TRÊN
ĐỊA BÀN QUÂN
KHU 7
Chiến lược "Diễn biến hoà
bình" của các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ chế độ chính trị xã hội của các
nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hôi chủ nghĩa (XHCN) chủ yếu bằng biện
pháp phi quân sự; núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, kích động các
mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, sắc tộc; triệt để khai thác và lợi dụng những khó
khăn, sai sót của nhà nước hiện hành, làm trầm trọng thêm tình hình; thường “diễn
biến hoà bình” được kết hợp với thủ đoạn bạo loạn lật đổ. Ở các thành phố lớn,
nơi có đông dân cư và cơ cấu xã hội là mảnh đất hứa cho chúng thực hiện chiến
lược đó. Từ cách hiểu trên, ta cần tìm hiểu những đặc điểm của các thành phố lớn
trên địa bàn Quân khu 7. Trong đó đặc biệt chú ý đến những vấn đề do lịch sử để
lại và thực trạng xã hội làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề phòng và giải
quyết các trường hợp bạo loạn (nếu xảy ra).
Trên địa bàn Quân khu 7 có 5 thành phố lớn
là: Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu, Đà Lạt, Phan Thiết. Ngoài ra còn
có một số thị xã lớn đang phát triển rất nhanh như Bình Dương... Trong số đó có
3 thành phố quan trọng nhất đang là tam giác trọng điểm kinh tế của đất nước
(Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu), đồng thời cũng là trọng điểm chống
phá bằng “diễn biến hoà bình” của kẻ địch... Ba thành phố trên đều có lịch sử
hình thành rất sớm (Sài Gòn và Biên Hoà có từ thế kỷ XVII - thời nhà Nguyễn; Vũng
Tàu có từ thời Pháp thuộc); một số thành phố như Phan Thiết tuy mới, song tất cả
đã trải qua các chế độ chính trị: phong kiến, thuộc địa thực dân cũ và thực dân
mới, XHCN. Trong đó thời gian tồn tại dưới chế độ XHCN còn rất ngắn so với thời
gian dưới chế độ thực dân phong kiến, cho nên những vấn đề lịch sử để lại là rất
quan trọng mà chúng ta cần phải nghiên cứu... Trong thời phong kiến thực dân,
Sài Gòn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự của cả Nam Bộ, ở đó giai
cấp công nhân hình thành sớm và đấu tranh rất mạnh cùng với tầng lớp dân nghèo,
nhưng cũng là nơi tập trung đông nhất các thế lực phản động của bọn xâm lược và
tay sai. Đó cũng là nơi du nhập sớm nhất và phát triển mạnh nhất lối sống của
chủ nghĩa thực dân cũ và mới, tạo ra một lớp người chuyên sống bằng cách lừa đảo,
trộm cắp và những nghề không lương thiện.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam
(30.4.1975), trong một thời gian ngắn, các tệ nạn xã hội tạm lắng xuống, sau đó
lại phục hồi dần trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và có điều kiện phát triển
trong cơ chế thị trường, tạo ra lớp người mới với lối sống cũ. Thành phần này
là đối tượng móc nối chủ yếu của các thế lực phản động để thực hiện thủ đoạn bạo
loạn, vì họ rất dễ bị mua chuộc bằng tiền và thường hành động thiếu trách nhiệm
với bản thân và cộng đồng. Ngoài ra, một số ngụy quân, ngụy quyền vẫn chưa từ bỏ
hận thù... họ cũng rất dễ bị kích động và bị lợi dụng vào các việc chống đối
chính quyền. Mặt khác, theo "Kế hoạch hậu chiến", số người gài lại để
chống phá ta hầu hết ở các thành phố lớn. Bọn này tạo được nhiều vỏ bọc khác
nhau - trong đó có những tên đội lốt tôn giáo để chống phá cách mạng. Đây là lực
lượng chủ yếu thúc đẩy chiến lược “diễn biến hoà bình” và tổ chức bạo loạn khi
có thời cơ.
Địa bàn Quân khu 7 có hơn 500 km đường
biên giới trên đất liền và hơn 300km bờ biển. Những nơi đây địa hình khá phức tạp
nên bọn phản động từ bên ngoài thường xuyên tìm cách xâm nhập để vào các thành
phố lớn. Trên đây là những lực lượng chủ yếu có thể tạo ra và tham gia vào các
hoạt động bạo loạn ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ có các lực lượng này
thì dù có được các thế lực bên ngoài hỗ trợ cũng không thể tạo ra được các hoạt
động có tính chất bạo loạn nếu như chúng không kích động lôi kéo được một số bộ
phận quần chúng nhân dân. Vậy chúng ta cần tìm hiểu những khả năng nào quần
chúng nhân dân có thể bị kích động.
Chúng ta đều hiểu, những người dân bình
thường nếu không có điều gì bức xúc về quyền lợi vật chất hoặc tinh thần thì bọn
người xấu dù có kích động thế nào họ cũng không bỏ công việc làm ăn để chạy
theo những việc vô bổ. Như vậy, người dân bị kích động hoặc bị lừa bịp chỉ khi
nào bản thân họ có sự bất bình. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bất bình
đó là:
Một là, do các cấp chính quyền cơ sở không thi hành đúng các chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, xâm
hại đến quyền lợi vật chất và tinh thần của họ.
Hai là, một số người dân chưa giác ngộ về quyền lợi lâu dài của
xã hội, của đất nước, chỉ lo cho quyền lợi trước mắt của cá nhân, gia đình, từ
đó nảy sinh tâm lý, thái độ, hành vi bất bình. Ngay cả do nguyên nhân này thì
suy cho cùng cũng là do chính quyền cơ sở chưa làm tốt công tác tuyên truyền,
giải thích cho nhân dân. Chính quyền cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng đối với
vấn đề nhân dân có hiểu và ủng hộ những chủ trương, chính sách của Đảng hay
không? Nhưng trên thực tế, ở một số nơi, chính quyền cơ sở của chúng ta còn rất
yếu và dường như chưa được chú ý một cách thích đáng để nâng cao trình độ cho đội
ngũ cán bộ này.
Khi nghiên cứu về âm mưu “diễn biến
hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta không nên quên một lực lượng đồng minh rất
quan trọng của chúng là bọn tham nhũng. Bản chất của những kẻ tham nhũng là cá
nhân, cơ hội. Chúng ra sức nói hay nói tốt để "leo cao" nhưng khi
tình hình xã hội có biến động thì chúng là người đầu tiên "trở cờ" biến
thành lực lượng đối lập, liên kết với các thế lực chống đối khác. Đây là lực lượng
tiềm ẩn nguy hiểm, vì chúng không đáng tin cậy trong thực thi kế hoạch cụ thể của
các phương án chống bạo loạn lật đổ. Ngay cả khi chưa "trở cờ" thì
chúng vẫn là lực lượng chủ yếu "làm nghèo đất nước", làm băng hoại đạo
đức. Trực tiếp tạo ra nỗi bất bình của nhân dân để cho bọn kích động bạo loạn lợi
dụng tình trạng này.
Khi nghiên cứu vấn đề phòng, chống “diễn
biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, chúng ta đều quán triệt quan điểm lấy biện
pháp "phòng" là chính nhưng không loại trừ khả năng nó xảy ra nên phải
nghiên cứu cả các biện pháp "chống". Từ những cơ sở phân tích về lực
lượng và nguyên nhân xảy ra bạo loạn lật đổ như trên ta thấy hoàn toàn có thể đề
phòng được nếu ta biết vấn đề cốt lõi nằm ở đâu? Một bộ phận quần chúng nhân
dân ở đâu đó có bất bình với chính quyền thì đó không phải là lực lượng nòng cốt
trong bạo loạn lật đổ. Phải hiểu là bọn phản động đã lợi dụng những bất bình ấy
vào mục đích của chúng. Như vậy, vấn đề "phòng" bạo loạn lật đổ phải
thực hiện ở tầm vĩ mô, mà thực chất là xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh,
chống tham nhũng và nâng cao trình độ, phẩm chất của cán bộ chính quyền các cấp,
nhất là cán bộ chính quyền cơ sở, những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân.
Từ những quan điểm trên và từ kinh nghiệm thực tế giải quyết
một số "điểm nóng" trên địa bàn Quân khu những năm gần đây, ta có thể
rút ra một số vấn đề chính sau:
Một là, ở mỗi "điểm nóng" có nhiều đối tượng, mỗi đối
tượng có cách hiểu vấn đề và mục đích đấu tranh khác nhau nên trong quá trình
trấn an, giải thích cần kết hợp với phân hoá lực lượng bằng thái độ chân thành
đối với những bất bình chính đáng của nhân dân, đồng thời kiên quyết với những
kẻ chủ mưu gây rối.
Hai là, không sử dụng vũ lực trước, không sử dụng vũ khí đối với những
đối tượng không có vũ khí, nếu ta không làm như vậy tức là mắc mưu khiêu khích
của kẻ địch và làm cho sự kích động của quần chúng càng tăng lên.
Ba là, cô lập "điểm nóng", cách ly nó với nhân dân
càng xa càng tốt, cụ thể là ở thành phố, nếu có điểm nóng thì phải hướng dẫn đổi
hướng giao thông từ xa.
Trên đây là một số nội dung về phòng,
chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ trên địa bàn Quân khu 7,
mọi người cần phải cảnh giác và tích cực đấu tranh làm thất bại những âm mưu,
thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ vững chắc an ninh
chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Quân khu./.
BIỂN RỘNG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét