâm lý, do sức ép chính trị hay do phút hoang mang bối ri mà thay đổi từ leo thang thành xuống thang chiến tranh, chấm dứt chiến tranh không quân miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại hội nghị Pari hay không?
Việc thay đổi chiến lược chiến tranh miền Nam Việt Nam, hạn chế chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, thoả thuận đàm phán hoà bình đã được quyết định trong tháng 3 năm 1968, nghĩa là sau đợt 1 Tết Mậu Thân. Nhưng rõ ràng phải trải qua một thời gian chiến đấu ác liệt trên chiến trường, qua đợt 2 đánh vào Sài Gòn và đợt 3 đánh vùng nông thôn, đến tháng 11, Mỹ mới phải tuyên b chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh bằng không quân miền Bắc và chịu nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng là một thành phần hoà đàm tại Pa-ri. Điều này dễ hiểu thôi. Trong chiến tranh - đặc biệt là cuộc chiến tranh lớn như Việt Nam vừa qua - kết quả chiến đấu chiến trường là nhân t chủ yếu quyết định diễn biến của chính trị và ngoại giao. Thắng lợi đạt được tại chiến trường ở mức độ nào sẽ gặt hái về chính trị mức độ đó. Không bao giờ lại có chuyện bại trên chiến trường mà thắng về chính trị, hay tài ngoại giao hoà bình lại tách rời máu xương đổ trên chiến địa. Cuối năm 1968 đầu năm 1969, cuộc hoà đàm ở Pa-ri bắt đầu nhưng suốt trong năm 1969-1970, địch tưởng có thể thắng thế trên chiến trường nên kéo dài và muốn đi đến hủy bỏ cuộc đàm phán. Chỉ đến khi cục diện trên chiến trường có lợi cho ta vào năm 1971 và Mỹ - ngụy bị thua đau trong năm 1972 ở miền Nam và trong trận "Điện Biên Phủ trên không” Hà Nội - Hải Phòng, chúng mi phải ký kết Hiệp định Pa-ri. Ký hiệp định ngừng bắn rồi để đi đến lập Chính phủ liên hiệp 3 thành phần nhưng chúng vẫn ngoan cố tưởng "Việt Nam hoá chiến tranh" thành công nên lại tiếp tục chiến tranh, định xoá bỏ hiệp định đ Thiu đc quyn, cai trị miền Nam dưới sự đô hộ của Mỹ. Chỉ đến khi ta tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh, tổng công kích - tổng nổi dậy năm 1975 mi giành được toàn thắng.
Đánh giá một thời kỳ lịch sử, một sự kiện lớn như Tết Mậu Thân là một vấn đề rất quan trọng, phải căn cứ đúng vào hiệu quả cụ thể rõ ràng của nó, không thể hời hợt càng không thể vì thiên kiến mà sai lầm.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, mặc dầu không có tổng khi nghĩa, chưa giành được chính quyền về tay nhân dân, nhưng vẫn giành được thắng lợi rất to lớn đã tạo ra bước ngoặt chiến lược quan trọng nhất của cuộc chiến tranh, dẫn đến thắng lợi cuối cùng cho ta.
Nó đã làm cho địch lung lay tận gốc ý chí xâm lược, không còn mơ tìm "chiến thắng" bằng leo thang chiến tranh cao độ khi buộc phải tỉnh ngộ rằng sức mạnh và tiềm lực, tiền của của Hoa Kỳ là có hạn, không đủ sức bắt các dân tộc - dầu một dân tộc nhỏ, yếu hơn - quỳ gối đầu hàng, khi dân tộc đó có đủ ý chí độc lập, tự do.
Nó đã làm cho Mỹ phải thay đổi chiến lược chiến tranh, phải bỏ cái lối dùng cây gậy đi chinh phục mà chịu ngồi vào bàn hội nghị nói chuyện hoà bình. Không những phải nhận thương lượng với miền Bắc xã hội chủ nghĩa là một đối phương đáng gờm, đáng kính nể mà còn phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một lực lượng có thực chất của nhân dân miền Nam Việt Nam, một bên đối thoại có giá trị, một bên trong bn bên đàm phán. Phải chấm dứt hoàn toàn vô điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân để đi đến đàm phán hoà bình.
Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân là mt thắng li hết sức to lớn của ta, nó m ra một giai đoạn thắng lợi quyết định của cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt và kéo dài 30 năm của nhân dân Việt Nam anh hùng. Tuy ta có trả giá đắt, hàng vạn chiến sĩ và cán bộ ưu tú của ta đã ngã xung trên chiến trưng, hàng vạn đồng bào ta đã đổ máu của mình trên khắp đô thành và làng mạc. Nhưng thử hỏi không có sự hy sinh cao cả đúng mức thì làm gì có thắng lợi to lớn vẻ vang dường ấy. Những dòng máu anh hùng của bao liệt sĩ - chiến sĩ và nhân dân - đổ ra trong Tết Mậu Thân là hoàn toàn có giá trị, xứng đáng với tầm vóc thắng lợi, xứng đáng- với sự nhớ ơn muôn đời của con cháu mai sau. Nó có giá trị không riêng trong chiến cuộc Mậu Thân mà cho cả giai đoạn chiến lược cuối cùng của cuộc chiến, nó quyết định ngày toàn thắng 30 tháng 4. Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là cái chìa khoá của toàn thắng trong chiến tranh vậy. Lịch sử oai hùng của 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng oanh liệt của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.



CẢNH GIÁC TRƯỚC MƯU ĐỒ LỢI DỤNG “TÔN GIÁO”
ĐỂ KÍCH ĐỘNG, GÂY RỐI, PHÁ HOẠI NHÀ NƯỚC TA
                                                                                                         BẠCH HỔ
          Cùng với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “tôn giáo” để tạo sự chống phá đa diện nhằm vào Đảng và chế độ ta. Mục đích của chúng là để kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị-xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Việt Nam là nước đa tôn giáo. Mặc dù nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, phát triển của mỗi tôn giáo có khác nhau, nhưng nhìn chung bản chất của các tôn giáo luôn có tinh thần hướng thiện, bao dung, đoàn kết, gắn bó trong đại gia đình các dân tộc, tôn giáo Việt Nam. Cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc góp phần phát triển và làm rạng rỡ nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã làm tốt việc đạo, đẹp việc đời, giáo dục các tín đồ chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo và các tín đồ tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm, chính sách đúng đắn về vấn đề này và khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng, Nhà nước ta thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo đúng giáo lý, giáo luật và quy định của pháp luật Việt Nam. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật. Chính sách tôn giáo đúng đắn đó đã có tác dụng cổ vũ, động viên đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo phấn khởi, chung sức, chung lòng cùng cộng đồng, làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.
          Bằng sự quan tâm, chính sách và các quan điểm phù hợp mà Đảng, Nhà nước ta thực hiện với đồng bào tôn giáo, nhưng các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng vào vấn đề này ra sức chống phá cách mạng nước ta, được chúng sử dụng vấn đề “tôn giáo” như một vũ khí đặc biệt quan trọng để xuyên tạc, vu khống, kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị-xã hội, tiến tới chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Phương thức hoạt động chủ yếu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là kích động tâm lý mặc cảm, tư tưởng chống đối, hậu thuẫn về vật chất, tinh thần đối với những phần tử bất mãn, cực đoan, quá khích trong các tôn giáo; thúc đẩy thành lập các hội đoàn trái pháp luật trong xứ đạo để thách thức, chống phá chính quyền. Cùng với đó, chúng tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, gây hoang mang dư luận về sự đối lập hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản hoặc vu cáo, xuyên tạc “Cộng sản diệt đạo”, “Nhà nước đàn áp tôn giáo”; từ đó, kích động mâu thuẫn, tập hợp lực lượng, tổ chức biểu tình, gây rối trật tự, mất ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội trên địa bàn...
Đáng chú ý, thời gian qua, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp về vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa, … các phần tử cực đoan trong tôn giáo nói chung, công giáo nói riêng, ra sức “bới lông, tìm vết”, tổ chức các hoạt động vi phạm pháp luật Nhà nước, trái với giáo lý tôn giáo. Mới đây, trên trang mạng tiếng Việt của một hãng truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam tung lên bài viết “Ô nhiễm môi trường đe dọa ổn định ở Việt Nam”, xuyên tạc rằng: “… hầu hết người Việt Nam bất bình với Đảng Cộng sản đã cho phép một công ty nước ngoài xả độc ra biển. Nhiều người dân miền Trung đã tham gia các cuộc biểu tình đòi Formosa và Chính phủ bồi thường quyền lợi thích đáng. Kể cả nhiều người không bị ảnh hưởng vì thảm họa này cũng bày tỏ sự bất bình...” Lợi dụng vấn những đề trên, những kẻ bất đồng chính kiến, những “nhà đấu tranh dân chủ”, một số tổ chức phản động nhân cơ hội này “theo đóm ăn tàn”, “tát nước theo mưa” nhao nhao hô hào, cổ súy “thúc giục mọi người chung tay để đấu tranh với vấn đề Formosa”. Lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và được sự tiếp tay của các thế lực phản động bên ngoài, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo kêu gọi, kích động giáo dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, gây rối, tấn công người thi hành công vụ, đập phá phương tiện, cản trở hoạt động giao thông, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Khi chính quyền thực thi chức trách theo quyền hạn thì chúng vu cáo cơ quan chức năng “đàn áp, bắt giữ và đánh đập” người tham gia biểu tình; tán phát trên mạng xã hội “Thư ngỏ”, “Bản lên tiếng”, “Kháng thư”,… với nội dung vu cáo chính quyền bao che cho Formosa, “đàn áp, đánh đập” những người đi khiếu kiện đòi quyền lợi, kêu gọi người dân khởi kiện Formosa ra Tòa án hình sự quốc tế, “cùng đứng lên đuổi Formosa khỏi Việt Nam”.
Với mưu đồ chống phá đến cùng, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo đẩy mạnh tuyên truyền, kích động “con chiên ngoan đạo” rằng: “Không ngừng duy trì nhiệt huyết và tính liên tục của các cuộc tuần hành, tụ tập đông người phản đối chính quyền và yêu cầu Formosa ra khỏi Việt Nam vào chủ nhật hằng tuần. Các cuộc tuần hành cần tập trung vào một số địa điểm nhạy cảm, đông người, như: Nhà riêng các lãnh đạo địa phương, công sở, khu công nghiệp, … tại Nghệ An, Hà Tĩnh. Lấy vụ việc Formosa làm điểm nhấn để tăng cường khoét sâu mâu thuẫn giữa giáo dân nói riêng và nhân dân nói chung với chính quyền địa phương” và ủng hộ cái gọi là “cuộc chiến” hiện tại của giáo dân. Không những thế, họ còn thay đổi phương thức tụ tập sao cho bảo đảm tính thường xuyên, liên tục và sinh hoạt, hoạt động sản xuất của giáo dân. Mưu đồ của họ là “chia giáo xứ thành nhiều bộ phận theo các họ đạo, thay nhau tụ tập vào các ngày nghỉ, ngày chính quyền tổ chức cấp phát tiền đền bù, khi cần thiết mới huy động toàn xứ đạo tham gia; thay đổi quy luật, cách thức tụ tập tuần hành...
Tiếp tay cho hành động đó, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế đã công bố tài liệu tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, với những đánh giá thiếu khách quan khi cho rằng: Việt Nam chưa thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Tình trạng xâm phạm tự do tôn giáo vẫn diễn ra, nhiều nơi chính quyền địa phương và lực lượng an ninh thường xuyên sách nhiễu, phân biệt các tổ chức tôn giáo, bắt giữ những người “đấu tranh” cho tự do tín ngưỡng tôn giáo; đề nghị Chính phủ Mỹ cần sớm đưa Việt Nam trở lại danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC). Cùng với đó, các thành viên của cái gọi là “Đảng Việt Tân”, trú tại Mỹ thông qua các trang mạng tuyên truyền, xuyên tạc rằng: Đến thời điểm hiện tại (ngày 16-3-2017), Chính phủ Việt Nam “mới đền bù thiệt hại được một phần cho ngư dân, số tiền còn lại các cơ quan chức năng của Việt Nam gửi ngân hàng để chia chác kiếm lợi”; đồng thời, yêu cầu Việt Nam “đóng cửa” Công ty Formosa!... Thật nực cười! Chẳng hiểu họ lấy thông tin từ đâu, với tư cách gì mà có những nhận định và đòi hỏi hồ đồ như vậy. Phải chăng đây là hành động “vì dân, vì nước” của các nhà dân chủ, tổ chức lưu vong? Không, hoàn toàn không! Thực chất đó là những luận điệu lạc lõng, hại dân, hại nước, trò “lập lờ đánh lận con đen”, “đổ thêm dầu vào lửa” hòng đánh lừa dư luận, can thiệp vào tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhưng không che mắt được ai. Hành động của họ không vì cuộc sống của đồng bào ngư dân miền Trung mà chỉ là nhằm lợi dụng “vấn đề formosa” để kích động chống Đảng, Nhà nước và chế độ ta!
Chúng ta đều biết, đã gần một năm trôi qua, sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra là một thảm họa lớn nhất xảy ra tại Việt Nam từ trước đến nay. Để khắc phục hậu quả đó, Đảng, Chính phủ, các ban ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt bằng các giải pháp đồng bộ nhằm sớm ổn định cuộc sống và lao động của bà con ngư dân các tỉnh miền Trung. Với nỗ lực đó, đại diện Công ty Formosa đã phải công khai nhận trách nhiệm và hứa sẽ không tái phạm; đồng thời, cam kết bồi thường 500 triệu USD (tương đương hơn 11.000 tỷ đồng Việt Nam) để khắc phục sự cố nghiêm trọng này. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về mức bồi thường thiệt hại cho bà con ngư dân tại 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế bị thiệt hại vì sự cố môi trường biển, theo 7 nhóm đối tượng, gồm: Khai thác hải sản; nuôi trồng thủy sản; sản xuất muối; hoạt động kinh doanh thủy sản ven biển; dịch vụ hậu cần nghề cá; dịch vụ du lịch, thương mại ven biển; thu mua, tạm trữ thủy sản. Các địa phương trong diện được đền bù đã thành lập ban quản lý, điều hành cấp phát cho bà con theo các nhóm đối tượng; Quy chế Dân chủ ở cơ sở được phát huy; những nơi làm chưa đúng được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời. Đến nay, hầu hết những người bị thiệt hại đã được đền bù và đều hài lòng, phấn khởi trước sự quan tâm hỗ trợ thỏa đáng của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, tạo niềm tin vững chắc để họ tiếp tục yên tâm bám biển, vươn khơi đánh bắt hải sản, cải thiện cuộc sống gia đình, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thực tế là vậy, nhưng các thế lực phản động, phần tử cực đoan trong tôn giáo không những không thừa nhận, mà còn cố tình lờ đi như người không có mắt, hơn thế còn ra sức xuyên tạc, bịa đặt, “bóp méo sự thật”, “đổi trắng thay đen” về những gì đang diễn ra trên mảnh đất này. Thật nực cười, trớ trêu!
Sự chống phá quyết liệt của những kẻ cực đoan trong tôn giáo cùng sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực thù địch bên ngoài nguy hiểm ở chỗ làm cho một số người “nhẹ dạ cả tin” trong bà con giáo dân lầm tưởng rằng việc làm đó là đi theo “tiếng gọi của Chúa” mang phúc lộc cho các con chiên ngoan đạo để rồi nghe lời xúi giục kích động của họ tham gia tụ tập, biểu tình, gây rối vi phạm pháp luật.
Chúng ta hãy cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh lật tẩy những mưu đồ đen tối, những kẻ đeo mặt nạ trá hình đội lốt tôn giáo trước ánh sáng công lý và pháp luật. Đó là việc cần làm nhất thiết phải làm của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính./.

Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017

NHỮNG LUẬN ĐIỆU VU CÁO VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRƯỚC NHỮNG THÀNH TỰU TO LỚN CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
 Các thế lực thù địch càng hằn học, ra sức lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tự do tôn giáo” như một thứ vũ khí nhằm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Chúng không ngớt tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam; rằng, “các địa phương vẫn tiếp tục đàn áp nhiều người Tin lành thiểu số”, “Việt Nam hiện có nhiều người bị giam giữ vì tôn giáo”, “bị cưỡng ép bỏ đạo”… Rất tiếc, nhiều năm qua, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hằng năm vẫn đưa ra những đánh giá thiếu thận trọng, khách quan, phản ánh sai lệch về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo (TN,TG) ở Việt Nam. Họ cáo buộc một cách trắng trợn và lặp đi lặp lại luận điệu rằng: “Nhà nước Việt Nam đàn áp, tấn công giáo dân”, “ở Việt Nam không có tự do TN,TG”; họ tự cho mình cái quyền đòi xếp Việt Nam trở lại danh sách “các nước đặc biệt quan tâm về tôn giáo”, khuyến nghị Tổng thống Mỹ ban hành các sắc lệnh trừng phạt Việt Nam về kinh tế, chính trị, ngoại giao… 
Vậy nếu cứ tin theo những luận điệu tuyên truyền, cáo buộc trên đây, thì phải chăng ở Việt Nam hiện nay không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo?.
Thực tiễn cho thấy, từ trước đến nay các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề TN,TG để phục vụ cho mưu đồ xâm lược hoặc gây mất ổn định đất nước ta. Núp dưới chiêu bài “tự do tôn giáo”, các thế lực thù địch cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam về công tác tôn giáo trong gần 28 năm đổi mới đất nước; chúng tìm mọi cách gây hiềm khích, chia rẽ giữa các nhóm, hệ phái tôn giáo ở trong nước; gây mâu thuẫn giữa những người có TN,TG và không có TN,TG, giữa đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công an. Bên cạnh đó, có những quốc gia và tổ chức quốc tế còn ra sức tài trợ cho hoạt động truyền đạo trái pháp luật ở Việt Nam, nhằm gây ra các “điểm nóng” về chính trị - xã hội, tạo cớ để các thế lực phản động bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.
Tôn giáo vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc và vì dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Mọi mưu đồ xuyên tạc sự thật về tình hình tự do TN,TG ở Việt Nam để thực hiện mục đích phá hoại công cuộc đổi mới đất nước ta đều phải kiên quyết lên án, bác bỏ và chúng sẽ hoàn toàn thất bại
Đáp ứng quá trình hoàn thiện pháp chế XHCN, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (khóa XI) đã ban hành “Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” (số 21/2004/PL-UBTVQH 11), quy định rõ các quyền tự do TN,TG của công dân; quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ tôn giáo… Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản pháp luật, như: Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 01-3-2005 hướng dẫn thi hành một số điều của “Pháp lệnh TN,TG”; Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 04-02-2005 “Về một số công tác đối với đạo Tin Lành”; Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày 31-12-2008 “Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo”; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP, ngày 08-11-2012 “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh TN,TG” thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 01-3-2005 của Chính phủ. Bộ Nội vụ đã có Thông tư số 01/2013/TT-BNV, ngày 25-3-2013 “Ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và thủ tục hành chính trong lĩnh vực TN,TG”… Các bộ, ban, ngành liên quan cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện TN,TG và công tác tôn giáo, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động TN,TG của công dân.
Các tổ chức tôn giáo duy trì tốt những hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển địa bàn hoạt động các chức sắc, chức việc. Chính quyền các cấp luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo in ấn kinh sách và những ấn phẩm liên quan đến tôn giáo. Những năm gần đây, trung bình mỗi năm Nhà xuất bản Tôn giáo cấp phép xuất bản hơn một nghìn ấn phẩm liên quan đến tôn giáo, với hơn hai triệu bản in. Đặc biệt, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm hỗ trợ hoàn thành in ấn, xuất bản 30.000 cuốn Kinh thánh bằng các tiếng: Ba-na, Ê-đê, Gia-rai; xuất bản Kinh, sách Phật giáo Nam tông Khơ-me; Kinh thánh Tin lành bằng tiếng Mông hệ chữ cái La-tinh và làm thủ tục xuất bản Kinh Cô-ran song ngữ Việt Nam - Ả rập. Kinh sách của Phật giáo cũng được đưa vào kế hoạch in ấn bằng tiếng Khơ-me… Nhà nước ta còn tiếp tục triển khai nhiều chương trình, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tập trung giải quyết vấn đề an sinh xã hội, phát triển văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt TN,TG của mọi công dân. Từ những thành tựu quan trọng về thực hiện quyền tự do TN,TG của công dân, chúng ta có thể tự hào khẳng định: Ở Việt Nam, các hoạt động thuần TN,TG ngày càng ổn định theo đúng hiến chương, điều lệ tổ chức, bảo đảm tuân thủ pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chính quyền các cấp luôn tạo điều kiện cho đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, thực hiện đúng phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và CNXH”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “nước vinh, đạo sáng”, với tấm lòng “kính chúa, yêu nước”; vừa hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của “con Lạc, cháu Hồng” đối với Tổ quốc, vừa làm tròn bổn phận của tín đồ đối với tôn giáo; đồng thời, hăng hái lao động sản xuất, tham gia các hoạt động xã hội, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bức tranh về thành tựu tự do TN,TG ở Việt Nam hiện nay là những minh chứng sống động, đầy sức thuyết phục, được đồng bào các dân tộc ở trong nước thừa nhận, được dư luận thế giới ca ngợi. Ngay Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb - Chủ tịch Tiểu ban Đông Á - châu Á - Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, trong buổi gặp gỡ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã thừa nhận: Cho dù vẫn còn những quan điểm cá nhân về một vài vụ việc cụ thể liên quan đến tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận những tiến bộ về tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhất là từ năm 1991 đến nay. Đó là những cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh, bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và những thành tựu về TN,TG ở nước ta trong công cuộc đổi mới. Đồng thời, là cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm vô hiệu hóa các “đạo lạ”, “tạp giáo”, “tà giáo”; lợi dụng tự do TN,TG để vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

                                                Trung Lập





ĐẨY MẠNH TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH, BIỆN PHÁP QUAN TRỌNG ĐẨY LÙI SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRI, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG HIỆN NAY         

Tổ chức cơ sở đảng hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, là nền tảng của Đảng, là cầu nối liền gắn bó Đảng với quần chúng, là những tế bào lập nên nền tảng của Đảng, nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên của Đảng, nơi tạo nguồn phát triển đảng, trực tiếp kiểm tra, sàng lọc đảng viên cho Đảng, nơi kiểm nghiệm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp cho đến Ban Chấp hành Trung ương…có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi vì, Đảng vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình hay không là phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cần phải ra sức củng cố các chi bộ, để tất cả các chi bộ trở nên thật sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi”[1]. Vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của Đảng được thể hiện trực tiếp bằng hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên ở cơ sở. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh luôn là khâu quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Do đó, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Kiện toàn tổ chức,nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên”[2]. Trong những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững…niềm tin của của nhân dân với Đảng được củng cố…Tuy nhiên, “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, có nơi mất sức chiến đấu, công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên ở một số nơi chưa được quan tâm thường xuyên, chất lượng sinh hoạt đảng, tính chiến đấu trong tự phê bình, phê bình còn yếu…”[3]. Ở một số tổ chức cơ sở đảng kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình còn hạn chế, tính chiến đấu chưa cao, ngại va chạm, sợ mất lòng, né tránh, hữu khuynh, có người lợi dụng chức quyền, độc đoán, gia trưởng, trù dập người phê bình hoặc lợi dụng tự phê bình và phê bình để thực hiện mục đích cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: “Trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số việc chưa đạt được mục tiêu Nghị quyết đề ra. Trong tự phê bình và phê bình tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm vẫn còn khá phổ biến, một số cán bộ, đảng viên chưa tự giác nhìn nhận đúng khuyết điểm và trách nhiệm của mình trước những hạn chế, khuyết điểm và trách nhiệm trong công việc được giao”[4]. Vì vậy, vận dụng Nghị quyết trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng hiện nay, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện tốt một số biện pháp sau: 
       Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, nhằm làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, tác dụng của tự phê bình và phê bình, trên cơ sở đó đề cao ý thức trách nhiệm, quyết tâm vượt qua mọi lực cản, chiến thắng tư tưởng trung bình chủ nghĩa, khắc phục tư tưởng đoàn kết xuôi chiều, là cơ sở để nâng cao tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình hiện nay. Bởi vì, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục đích dựa trên cơ sở nắm bắt và tuân thủ qui luật khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, tiến bộ mãi, càng gặp nhiều gian khổ, càng mạnh mẽ thêm, là nhờ có tự phê bình và phê bình”[5]. Vì vậy, cần phải tập trung tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, quán triệt và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức và hành động của mỗi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện về tư tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên hiểu rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, nắm vững mục đích, phương pháp, duy trì, thực hiện nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo sự đoàn kết thống nhất, chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện nhận thức và hành động không đúng, tập trung quan liêu, gia trưởng, độc đoán, dân chủ cực đoan. 
       Hai là, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm, vai trò tiên phong gương mẫu của cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt.Mở rộng dân chủ là tiền đề động lực thúc đẩy tự phê bình và phê bình, không có dân chủ thì không thể có tự phê bình và phê bình đúng đắn. Vì vậy, tổ chức cơ sở đảng cần phát huy dân chủ để đảng viên trực tiếp thực hiện tự phê bình và phê bình, đó vừa là nghĩa vụ, vừa là trách nhiệm của mỗi đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ của mình. Đối với các cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt phải gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình. Trong tình hình hiện nay các tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ngoài kết quả đạt được trên các lĩnh vực của đời sống xã hội là rất to lớn, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn, một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng , việc làm chống đối Đảng, Nhà nước…”[6]. Từ yếu kém đó thì hành động gương mẫu trong tự phê bình và phê bình của cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt là bài học sinh động để đảng viên học tập noi gương, đồng thời cũng là nhân tố có tính quyết định đến thắng lợi trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta: Phải nói thẳng, nói thật, nói hết để đảng viên tiến bộ, để Đảng càng vững mạnh. Người nhắc nhở cán bộ phụ trách: “Toàn thể đảng viên, trước hết là cán bộ phụ trách, phải gương mẫu tự phê bình và phê bình để tự giáo dục mình và giáo dục nhân dân, để làm tròn sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc”[7]. Sự gương mẫu của cấp uỷ viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt phải thành khẩn tự phê bình và phê bình, tự giác tiếp thu ý kiến, không thanh minh vòng vo, sau khi tiếp thu đầy đủ ý kiến phê bình, phải gương mẫu và nhanh chóng sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, xây dựng tác phong sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến xây dựng của đảng viên và quần chúng.   
       Ba là, thực hiện có nền nếp, chất lượng chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình là một chế độ quy định, một nội dung quan trọng trong sinh hoạt đảng, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của một Đảng cách mạng, là một biện pháp hữu hiệu để giáo dục, rèn luyện đảng viên, nhằm phát huy ưu điểm, giúp nhau khắc phục thiếu sót, khuyết điểm để tiến bộ trưởng thành. Các cấp ủy ở các  tổ chức cơ sở đảng phải nhận thức sâu sắc, đồng thời tổ chức lãnh đạo, duy trì có chất lượng chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình, theo lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: Mỗi cán bộ, đảng viên “Phải thường xuyên nghiêm chỉnh phê bình và thật thà tự phê bình để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, để cùng nhau tiến bộ”[8]. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở đảng cần thực hiện nghiêm túc những quy định, nguyên tắc về tự phê bình và phê bình mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”….”[9]. Thực hiện có nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình phải bảo đảm giữ vững tính tự giác, chiến đấu, nêu gương, cụ thể, thiết thực, kịp thời, khách quan, trung thực, thẳng thắn và công khai. Trong thực hiện phải tuân thủ nghiêm túc Điều lệ Đảng, Cương lĩnh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng; nghiêm cấm lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, gây rối nội bộ. Đồng thời, phải vận dụng linh hoạt các hình thức sinh hoạt như: Thông qua sinh hoạt các cấp uỷ, các tổ chức đảng, kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng và các Nghị quyết của Đảng; tổ chức cho quần chúng đóng góp phê bình đảng viên. Thực tiễn chứng minh nếu phát huy tốt vai trò của quần chúng đóng góp phê bình sẽ giúp tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo sát đúng, kịp thời phát hiện những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng. Vì vậy, tổ chức cơ sơ đảng phải xây dựng quy chế, có kế hoạch cụ thể, xác định nội dung, hình thức và phương pháp để tổ chức quần chúng phê bình, đồng thời, có thái độ chân thành tiếp thu ý kiến phê bình, kịp thời thông báo kế hoạch sửa chữa khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, kết quả kiểm điểm trước quần chúng. Nghiêm cấm và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp trù dập, ức hiếp người phê bình. Tích cực chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng, tạo môi trường thuận lợi để quần chúng tham gia xây dựng Đảng.
      Bốn là, kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình với tăng cường công tác kiểm tra của cấp trên, giám sát của tổ chức đảng.Để nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình phải tăng cường sự giúp đỡ, kiểm tra của cấp uỷ cấp trên đối với tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, nhất là những tổ chức cơ sở đảng yếu kém, hiệu lực lãnh đạo giảm sút, uy tín thấp, nội bộ có nhiều vấn đề phức tạp, mất đoàn kết kéo dài, việc thực hiện tự phê bình và phê bình khó khăn. Mục đích kiểm tra nhằm thực hiện tốt quy trình lãnh đạo của Đảng, trong thực hiện nhiệm vụ chức trách của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Cấp trên cần trực tiếp chỉ đạo củng cố tổ chức, kiện toàn cán bộ; cấp uỷ, chỉ rõ những thiếu sót, khuyết điểm, kịp thời ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật, phải đưa ngay chế độ tự phê bình và phê bình thành nền nếp đạt hiệu quả cao và thiết thực. Trong đó, cấp uỷ, đảng viên tự đánh giá khả năng, mức độ hoàn thành nhiệm vụ; tổ chức đảng kịp thời phát hiện, uốn nắn những sai phạm, lệch lạc, giữ vững tư cách đảng viên. Để cấp trên thực hiện tốt công tác kiểm tra, phải xây dựng kế hoạch kiểm tra, kế hoạch phải có nội dung, biện pháp phù hợp. Nếu thực hiện và duy trì tốt nền nếp tự phê bình và phê bình, thì những nhân tố mới, người tốt, việc tốt xuất hiện, những nhân tố mới tích cực, cá nhân tốt, tổ chức đảng kịp thời động viên, khuyến khích họ làm tốt hơn. Những cá nhân có khuyết điểm, cấp uỷ phải gặp gỡ phân tích chỉ rõ nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Đối với cá nhân có khuyết điểm nặng đến mức phải xử lý kỷ luật, phải xử lý kịp thời, dứt điểm. Trong khi thi hành xử lý kỷ luật vẫn phải quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để đồng chí sửa chữa khuyết điểm, bởi vì, tự phê bình và phê bình không phải bới lông tìm vết, càng không phải để kỷ luật mà để giúp nhau tiến bộ, công tác tốt, hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Vì vậy, tổ chức cơ sở đảng phải quan tâm đúng mức tới mối quan hệ giữa tự phê bình và phê bình, khen thưởng và kỷ luật. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên không thực hiện tốt Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về tự phê bình và phê bình, nhất là những người có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình. Phải có biện pháp bảo vệ người dũng cảm phê bình, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và buộc người có khuyết điểm, bị phê bình phải sửa chữa khuyết điểm.
CHÂN LÝ
 x

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

KỶ NIỆM 45 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG,
SUY NGẪM VỀ GIÁ TRỊ CỦA TỰ DO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN
Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Chiến tranh Việt Nam, từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972 sau khi Hội nghị Paris bế tắc và đổ vỡ do hai phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bất đồng về các điều khoản trong hiệp định.
Chiến dịch này là sự nối tiếp của chiến dịch ném bom Linebacker diễn ra từ  tháng 5 đến tháng 10 năm 1972. Tại chiến dịch này, Hoa Kỳ đã huy động loại máy bay ném bom chiến lược mạnh nhất của họ là pháo đài bay B-52 làm nòng cốt để ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm. Đây là những cuộc ném bom dữ dội nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh. Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném xuống miền Bắc Việt Nam trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.
Trong trận bom rải thảm phố Khâm Thiên, Hà Nội đêm 26 tháng 12 năm 1972 đã làm chết 278 người, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em; làm cho 178 cháu mồ côi trong đó có 66 cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ; 290 người bị thương, 2.000 ngôi nhà, trường học, đền chùa, rạp hát, trạm xá bị sập, trong đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn. Ngôi nhà số 51 phố Khâm Thiên chỉ còn là một hố bom, bảy người sống trong ngôi nhà này không còn ai sống sót. Trong sân bệnh viện Bạch Mai có tấm bia mang chữ "Căm thù" để ghi nhớ về vụ B-52 ném bom trúng bệnh viện này vào ngày 22 tháng 12. khiến 1 bệnh nhân và 30 y tá, bác sĩ thiệt mạng, có 1 y tá đang mang thai 3 tháng. (Khi đó hầu hết bác sĩ, bệnh nhân đã được sơ tán. Mỗi khoa chỉ giữ lại vài ba người để trực cấp cứu. Có khoảng 300 bệnh nhân ở dưới hầm).
Sự thật trớ trêu là cuộc ném bom để “ Đưa Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá” lại diễn ra trong thời điểm nhân loại chuẩn bị cho kỳ nghỉ lễ Giáng sinh và đón mừng năm mới. Trong các quyền cơ bản của con người, quyền được sống là quyền đầu tiên, bất khả xâm phạm. Nước Mỹ, nơi mà các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền luôn được đề cao một cách tuyệt đối, vậy mà ngài Tổng thống Nixon lại “có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó"(ám chỉ kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh) để tước đi sinh mạng của bao con người Việt Nam vô tội.
  45 năm đã trôi qua, song cái giá phải trả để được sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc mà ngày nay người Việt Nam đang thụ hưởng, chúng ta không bao giờ được phép lãng quên. Và phải chăng, những giá trị về “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” mà các thế lực thù địch hàng ngày đang rêu rao, một số phần tử theo đuôi tung hứng, sự thật với mục đích gì, cũng cần phải hết sức cảnh giác!.
                                                                        Hướng Dương


“TỰ DO NGÔN LUẬN” – LUẬN ĐIỆU CỦA NHỮNG KẺ PHẢN QUỐC
Một trong những thủ đoạn của chống phá của các thế lực phản động hiện nay là thông qua hệ thống các trang mạng xã hội để truyền bá những “giá trị phương Tây” như: “tự do, dân chủ…”, trong đó, “tự do ngôn luận” được các thế lực thù địch “cải biến” trở thành “chân lý”, “đỉnh cao” của xã hội tư bản. Vậy thực chất của “tự do ngôn luận” mà các thế lực thù địch đang thường xuyên kẻ tung, người hứng là gì? Bài viết xin cung cấp vài nét khái lược để mọi độc giả cùng tham khảo.
Ở các nước tư bản, mặc dù trong hiến pháp của họ đều ghi nhận công dân có quyền tự do ngôn luận, hội họp, xuất bản, nhưng không coi quyền này là “tự do tuyệt đối”. Ở Pháp, Đạo luật 1881 cũng nêu rõ các giới hạn trong tự do báo chí vì sự lạm dụng tự do, cụ thể đưa ra các định nghĩa về tự do báo chí, về cơ bản đến nay, đạo luật này vẫn còn nguyên giá trị. Ở Italia, nhiều nhà báo đã bị đe dọa tính mạng nếu họ viết bài về tội phạm và hoạt động của Maphia…Bên cạnh đó, trong hiến pháp của các nước tư bản còn giữ lại rất nhiều điều kiện bảo lưu, giúp cho giai cấp tư sản khi cảm thấy sự thống trị của mình bị đe dọa, thì sẽ “có khả năng điều động quân đội đến đàn áp hoặc thực hiện giới nghiêm…”. Ví dụ, ở Anh, mọi người có thể tự do công khai diễn thuyết trong trường hợp nhất định, tuyên truyền cho chủ trương của mình, thậm chí có thể thóa mạ cả thủ tướng, nhưng nếu có người hô “đả đảo Chính phủ Anh”, “đả đảo Nữ hoàng”, hoặc tuyên truyền bạo lực cách mạng thì sẽ bọ bắt.
Ở nước Mỹ được một số người cho là “hình mẫu của tự do”. Hiến pháp Mỹ, năm 1791 có quy định: nghị viện không được đưa ra pháp luật tự do ngôn luận. Nhưng theo một đạo luật của năm 1798 thì sẽ là tội phạm nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm hay chống lại chính quyền. Để truy cứu trách nhiệm hình sự loại vi phạm này, điều 2385, chương 115 – Bộ luật hình sự Mỹ đã có quy định nhiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất cứ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết, tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào của Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực. Theo Hiến pháp Mỹ thì tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và cá nhân.
Hàng năm, hàng trăm các văn bản khác nhau được tòa án tối cao ban hành để điều hành và kiểm soát báo chí ở Mỹ. Họ còn có quy định: không được tự do ngôn luận có tính chất tượng trưng như miệt thị quốc kỳ, xé thẻ quân dịch; không được tự do ngôn luận dẫn đến tổn hại trật tự công cộng, dẫn đến bạo loạn…Từ đó có thể thấy rõ, ở nước Mỹ không có tự do ngôn luận tuyệt đối. Nghị viện Mỹ đưa ra luật trấn áp bạo động phản loạn, trong đó có quy định rõ: “những ngôn luận, sách báo lăng mạ hoặc kích động nhân dân, khinh thường chính thể Mỹ, đều bị nghiêm trị”. Ở nước láng giềng chúng ta như Thái Lan, bất cứ ái xúc phạm hoàng gia đều bị nghiêm trị theo pháp luật.
Từ những trích dẫn ở trên có thể khẳng định, trong thế giới được đại không có ở bất cứ nơi đâu là “tự do tuyệt đối”, cũng chưa có một xã hội nào là chân lý để làm biểu tượng hình mẫu cho các nước khác noi theo, học tập cả. Tuy nhiên, có một thực tế thời gian qua, một số đối tượng luôn dẫn dụ, bẻ công sự thật đó, luôn lợi dụng vào cái “tự do ngôn luận tuyệt đối” không có để lừa mị nhân dân chống lại Đảng, Nhà nước ta. Một trong những nhân vật nổi lên phải kể đế như linh mục Nguyễn Văn Khải – kẻ lưu vong tại Mỹ được tổ chức khủng bố Việt Tân hà hơi, tiếp sức đã trơ trẽn xúc phạm, xuyên tạc, bôi nhọ anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cổ súy cho hành động lật đổ chế độ XHCN tại Việt Nam; tôn sùng Ngô Đình Diệm - một kẻ bị xử tử bởi chính những đồng bọn của hắn- họ Ngô kia “vĩ đại đến mức đó ư”?; một vị linh cẩu “đáng kính” bị dư luận trong nước lên án như Nguyễn Đình Thục – giáo xứ Song Ngọc khi vu cáo “chính quyền nổ súng vào nhà thờ”, kích động nhân dân biểu tình làm mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến cuộc sống yên bình của người dân; một vi linh mục khác – Đặng Hữu Nam, kẻ trắng trợn xuyên tạc lịch sử, phủ nhận hoàn toàn giá trị, ý nghĩa lớn lao của chiến thắng 30-4-1975, xét về góc độ xã hội, đây là điều không thể chấp nhận được.
Có thể thấy, các thế lực thù địch đã lợi dụng vào tính nhân đạo của pháp luật, tính nhân văn trong ứng xử của văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam và tự do ngôn luận ở nước ta, không ngớt ong ỏng chửi bới, xúc phạm, xúi giục, cổ súy cho các hành vi nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những kẻ đó phải được nghiêm trị theo pháp luật không thể dung thứ, chúng ta đã quá nhân nhượng, nhưng có lẽ chúng ta càng nhân nhượng thì bọn chúng càng lấn tới và quyết chống phá đến cùng mưu đồ làm sụp đổ chế độ ở nước ta.
Chúng ta, mỗi một người Con Lạc, Cháu Hồng hãy luôn cảnh tỉnh, quyết lật mặt những kẻ phản quốc, quyết không để bọn phản quốc, hại dân lợi dụng tự do ngôn luận để che dấu hành vi nhơ nhuốc của chúng; sự xảo trá của những kẻ phản quốc đã chuẩn bị đất rồi, chúng ta chỉ còn phải làm cái công việc đào huyệt chôn chúng mà thôi.
Trung Lập








NHẬN THỨC VỀ CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Thuật ngữ "Diễn biến hòa bình"
"Diễn biến hòa bình" là chiến lược tiến công trên quy mô toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc và các thế  lực thù địch, đứng đầu là Mỹ, nhằm chống phá các phong trào của nhân dân lao động, các dân tộc trên thế giới đang dấu tranh tự giải phóng mình khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản; chống sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội làm thất bại và đổ vỡ từ bên trong chế độ chủ nghĩa xã hội ; làm biến dạng và tan vỡ Đảng cộng sản, thiết chế nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa thông qua những tác động kinh tế và những thẩm thấu về tư tưởng – văn hóa tư sản một cách lâu dài và tinh vi.
 Bản chất của chiến lược "Diễn biến hòa bình”  
Những ý tưởng ban đầu về "Diễn biến hoà bình" do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ những năm 40 của thế kỷ XX. Sau đó được tiếp tục bổ sung, nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược vào thập kỷ 80, khi các thế lực đế quốc, thù địch quốc tế trong cục diện đối đầu giữa hai hệ thống thế giới, đã nhận ra rằng, khó có thể chỉ dùng biệ pháp vũ lực đẻ tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, mà phải thay đổ chiến lược, chuyển từ tiến công quân sự là chủ yếu sang tiến công bằng "Diễn biến hoà bình". Nghĩa là thực hiện xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa mà không phải phát động chiến tranh, chỉ cần "Diễn biến hoà bình" để chuyển hóa dần chủ nghĩa xã hội sang quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ "Diễn biến hoà bình" được sử dụng rộng rãi để thực hiện chiến lược mới của chủ nghĩa đế quốc sau "Chiến tranh lạnh" trong âm mưu chống phá chủ nghĩa xã hội và các nước độc lập có xu hướng tiến bộ, muốn thoát ly ảnh hưởng của Mỹ và Phương tây. Để làm rõ bản chất của chiến lược này, người ta đã dùng nhiều thuật ngữ như "Chiến tranh không tiếng súng", "Chiến tranh nhung lụa", "Chiến tranh qua tay người khác"…
          Mục tiêu của chiến lược do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vạch ra so với trước không hề thay đổi, đó là tiêu diệt của chủ nghĩa xã hội, bảo vệ sự tồn tại vĩnh hằng của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản và sự thống trị thế giới của chủ nghĩa đế quốc. Nét mới của chiến lược "Diễn biến hoà bình" so với các chến lược chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội trước đây là ở chỗ: giành được chiến chiến thắng mà không cần đến chiến tranh bằng sức mạnh quân sự là chủ yếu. Bởi lẽ qua thực tế dùng chiến tranh kiểu đó hao người tốn của, cuối cùng là thất bại, lại bị thế giới lên án. Còn dùng chiến lược "Diễn biến hoà bình" họ có thể phát huy ưu thế vượt chội về kinh tế, tài chính, khoa học – công nghệ … và sự chi phối của các cường quốc tư bản đối với các tổ chức quốc tế.
          Trong cuốn sách “Năm 1999 - chiến thắng không cần chiến tranh” của R.Nixơn, qua khảo sát của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Năm 1983, R.Nixơn cho rằng, thời cơ "diễn biến hòa bình" ở Đông Âu đã chín muồi, Liên Xô cũng đang tiềm tàng khả năng diễn biến hòa bình. R.Nixơn đặc biệt coi trọng Đông Âu, cho đây là đột phá khẩu thực hiện “diễn biến hòa bình”. Ông ta viết: “Những nguời cộng sản Đông Âu đã hoàn toàn mất niềm tin. Ngày nay phần lớn họ đã trở thành những người tham lam và quan liêu. Ý nghĩa niềm tin về Đảng cộng sản bị sụp đổ… một thế hệ những người Đông Âu dang trỗi dậy không phải là các nhà tư tưởng mà là các nhà thực tiễn cho "diễn biến hòa bình". Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa  ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản quốc tế lâm vào thoái trào, các thế lực đế quốc càng có điều kiện đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", trước hết nhằm vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
           Chiến lược này được họ chú trọng triển khai trên hai mặt: một là, tác động từ bên ngoài vào thông qua sự chỉ đạo các hoạt động đầu tư, cho vay vốn,viện trợ kinh tế, chuyển giao công nghệ, hợp tác kinh tế, trợ giúp y tế, tài trợ du học, giao lưư văn hóc, cưứ trợ nhân đạo…, qua những hình thức này, từng bước thâm nhập vào kinh tế, chính trị - xã hội để tạo dựng cơ sở từ bên trong. Hai là, khuyến khích “tự diễn biến” trong nước, như cổ vũ cho ngừng phần tử chống đối gây mất ổn định an ninh chính trị xã hội, vi phạm pháp luật, những phần tử bất mãn, cơ hội về chính trị…đòi đa nguyên chính trị, đa đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước, quân đội và toàn xã hội; chống đối pháp luật và sự quản lý‎ của Nhà nước; chia rẽ đoàn kết dân tộc, các tôn giáo, các thế hệ; hướng thanh, thiếu niên chạy theo lối sống thực dụng chủ nghĩa, hưởng thụ, trụy lạc…phai nhạt dần ‎‎‎‎ thức chính trị, mục tiêu l‎‎ý tưởng.
Thực tế cho thấy, tùy tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, tình hình mỗi nước, việc chuyển hóa chế độ chính trị không nhất thiết chỉ diễn ra dưới dạng chuyển hóa hòa bình, mà không xảy ra tình trạng hỗn loạn chính trị - xã hội; thậm chí gây bạo loạn phản cách mạng, lật đổ chế dộ. Không loại trừ sự can thiệp vũ trang từ bên ngoài. Nhìn lại sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chúng ta thấy quá trình sụp đổ - chuyển hóa đã diễn ra dưới các dạng:
     - Diễn biến và chuyển hóa trước hết ở các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng cộng sản, đi đến lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua bầu cử, có hậu thuẫn bên ngoài.
     - Sử dụng áp lực quần chúng bị kích động, đòi Đảng cộng sản thay đổi hẳn đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng, Nhà nước.
     - Đánh đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng bạo lọan chính trị lật đổ.
     - Cướp chính quyền một cách "không đổ máu", bằng đảo chính cung đình.
     - Dùng sức ép từ bên ngoài để bảo vệ chính phủ dân tộc, làm tan rã Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
     Trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, chủ nghĩa đế quốc đã có sự điều chỉnh mới về phương thức, thủ đoạn trong thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", đó là tạo dựng nên các cuộc "cách mạng sắc màu". Hàng loạt các cuộc cách mạng sắc màu, cụ thể như: "cách mạng nhung tại Nam Tư năm 2000, tại Grudia năm 2003, cuộc cách mạng da cam tại Ucraina cuối năm 2004 đầu năm 2005…Các cuộc "cách mạng" trên với tên gọi khác nhau, nhưng về bản chất chỉ là một. Có thể nói đây chính là một sản phẩm "sáng tạo", hay có thể gọi là "công nghệ biểu tình" của phương Tây. Thực chất, đây chính là cuộc đảo chính chính trị nhằm lật đổ các chính quyền được coi là "khó bảo", thông qua các chiến dịch vận động tranh cử dược tài trợ bởi các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, với sự tham gia của các cố vấn, các nhà xã hội học, các nhà ngoại giao của các nước phương Tây. Theo quan điểm của Mỹ và phương tây, cách mạng sắc màu là để "thúc đẩy dân chủ", thực hiện "dân chủ hóa toàn thế giới". Với việc thực hiện các cuộc "cách mạng" kiểu này trong chiến lược "diễn biến hòa bình", họ cũng đã "thành công" trong hoạt động can thiệp, lật đổ chính quyền Nam Tư năm 2000 và một số nước thuộc Liên Xô trước đây. Tất nhiên không phải là trong mọi thời điểm và với tất cả những nước mà họ đã chống phá đều "thành công"; trái lại họ cũng đã từng thất bại cay đắng khi thực hiện phương thức này của "diễn biến hòa bình" ở một số nước. Nhưng với những gì đã diễn ra và nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá đủ thấy mức độ nguy hiểm, thâm độc của các cuộc "cách mạng sắc màu" trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc.
Một thủ đoạn mới vừa mới xuất hiện là Mỹ điều chỉnh chiến lược mới trong cuộc chống khủng bố bằng phương pháp mềm dẻo gọi là "sức mạnh mềm" hay "rót trà vào chân tường". Nội dung của phương pháp này là thông qua viện trợ phát triển với một chương trình tổng thể giúp đỡ "một số quốc gia yếu kém chống khủng bố toàn cầu"; nâng cao vị thế và làm rõ vai trò của của các nước tham gia chống khủng bố…đây chinh là giải pháp chuyển chính sách đối đầu sang biện pháp ngoại giao, làm giảm nhẹ sự chú ‎ của thế giới đến các hoạt động quân sự của Mỹ.
Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội luôn triệt để trong âm mưu chống phá chủ nghĩa xã hội. Trước xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, chủ nghĩa đế quốc cũng "hưởng ứng" hòa bình, ký kết "hợp tác" nhưng mục đích cuối cùng là để tiếp tục tồn tại, phát triển và thống trị thế giới.
 Như vậy, dù hình thức, thủ đoạn có thể thay đổi, nhưng nội dung chống phá của chúng không hề thay đổi và bản chất chống cộng, chống xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc vẫn không thay đổi.

                                                                                                 BIỂN RỘNG