Ý NGHĨA CUỘC
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẠY MẬU THÂN 1968 VỚI XÂY DỰNG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, BẢO
VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Mậu Thân 1968 mãi mãi khắc sâu vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca bất
diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài
học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự để vận dụng, phát triển trong
điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Bản anh hùng ca
bất diệt
Đúng đêm giao
thừa Tết Mậu Thân 1968 (ngày 30 và 31-1-1968), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
của quân và dân ta đồng loạt nổ ra trên toàn chiến trường miền Nam, đặc biệt ở
Sài Gòn, Huế và nhiều thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự của Mỹ – ngụy. Cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trong bối cảnh quân Mỹ – ngụy và các nước
đồng minh của chúng tham chiến với một lực lượng quân sự lớn lên tới trên một
triệu quân, có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, được phòng thủ vững chắc. Nhưng
bằng cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ, ta đã đánh thẳng vào các vị trí quan
trọng nhất của địch như: Đại sứ quán Mỹ, Dinh Tổng thống ngụy, Bộ Tổng Tham
mưu, Nha cảnh sát, Đài phát thanh Sài Gòn, tiến công làm chủ thành phố Huế và
hầu khắp các vùng nông thôn rộng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá huỷ một
khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch.
Vì thế, xét cả
về quy mô cũng như tính chất đồng loạt, tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968
đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới với hiệu lực chiến đấu
cao, làm lung lay ý chí xâm lược của một siêu cường, làm cho chính quyền Mỹ
sững sờ, choáng váng. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an
toàn nhất của kẻ địch, bao gồm tất cả các thành phố, tỉnh lỵ đều bị tấn công đồng
loạt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 không chỉ diễn ra một đợt mà
diễn ra nhiều đợt, không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào mà còn kết hợp từ
trong ra, khiến địch đã bất ngờ càng bất ngờ hơn.
Đây là một sự
kiện lớn, đánh dấu mốc quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong cuộc chiến tranh
nhân dân tổng lực của ta, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến
lược “chiến tranh cục bộ”, làm rung chuyển nước Mỹ, buộc chúng phải
xuống thang chiến tranh, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận
thương lượng để có thể kết thúc chiến tranh trong danh dự.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương, dân quân du kích đến đặc công, biệt động, pháo binh…, được nhân dân hết
lòng ủng hộ, tích cực phối hợp tham gia chiến đấu; kết hợp chặt chẽ giữa sự nổi
dậy rộng khắp của quần chúng, sự chuẩn bị rất công phu của các lực lượng, giữ
được bí mật tuyệt đối của các cấp, các địa phương, đơn vị, sự hy sinh to lớn
của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta để làm nên một kỳ tích “có một không hai”
trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp
giữa lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang ba thứ quân; kết
hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; đánh
địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công; kết hợp chiến tranh du
kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và nhỏ; thể hiện
nghệ thuật đánh địch bằng mưu cao, kế hiểm. Đánh giá về thắng lợi của cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đó là thắng
lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước
nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến, quyết thắng giải phóng
miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”. Bộ Chính trị đánh giá: “Thắng lợi có ý nghĩa
chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh,
đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải
chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm
phán với ta ở Pa-ri, chấm dứt ném bóm không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hoá
chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh”.
Đúc rút và vận
dụng những bài học kinh nghiệm vào chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ
mới
Cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã để lại cho các thế hệ hiện nay và mai sau niềm
tự hào sâu sắc. Ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công vẫn còn nguyên giá trị:
Một là, tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng, nắm chắc tình hình; có các chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng
đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn phát triển của chiến tranh cách mạng trong
điều kiện mới của Việt Nam.
Để bảo vệ vững
chắc Tổ quốc, trước hết, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
nền quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Bài học
kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công càng cho thấy, Đảng phải có đường lối đúng
đắn, sáng tạo, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xác
định rõ mục tiêu cách mạng, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam; xuất phát
từ thực tiễn, phân tích tình hình cụ thể để tìm ra quy luật và hành động theo
quy luật, nhất là quy luật chiến tranh kiểu mới của địch – chiến tranh vũ khí
công nghệ cao.
Cách mạng nước
ta hiện nay bên cạnh những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quá trình đối mới đất
nước, giành nhiều thành tựu quan trọng (đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) và được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009, uy tín và vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế không ngừng nâng cao), chúng ta cũng đang phải vượt qua
nhiều khó khăn, thử thách, nhất là việc các thế lực thù địch chống phá bằng
chiến lược “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn, lật đổ,
âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, tạo cớ can thiệp dưới các hình
thức. Vì vậy, đòi hỏi việc phát triển chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cần
có những bước phát triển mới, cả về quy mô, tính chất, yêu cầu các cấp, các
ngành phải nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên nắm chắc tình hình, xử lý tốt những
tình huống phức tạp xảy ra, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược.
Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất
bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị – xã
hội, tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tạo
môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
Hai là, phát huy sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị – tinh thần.
Xây dựng và phát huy sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng tạo nên
sức mạnh vô địch trong chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng, phát triển
đất nước. Do đó, cần chăm lo khối đại đại đoàn kết ngay từ thời bình, để “lo
giữ nước khi nước còn chưa nguy” theo kinh nghiệm truyền thống của cha
ông. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và
đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách
mạng nước ta… là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa
quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .
Xây dựng, phát
huy tốt yếu tố chính trị – tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là
nhân tố làm chuyển hoá so sánh lực lượng để “lấy ít địch nhiều”, “lấy
nhỏ thắng lớn”, là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt
Nam cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị – tinh thần
trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí
quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm
trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Ba là, xây dựng các
khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến
tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn sự
kiện lịch sử này cho thấy, vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế
trận chiến tranh nhân dân. Do đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các
khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế
trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm,
trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững
chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung
của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến
lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số; gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay
trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả
nước. Chăm lo bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân
chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của
chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu,
lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự
lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, phát triển tiềm
lực quốc phòng, quân sự.
Phát triển tiềm
lực quốc phòng, quân sự tạo ra khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy
động được cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ngăn ngừa mọi âm mưu,
hành động gây chiến tranh của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến
tranh xâm lược ở mọi quy mô, nếu xảy ra. Sức mạnh của chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc là sức mạnh tổng hợp, vì vậy, xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự phải
nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, chủ động chuẩn bị, gắn liền với mỗi
bước tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Hiện nay, cần
tận dụng những thời cơ thuận lợi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để mở
rộng quan hệ hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nhất là về khoa học – kỹ
thuật hiện đại, nhằm đi tắt đón đầu, phục vụ sự phát triển công nghiệp quốc
phòng, công tác nghiên cứu khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, đáp ứng được
yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Năm là, xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân
dân bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân,
trước hết là quân đội nhân dân và công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy
của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng
– an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng
nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang
ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác
định: “Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật
sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ
quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yếu mến”. Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng
quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu
hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và
hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong quá trình xây dựng quân đội phải coi
trọng cả lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, nhằm
đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của cách mạng.
H.A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét