NHẬN
THỨC LỊCH SỬ CHO ĐÚNG
Đức Bách
50
năm trước, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho ý chí
xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ lung lay một bước nghiêm trọng. Thắng lợi đó đã
tạo ra một bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khởi
đầu một quá trình đi xuống về chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam
của đế quốc Mỹ.
Ngày
nay vẫn không ít người nhận thức về chiến thắng vĩ đại này theo một cách ngây
thơ, ngộ nhận rằng: “Ta thất bại về
quân sự, nhưng thắng lợi về chính trị” hoặc “Mỹ - ngụy thắng về quân sự
nhưng thất bại về tâm lý, đi đến thất bại về chính trị”.Thậm
chí có người còn tin theo luận điệu chống chế và đổ thừa của những người Mỹ chủ
chiến rằng: “ta thắng lợi tại Oa-sinh-tơn chứ không phải tại chiến trường”. Ý cho rằng: “vì nội bộ Mỹ lủng củng, tâm lý hoang mang, hoảng hốt, nên Oa-sinh-tơn
quyết định rút khỏi cuộc chiến chứ ta làm gì
thắng nổi
Mỹ vì Mỹ giàu và mạnh lắm”.
Đúng là tư tưởng vọng ngoại mù quáng. Không lẽ lại đi giải thích rằng anh
bị địch nghiền nát trên chiến trường, bị địch đánh cho thất bại tơi bời và rồi tự nhiên anh
có thắng lợi về tâm lý và chính trị, địch - tên đế
quốc đầu sỏ - chỉ vì hoang mang và chia rẽ nội bộ nên mới có nhã ý để cho anh
thắng lợi vinh quang. Không có thứ thắng lợi chính trị dễ dàng nào tự trên trời
rơi xuống hay
kẻ địch cho anh mà không đổ bao
xương máu ở chiến trường trong một cuộc chiến tranh lớn như vậy.
Đúng
đêm giao thừa và đêm mồng 1 Tết Mậu Thân (30 và 31-01-1968), Đùng một cái, chỉ
trong 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, tất cả
thành phố, tỉnh lỵ, trước Tết Mậu Thân hầu như đứng ngoài cuộc chiến, đều bị tiến
công đồng loạt, các mục tiêu quan trọng nhất từ Bộ Tổng tham mưu đến Biệt khu
thủ đô, từ dinh Tổng thống ngụy đến toà Đại sứ Mỹ đều bị tiến công ác liệt.
Ngày 3 tháng 2, Thông tấn xã Pháp (AFP) đưa tin: "Đây chắc chắn là chiến trường rộng lớn
nhất trong các cuộc chiến tranh. Toàn bộ nước Việt Nam đều bốc lửa từ Khe
Sanh đến Cà Mau". Cái thế của đôi bên trong chiến tranh đảo ngược:
bỗng chốc hậu phương thành tiền tuyến và
tiền tuyến hoá hậu phương. Các đơn vị thiện chiến được tung đi xa đến
tận "xứ sở của địch" để "tìm và
diệt", thình lình nhận được lệnh cấp tốc chạy về "xứ sở của
mình" để cứu nguy cho các cơ quan đầu não, cố ngăn chặn và phản kích rồi từ đó cố "quét và giữ" cho đến
khi rút lui khỏi cuộc chiến. Ta đồng loạt tiến công địch ở 4
thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn; đánh vào hầu hết cơ quan đầu não
trung ương, địa phương cả Mỹ lẫn ngụy, bao gồm cả 4 bộ tư lệnh quân khu – quân
đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu ngụy, 2 bộ tư lệnh dã chiến,
30 sân bay…(đưa chiến tranh vào tận thủ đô, sào huyệt của Mỹ, ngụy)…Trong đó, một số trận đánh gây chấn động lớn như tiến
công Toà Đại sứ Mỹ, dinh Độc
Lập, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh ở Sài Gòn và 26 ngày đêm làm chủ thành
phố Huế. Ở mặt trận đường số 9 – Khe Sanh ta đánh cho các
đơn vị thiện chiến nhất của quân đội Mỹ với gần 7000 tên hoang mang đến độ
“sống không bằng chết”, Báo Anh “Tin hàng ngày”, ra ngày
11-2-1968 viết: “Quân đội Mỹ đã bị xơi no
đòn kinh hoàng và mất hết tinh thần, luôn lo ngại rằng đối phương có thể đánh
bất kỳ lúc nào”. Một trung sĩ nói: “Ôi
Thượng đế! Chúng con còn phải chịu đựng tình trạng này bao lâu nữa”. Sau
này còn có nhiều lính Mỹ đã phải thốt nên rằng: “Sống ở
Khe Sanh khác gì kẻ bị kết án ngồi trên ghế điện”.
AFP đưa tin nhận xét: "Sức mạnh
Huê Kỳ đã mất uy thế. Đội quân mạnh nhất thế giới đã bị đẩy về thế phòng ngự
trên toàn bộ lãnh thổ…”. Chỉ riêng trong tháng 2 và tháng 3 năm 1968, theo tài liệu
của Mỹ ( tuy còn xa
sự thật), quân
Mỹ đã bị thương vong 24.013 người và
mất 552 máy bay các loại, chưa kể các kho tàng và phương tiện bi hủy diệt. Còn quân ngụy thì theo báo cáo của Oét-mo-len: "Lực lượng Nam Việt Nam đã suy yếu do
bị thương vong và nạn đào ngũ xảy ra trong dịp Tết...". Lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội
Mỹ có nguy cơ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh (Tư lệnh Oétmolen bị cách
chức, Bộ trưởng Mắc – ra – ma - ra từ chức, Tổng thống Giôn - xơn tuyên bố đơn
phương ngừng ném bom miền Bắc, nhận đàm phán với ta tại hội nghị Pari.
Không ra tranh cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai nữa). Đây là sự
thừa nhận đầu tiên, đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục
bộ”, chiến lược chiến tranh quan trong nhất, chuẩn bị công phu nhất và được
đánh giá cao nhất trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ.
Với những sự kiện lịch sử
diễn ra như vậy, mỗi người chúng ta thử suy nghĩ xem: Đối với bọn trùm xâm lược
Mỹ - những kẻ đầy mưu mô xảo quyệt có phải chỉ do tác động tâm lý, do sức ép chính
trị hay do phút hoang mang bối rối mà thay đổi từ leo thang thành xuống thang chiến tranh, chấm dứt chiến tranh không quân ở miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại hội nghị
Pari hay không?
Việc thay đổi chiến lược
chiến tranh ở miền
Nam Việt Nam, hạn chế chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, thoả thuận
đàm phán hoà bình đã được quyết định trong tháng 3 năm 1968, nghĩa là sau đợt 1
Tết Mậu Thân. Nhưng rõ ràng phải
trải qua một thời gian chiến đấu ác liệt trên chiến trường, qua đợt 2 đánh vào
Sài Gòn và đợt 3 đánh ở vùng
nông thôn, đến tháng 11, Mỹ mới phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc và chịu nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng là một thành
phần hoà đàm tại Pa-ri. Điều này dễ hiểu thôi. Trong chiến tranh - đặc biệt là
cuộc chiến tranh lớn như ở Việt
Nam vừa qua - kết quả chiến đấu ở chiến
trường là nhân tố chủ
yếu quyết định diễn biến của chính trị và ngoại giao. Thắng lợi đạt được tại
chiến trường ở mức độ nào sẽ gặt hái về chính trị ở mức độ đó. Không bao giờ lại có chuyện bại trên chiến trường mà thắng về
chính trị, hay tài ngoại giao hoà bình lại tách rời máu xương đổ trên chiến
địa. Cuối năm
1968 đầu năm 1969, cuộc hoà đàm ở Pa-ri bắt đầu nhưng suốt trong năm 1969-1970,
địch tưởng có thể thắng thế trên
chiến trường nên kéo dài và muốn đi đến hủy bỏ cuộc đàm phán. Chỉ đến khi cục
diện trên chiến trường có lợi cho ta vào năm 1971 và Mỹ - ngụy bị thua đau
trong năm 1972 ở miền Nam và trong trận "Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội - Hải Phòng, chúng mới phải
ký kết Hiệp định Pa-ri. Ký hiệp định ngừng bắn rồi để đi đến lập Chính phủ liên
hiệp 3 thành phần nhưng chúng
vẫn ngoan cố tưởng "Việt Nam hoá chiến tranh" thành công nên lại tiếp tục chiến tranh, định xoá bỏ hiệp định để Thiệu độc quyền, cai
trị miền Nam dưới sự đô hộ của Mỹ. Chỉ đến khi ta tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh, tổng công kích - tổng nổi dậy năm 1975
mới giành được toàn thắng.
Đánh giá một thời kỳ lịch sử, một sự kiện lớn như Tết Mậu Thân là một vấn
đề rất quan trọng, phải căn cứ đúng vào hiệu quả cụ thể rõ ràng của nó, không
thể hời hợt càng không thể vì thiên kiến mà sai lầm.
Cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Tết Mậu Thân, mặc dầu
không có tổng khởi
nghĩa, chưa giành
được chính quyền về tay nhân dân, nhưng vẫn
giành được thắng lợi rất to lớn đã tạo ra bước ngoặt chiến lược quan trọng nhất
của cuộc chiến tranh, dẫn đến thắng lợi cuối cùng cho ta.
Nó đã làm cho địch lung lay
tận gốc ý chí xâm lược, không
còn mơ tìm "chiến
thắng" bằng leo thang chiến tranh cao độ khi buộc phải tỉnh ngộ rằng sức
mạnh và tiềm lực, tiền của của Hoa Kỳ là có hạn, không đủ sức bắt các dân tộc -
dầu một dân tộc nhỏ, yếu hơn - quỳ gối đầu hàng, khi dân tộc đó có đủ ý chí độc lập, tự do.
Nó đã làm cho Mỹ phải thay
đổi chiến lược chiến tranh, phải bỏ
cái lối dùng cây gậy đi chinh phục mà chịu ngồi vào bàn hội nghị nói chuyện hoà
bình. Không những phải nhận thương lượng với miền Bắc xã hội chủ nghĩa là một đối phương đáng gờm, đáng kính nể mà còn phải công nhận Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam là một lực lượng có thực chất của nhân dân miền
Nam Việt Nam, một bên đối thoại có giá trị, một bên trong bốn bên đàm phán. Phải chấm dứt hoàn toàn vô điều kiện chiến tranh phá hoại
miền Bắc bằng không quân để đi đến đàm phán hoà bình.
Tổng tiến công
nổi dậy Tết Mậu Thân là một thắng lợi hết
sức to lớn của ta, nó mở ra một
giai đoạn thắng lợi quyết định của cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt và kéo dài
30 năm của nhân dân Việt Nam anh hùng. Tuy ta có trả giá đắt, hàng vạn chiến sĩ
và cán bộ ưu tú của ta đã ngã xuống trên
chiến trường,
hàng vạn đồng bào ta đã đổ máu của mình trên khắp đô thành và làng mạc. Nhưng
thử hỏi không có sự hy sinh cao cả đúng mức thì làm gì có thắng lợi to lớn vẻ
vang dường ấy. Những dòng máu anh hùng của bao liệt sĩ - chiến sĩ và nhân dân - đổ ra trong Tết Mậu Thân là hoàn toàn có giá trị, xứng đáng với tầm vóc thắng lợi, xứng đáng- với sự nhớ
ơn muôn đời của con cháu mai sau. Nó có giá trị không riêng trong chiến cuộc Mậu Thân mà cho cả giai đoạn chiến lược cuối cùng của cuộc chiến, nó quyết định ngày toàn thắng 30 tháng 4. Tổng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là cái chìa khoá của toàn thắng trong chiến tranh vậy. Lịch sử oai hùng
của 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng oanh liệt của dân tộc Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét