BƯỚC NGOẶT 1972: THÀNH CÔNG CỦA
SỰ CHỊ ĐẠO CHIẾN LƯỢC
Ngay từ đầu năm
1972, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã đề ra chủ trương kiên quyết đánh
bại địch bằng kết hợp ba đòn chiến lược: Đẩy mạnh tiến công của bộ đội chủ lực
ở những hướng và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng
vùng giải phóng; đẩy mạnh đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng
bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận; đẩy mạnh
phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân ở thành thị. Ba đòn
chiến lược này cũng chính là ‘bàn đạp” giúp chúng ta khẳng định vị trí của mình
tại bàn đám phán Paris.
Đồng loạt tấn công
Sau hơn 2 tháng
(kể từ tháng 3) mở cuộc tiến công chiến lược, quân và dân ta ở Trị Thiên, miền
Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã vượt qua khó khăn gian khổ, hy sinh, chiến đấu
ngoan cường, giành được những thắng lợi có ý nghĩa, đánh dấu sự phát triển mới
cả về thế và lực của cách mạng miền Nam, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến
trường, làm thất bại thêm một bước nghiêm trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh” của Mỹ. Mặc dù sau đó, trong trận chiến khốc liệt, bi hùng để giữ Thành
cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ 25-6 đến 16-9-1972) không thành công và bộ
đội ta bị tổn thất nặng phải lui vào thế phòng ngự, nhưng đánh giá một cách
tổng thể, cuộc chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã
tạo ra bước chuyển biến căn bản tình hình chiến trường có lợi cho ta. Đây chính
là lợi thế quân sự trên chiến trường, hỗ trợ hiệu quả và trực tiếp cho cuộc đấu
tranh của ta trên bàn đàm phán ở Paris.
Trả lời nhận
xét của Kissinger – Cố vấn của phái đoàn Mỹ sau khi kết thúc trận chiến ác liệt
ở Quảng Trị, khi Kissinger cho rằng đứng về mặt quân sự mà nói, để giữ một cái
Thành cổ, thì không ai lại đánh như thế cả – Cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Hội nghị Paris Lê Đức Thọ cho rằng “Đó là vấn
đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi chứ còn đứng
về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”.
Mặt khác, do
quân và dân ta đánh mạnh ở các chiến trường miền Nam nên để hỗ trợ chính quyền
và quân đội Sài Gòn, cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy
cơ phá sản, Tổng thống Mỹ Nixon đã quyết định “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến
tranh, huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ngăn chặn cuộc tiến
công của ta đồng thời đánh phá trở lại miền Bắc. Trong bối cảnh ấy, phía Mỹ
tiến hành chuyến thăm hai nước lớn trong phe XHCN là Trung Quốc (2-1972) và
Liên Xô (5-1972) nhằm gây chia rẽ, cô lập, ngăn chặn, hạn chế sự chi viện to
lớn của hai nước này đối với chúng ta.
Những chỉ đạo chiến lược
Năm 1972 là năm
nhạy cảm trong nền chính trị Mỹ vì diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống và Nixon có ý
định tái tranh cử nhiệm kỳ hai. Việc giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam là
liều thuốc thử, là thước đo sự tín nhiệm của người Mỹ đối với chiếc ghế của
Nixon. Vì thế, đây là điều kiện thuận lợi để ta mở cuộc tiến công về ngoại
giao, phối hợp với tiến công quân sự, nhằm đạt tới kết quả có lợi nhất. Trong
tình hình ấy, đầu tháng 9, trong lúc chiến sự đang diễn ra ác liệt ở Quảng Trị,
Đảng ta chủ trương trên bàn đàm phán: Đưa Mỹ đi dần vào thương lượng thật sự
căn cứ vào bối cảnh tình hình quốc tế lúc đó, thế của ta và thế của địch, tình
hình Mỹ trong năm bầu cử, cơ hội giải quyết hòa bình đã hé mở. Cần đẩy mạnh đấu
tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao; tranh thủ giải quyết
các nội dung đàm phán với Nixon trước ngày bầu cử ở Mỹ, đồng thời tích cực đề
phòng khả năng tiếp tục chiến đấu sau kỳ bầu cử Tổng thống ở Mỹ.
Dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Bộ Chính trị, Bộ Ngoại giao đã soạn dự thảo Hiệp định và một số
nghị định thư kèm theo. Ngày 4-10, Bộ Chính trị điện thông báo cho Cố vấn đặc
biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ VNDCCH Xuân Thủy chủ
trương: Cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử ở Mỹ,
đánh bại âm mưu của Nixon kéo dài đàm phán để vượt qua tuyển cử… Ta cần ép Mỹ
ký một hiệp định chính thức, có ngừng bắn tại chỗ, rút quân Mỹ và thả tù binh.
Việc chấm dứt sự dính líu về quân sự của Mỹ ở miền Nam và ngừng bắn ở miền Nam
đưa đến việc thừa nhận trên thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng ở
miền Nam…là một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai miền trong điều
kiện so sánh lực lượng hiện nay…ta cần gác lại một số yêu cầu khác của vấn đề
nội bộ miền Nam.
Ngày 8-10, bản
dự thảo Hiệp định được Đoàn đàm phán của ta đưa ra trong cuộc gặp riêng với
phía Mỹ, với những nhân nhượng có tính đột phá. Sau khi nắm được các nội dung
chủ yếu và hỏi rõ thêm những vấn đề sẽ tiếp tục thỏa thuận sau khi ký Hiệp
định, Henri Kissinger đánh giá đây là “một văn kiện thật là quan trọng và rất cơ
bản”. Hai bên đã thỏa thuận lịch làm việc chi tiết cho việc ký Hiệp định dự
kiến vào 30 hoặc 31-10.
Sự lật lọng có chủ đích của Mỹ
Mặc dù Việt Nam
đã có những nhân nhượng cơ bản, song phía Mỹ đã có mưu đồ mới, bắt đầu đưa ra
những đòi hỏi, những yêu cầu mới, cụ thể có lợi cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Sở dĩ Mỹ có hành động như vậy vì qua thăm dò dư luận trước bầu cử, Nixon được
cử tri Mỹ ủng hộ nhiều hơn ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ Mark Gaven,
chắc chắn sẽ vượt qua tuyển cử. Bên cạnh đó, sự phản ứng quyết liệt của chính
quyền Sài Gòn về nội dung dự thảo Hiệp định đã làm Nixon lo ngại sẽ khó vượt
qua cuộc bầu cử nếu không lưu tâm đến thái độ của Nguyễn Văn Thiệu và bỏ rơi
chế độ Việt Nam Cộng hòa.
Sự tráo trở của
Mỹ là điều ta hoàn toàn không bất ngờ. Ngày 23-10, Chính phủ ta gửi công hàm
cho Mỹ: “Nếu phía Hoa Kỳ cứ viện cớ này, cớ khác để kéo dài đàm phán, trì hoãn
việc ký kết thì nhất định chiến tranh Việt Nam sẽ tiếp tục và phía Hoa Kỳ phải
chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Tiếp đó, ngày 26-10, Chính phủ ta ra tuyên bố về
tình hình cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam hiện nay, yêu cầu Mỹ phải giữ đúng
cam kết ký bản Hiệp định vào ngày 31-10 như đã thỏa thuận. Ngay sau khi Nixon
đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2. Mỹ đề nghị họp lại vào ngày 20-11 và đưa ra 69
điểm trong nội dung Hiệp định đề nghị sửa đổi theo yêu cầu của chính quyền Sài
Gòn và 16 vấn đề về thực chất nội dung Hiệp định mà Kissinger yêu cầu xem xét
lại, mâu thuẫn hoàn toàn với công hàm của Nixon gửi Chính phủ ta ngày 20-10:
“Hiệp định bây giờ có thể coi là hoàn thành”.
Đáp lại thái độ
lật lọng và đe dọa ném bom của Tổng thống Mỹ được thể hiện rõ trong cuộc gặp
ngày 23-11, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đanh thép trình bày quan điểm của
Việt Nam và quan điểm ấy sau đó cũng đã được thể hiện rõ trong Thông tri của
Ban Bí thư số 287, ngày 27-11về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris. Chính vì thái
độ kẻ cả của Mỹ mà cuộc đàm phán đã trở nên bế tắc vào ngày 13-12 ngay trước
cuộc tập kích B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng.
Sự Thật
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét