Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG BÃO LŨ THỜI GIAN GẦN ĐÂY

THN

Thời gian gần đây các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc về khả năng chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong công tác phòng chống thiên tai. Họ có thể bóp méo thông tin về các quyết định, giải pháp được đưa ra, hoặc đổ lỗi cho công tác chỉ đạo khi có thiệt hại xảy ra. Cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ và kịp thời về các hoạt động chỉ đạo, điều hành, các kế hoạch ứng phó, và kết quả đạt được. Việc này giúp người dân hiểu rõ hơn về nỗ lực và hiệu quả của công tác phòng chống bão lũ, từ đó bác bỏ những thông tin sai lệch mõi công dân cần quán triệt và thực hiện tốt một số giải pháp cơ bả sau:

Một là, phản bác các luận điệu xuyên tạc về công tác chỉ đạo, điều hành về công tác cứu trợ và hỗ trợ người dân:

Các luận điệu sai trái có thể tấn công vào công tác cứu trợ, cho rằng việc phân bổ nguồn lực không công bằng, chậm trễ, hoặc có dấu hiệu tham nhũng. Họ có thể tập trung vào những trường hợp cá biệt để tạo ra cái nhìn tiêu cực. Theo đó, để hạn chế nhữn thông tin sai lệch, cần minh bạch hóa thông tin về hoạt động cứu trợ, quy trình tiếp nhận và phân phối hàng cứu trợ. Việc công khai các đoàn cứu trợ, các nguồn hỗ trợ và cách thức đến với người dân là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần xử lý nghiêm các hành vi trục lợi hoặc lợi dụng tình hình thiên tai để trục lợi.

Hai là, phản bác các luận điệu xuyên tạc về công tác cứu trợ và hỗ trợ người dân:

Các quan điểm sai trái có thể lợi dụng những thiệt hại do bão lũ để quy chụp sự yếu kém trong công tác quản lý, quy hoạch, hoặc cảnh báo thiên tai của Nhà nước. Theo đó, cần nhấn mạnh các biện pháp chủ động đã được thực hiện, như quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai, nâng cao năng lực cảnh báo sớm, và công tác diễn tập ứng phó. Việc làm rõ các quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật trong xây dựng và vận hành công trình phòng chống thiên tai cũng giúp củng cố lòng tin.

Ba là, phản bác các luận điệu quy chụp yếu kém trong quản lý:

Một phần quan trọng trong việc đấu tranh là trang bị cho người dân kiến thức và kỹ năng để nhận diện, tỉnh táo trước các thông tin sai lệch. Tăng cường tuyên truyền, đào tạo, hướng dẫn người dân các kỹ năng cần thiết để ứng phó, tự chủ và phản ứng kịp thời trước các thảm họa về thiên tai. Đồng thời, cần khuyến khích người dân chủ động tìm hiểu thông tin từ các nguồn chính thống.

Bốn là, phát huy vai trò của truyền thông và các lực lượng chức năng:

Các cơ quan truyền thông cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và phản bác các thông tin giả, sai sự thật gây hoang mang dư luận. Các lực lượng chức năng như Công an cần chủ động kiểm soát chặt chẽ thông tin trên không gian mạng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin sai lệch. Về phía Chính phủ và các bộ, ngành, như Nghị quyết số 347/NQ-CP đã nêu, công tác khắc phục hậu quả thiên tai và ổn định đời sống nhân dân là ưu tiên hàng đầu. Việc thực hiện các giải pháp một cách quyết liệt, hiệu quả, thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, là minh chứng sinh động nhất để phản bác các luận điệu xuyên tạc.

Tóm lại, các giải pháp đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về phòng chống bão lũ. Trước hết cần phải cung cấp thông tin chính thống, chủ động, kịp thời và minh bạch về công tác chỉ đạo, điều hành, cứu trợ, và các biện pháp phòng chống. Nhấn mạnh sự thật về nỗ lực của Nhà nước và lực lượng chức năng, bác bỏ các thông tin sai lệch về quản lý, cứu trợ. Trang bị kiến thức để nhận diện tin giả và chủ động tìm kiếm thông tin đáng tin cậy. Tuyên truyền thông tin đúng đắn, kiểm soát và xử lý các thông tin sai lệch trên không gian mạng.

 

 TÍCH CỰC THỂ CHẾ HÓA HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH

PHÁP LUẬT LIÊN QUA\N ĐẾN DÂN TỘC

                                                                                                                                       LHS

Thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã tích cực nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền con người trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc. Một trong những mục tiêu của nội luật hoá là đảm bảo sự tiến bộ thực sự về nhân quyền cho người DTTS.

Từ 30 văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng, đã được Nhà nước thể chế thành hệ thống chính sách dân tộc bao phủ hầu hết các lĩnh vực đời sống của đồng bào DTTS. Trong những năm qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành 125 luật, trong đó có 352 điều khoản trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các DTTS.

Hiến pháp 2013 khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Nguyên tắc không phân biệt đối xử và bình đẳng giữa tất cả các thành viên trong cộng đồng là cốt lõi của Hiến pháp và cũng được thực hiện thông qua các cải cách lập pháp có liên quan. Nguyên tắc trên được quán triệt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, là nguyên tắc cơ bản của chính sách đảm bảo quyền cho các DTTS. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật.

Đặc điểm, phần lớn các DTTS Việt Nam cư trú ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, gặp khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời với việc xác định quyền bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước Việt Nam còn khẳng định ưu tiên hỗ trợ và tăng cường đoàn kết giúp đỡ, tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực vươn lên hội nhập quốc tế. Điều đó được thể hiện tại Điều 5 Khoản 4 của Hiến pháp: “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đây là nguyên tắc, là biểu hiện đặc trưng cơ bản trong chính sách dân tộc của Việt Nam và phù hợp với Khoản 4 Điều 1 Công ước CERD.

Pháp luật Việt Nam còn có những quy định cụ thể về cấm phân biệt đối xử, được thể hiện tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 16, 26, 35) và nhiều văn bản pháp luật. Việt Nam cũng khẳng định lập trường kiên quyết phản đối và chống chia rẽ, kích động hận thù giữa các dân tộc, chủng tộc. Những hành vi phân biệt chủng tộc hoặc hỗ trợ các hoạt động gây chia rẽ, kỳ thị và phân biệt chủng tộc đều bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm, trừng trị nghiêm khắc.

HSA

                                             THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

LHS

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Kỷ - Phó Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Công an, trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn ưu tiên hỗ trợ các DTTS phát triển về mọi mặt. Từ khi gia nhập Công ước CERD, Việt Nam tiếp tục huy động nguồn lực nhằm tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS; xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Nhờ những chủ trương, chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng, Nhà nước, lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội ở vùng đồng bào DTTS đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận, được thể hiện trên những khía cạnh như sau:

Thứ nhất, bình đẳng về chính trị của các DTTS được thực hiện ngày càng hiệu quả

Từ năm 1946 đến nay, kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội nào cũng có đại diện của 28 - 32 dân tộc. Khóa I (1946), chỉ có 34 đại biểu người DTTS, tỷ lệ 10,2% thì Quốc hội Khóa XV nhiệm kỳ 2021 - 2026, đã có 89/499 đại biểu là người DTTS, tỷ lệ 17,84%, cao nhất trong các khóa Quốc hội và tiệm cận rất sát tới mục tiêu đảm bảo ít nhất 18% đại biểu Quốc hội là người DTTS.

Một số DTTS có số dân đông như Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông, Nùng… đều có đại diện qua các khóa Quốc hội với số lượng đáng kể. Một số dân tộc có dân số dưới 10.000 người sinh sống ở các vùng núi cao, hẻo lánh cũng có đại diện tham gia Quốc hội. Khóa XIV, lần đầu tiên có đại diện dân tộc Mảng (dân số dưới 5.000 người) và khóa XV, lần đầu tiên có đại diện dân tộc Brâu (dân số dưới 1.000 người) và dân tộc Lự (dân số 6.000 người) tham gia Quốc hội. Đến nay, 51/53 DTTS đã có đại diện tham gia Quốc hội các khóa, chỉ còn 2 dân tộc: Ơ đu (số dân dưới 1.000 người) và Ngái (số dân dưới 2.000 người) chưa có đại diện tham gia Quốc hội. Mục tiêu của Việt Nam là phấn đấu để các dân tộc đều có đại biểu Quốc hội.

            Về tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) là người DTTS ở cấp xã, cơ bản, các địa phương đã đạt được mục tiêu theo Quyết định số 402/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến tháng 5/2023, tỷ lệ CBCCVC người DTTS chiếm 11,5% tổng số CBCCVC. Nhiều địa phương có tỷ lệ CBCCVC người DTTS cao như: Cao Bằng 87,9%, Bắc Kạn 77,8%, Lạng Sơn 75,2%, Hà Giang 56%, Sơn La 53%, Hòa Bình 50,3%, Điện Biên 46,4%, Tuyên Quang 38%, Lào Cai 37,5%.

Thứ hai, kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS phát triển vượt bậc

Những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng Việt Nam đã ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Giai đoạn 2003 - 2008, khoảng 250.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 690.000 tỷ đồng, giai đoạn 2016 - 2020 là 998.000 tỷ đồng. Giai đoạn 2021 - 2025, lần đầu tiên, Việt Nam có Chương trình mục tiêu quốc gia dành riêng cho vùng đồng bào vùng DTTS và miền núi, thể hiện sự quan tâm đặc biệt, là quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao vị thế và đảm bảo quyền phát triển cho đồng bào DTTS. Giai đoạn này, Quốc hội phê duyệt chủ trương bố trí trên 137 nghìn tỷ đồng để thực hiện Chương trình.

Theo báo cáo số 732/BC-UBDT ngày 10/6/2021 của Ủy ban Dân tộc tổng kết 8 năm thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2013 - 2020, nhờ các chính sách dân tộc, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm. Bình quân toàn vùng DTTS và miền núi giảm 4%/năm; các xã đặc biệt khó khăn giảm trên 4%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 5 - 6%/năm trở lên, trong khi cả nước tốc độ giảm chỉ là 2%/năm.

Tỷ lệ hộ nghèo DTTS còn khoảng 33% (giảm 5,62%) so với chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao. Một số tỉnh ước tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh: An Giang giảm 11,3%, Quảng Nam giảm 10,4%, Quảng Trị giảm 6,73%... Các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Cần Thơ, Đồng Nai, Long An, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 1%; tỉnh Quảng Ninh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Trung ương. Kết quả giảm nghèo đa chiều đã làm thay đổi căn bản đời sống của đồng bào.

Toàn quốc có 7,9 triệu lao động DTTS có việc làm, chiếm 82,1% tổng số người DTTS từ 15 tuổi trở lên. Tỷ lệ thất nghiệp của người DTTS chỉ là 1,4%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc.

Hơn 1,4 triệu hộ DTTS đang được thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng ưu đãi. Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội: dư nợ đối với khách hàng là đồng bào DTTS trên 75 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7%/tổng dư nợ; bình quân 01 hộ DTTS dư nợ đạt trên 50 triệu đồng (bình quân chung toàn quốc là 45 triệu đồng). Thông qua vốn tín dụng chính sách, đồng bào DTTS đã có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm bệnh tật, giảm thất học và tệ nạn xã hội, thêm tự tin, tăng dần vị thế trong xã hội.

Nhà nước còn hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS ở vùng khó khăn. Hiện nay, 96,12% người DTTS sử dụng thẻ bảo hiểm y tế. Số người nghèo, người DTTS tham gia thực hiện khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đạt gần 43 triệu lượt người, chiếm 24% số người tham gia bảo hiểm y tế toàn quốc.

Khi gặp rủi ro bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh… đồng bào DTTS được Nhà nước hỗ trợ kịp thời. Điển hình lúc dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, Ủy ban Dân tộc đã kịp thời hỗ trợ bệnh nhân F­0 và F1 người DTTS tại tỉnh Điện Biên và Bắc Giang tổng số tiền 837,5 triệu đồng, hỗ trợ ổn định đời sống đối với học sinh DTTS một số trường dự bị đại học…

Đồng bào DTTS, phụ nữ, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo ngày càng có nhiều cơ hội được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Bệnh sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; tuổi thọ trung bình của 53 DTTS đạt 70,7 tuổi, tăng 0,8 năm so với năm 2015, tiến khá gần tới mức chung của cả nước (73,6 tuổi). Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm mạnh qua từng năm. Thành tựu về giảm suy dinh dưỡng trẻ em và giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em của Việt Nam đã đảm bảo tiến độ thực hiện Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ.

Quy mô, mạng lưới trường, lớp vùng DTTS và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở là thành tựu nổi bật của Việt Nam được ghi nhận tại nhiều diễn đàn quốc tế.

Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các DTTS được thực hiện hiệu quả. Nhiều lễ hội truyền thống lành mạnh được phục hồi, phát triển và hình thành mới, góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Về nhà ở, 95% hộ DTTS đang sống trong những ngôi nhà thuộc quyền sở hữu riêng; 96,7% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 88,6% hộ được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh; 59,6% hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh, vượt mục tiêu đề ra đến năm 2020 gần 20%.

Tivi đã trở thành thiết bị sinh hoạt phổ biến của hộ DTTS với 81,5% số hộ sử dụng. Cơ hội tiếp cận thông tin của người DTTS ngày càng được mở rộng với tỷ lệ hộ sử dụng Internet đạt 61,3%, tăng hơn 9 lần so với năm 2015.

Hệ thống các chính sách dân tộc hiện nay được đánh giá là cơ bản đã bao phủ toàn diện các lĩnh vực đời sống, kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng, an ninh tại vùng DTTS và miền núi. Những thành tựu trong nội luật hóa và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta là minh chứng thuyết phục phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về cái gọi là “Đảng, Nhà nước Việt Nam “phân biệt đối xử” với các DTTS” hoặc “chính sách ngược đãi các DTTS đang diễn ra ở Việt Nam”./.

 SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TA NHẰM PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN

HPĐ

Việc dựa vào Nhân dân, tôn trọng và nâng cao quyền làm chủ của Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân là vấn đề vô cùng quan trọng hiện nay, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Thông qua hoạt động giám sát của Nhân dân nhằm đẩy mạnh thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Trải qua các giai đoạn, thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã dần hoàn thiện, phát triển tư duy về dân giám sát và phát huy vai trò giám sát của Nhân dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân”.

Văn kiện Đại hội XIII nêu phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về nâng cao vị trí, vai trò của Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng; đồng thời, thể hiện sự quan tâm đặc biệt với chủ trương nhất quán, xuyên suốt các kỳ Đại hội và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, đổi mới và hoàn thiện thể chế đối với việc xác lập và đảm bảo dân chủ cơ sở, đảm bảo quyền làm chủ thực sự của Nhân dân.

 Sau 40 năm đổi mới, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, được mọi tầng lớp Nhân dân đồng tình ủng hộ và ngày càng phát huy hiệu quả trên thực tế. Theo đó, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước liên quan đến cuộc sống Nhân dân, vận mệnh đất nước, dân tộc đều được phổ biến đến quần chúng Nhân dân thông qua nhiều hình thức khác nhau, nhất là tuyên truyền để dân hiểu, nắm rõ, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, người dân trực tiếp thực hiện, hành động, làm việc, đưa chủ trương, nghị định, chính sách, pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm hiệu quả. Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan Nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân.

Để thực sự phát huy quyền làm chủ của Nhân dân hơn nữa, Đại hội XIII đã bổ sung nội dung “dân giám sát”, “dân thụ hưởng”. Đây là sự phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện chủ trương của Đảng về dân chủ. Ở đây, “dân giám sát” là Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Giám sát cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không bằng hình thức trực tiếp, hoặc gián tiếp. “Dân thụ hưởng” tức là Nhân dân được nhận, hưởng thụ thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Đồng thời, Nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì Nhân dân, bảo đảm quyền con người được thực hiện một cách triệt để, lan tỏa những giá trị nhân văn, tiến bộ đúng với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Việc thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã góp phần tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội./.

 

 

TẤT CẢ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THUỘC VỀ NHÂN DÂN

LHS

 

Hồ Chí Minh: Nhân dân là quốc dân, đồng bào, tất cả những ai là con lạc cháu hồng ủng hộ mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng nước Việt nam giàu mạnh.

Tại khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 trang trọng khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” Khẳng định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” đi liền với việc khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ”. Quy định ấy cũng đi kèm với quy định tại Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 theo đó “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”

Khác với quan niệm về nhân dân

Dưới chế độ phong kiến: coi quần chúng nhân dân lao động chủ yếu là nông dân - lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội; Quan như chim ưng, dân như vịt, lấy vịt nuôi chim ưng là dễ hiểu.

Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến Việt nam coi quần chúng nhân dân là công nhân và nông dân, nhưng đông đảo nhất là nông dân.

Chế độ tư bản: Quần chúng nhân dân là một dãy số không – Nếu không có lãnh tụ, dân không là gì

Tuy nhiên, một số tổ chức và cá nhân nước ngoài với nhiều lý do, trong đó có những dụng ý xấu, đã có những bình luận thiếu khách quan về quyền làm chủ của nhân dân ta. Những tiếng nói trái chiều nêu trên chỉ là số ít, thể hiện một cách nhìn định kiến, phiến diện, mang tính áp đặt, bất chấp xu thế tiến bộ chung, cũng như thực tế phát triển ở Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng

Tăng c­ường mối quan hệ giữa đảng với nhân dân; kiên quyết đấu tranh quan điểm tư tưởng thù địch về quyền làm chủ của nhân dân

Đảng là đội tiền phong của GCCN, đồng thời là đội tiền phong của NDLĐ và của cả dân tộc. Đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN, NDLĐ và của cả dân tộc. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm cho Nhà nước ta là của dân, do dân vì dân và mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Để ngăn chặn các chiêu bài mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng dân chủ, phủ nhận vai trò của nhân dân, công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động này, do vậy

Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước; Chăm lo thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, xử lý đúng đắn, kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Điều hoà hợp lý lợi ích xã hội của các tầng lớp dân cư, các vùng, miền, lĩnh vực; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần nhân dân, nhất là bộ phận có nhiều khó khăn trong công nhân, nông dân, đồng bào các dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa.

Hoàn thiện những thiết chế thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Tăng cường hoạt động nhân đạo, từ thiện, tương thân, tương ái và công tác vận động đồng bào ta định cư ở nước ngoài.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mọi quân nhân cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ quyền lợi, lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân./.

 

 


 ĐẤU TRANH BÁC BỎ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT VỀ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2026-2030 VÀ DỰ ÁN TRỤC ĐẠI LỘ CẢNH QUAN SÔNG HỒNG

LMH

Trong những năm gần đây, cùng với thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, nước ta đứng trước nhiều cơ hội phát triển đan xen không ít thách thức. Tuy nhiên, càng trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh hiện đại hóa, thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng gia tăng hoạt động chống phá trên không gian mạng. Chúng lợi dụng những vấn đề kinh tế – xã hội, nhất là các chủ trương phát triển lớn như mục tiêu tăng trưởng giai đoạn 2026–2030 hay các dự án hạ tầng trọng điểm, điển hình là Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, để tung tin thất thiệt, xuyên tạc, bịa đặt nhằm gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, phá hoại sự đồng thuận xã hội.

Trước thực trạng đó, việc nhận diện đúng bản chất, đấu tranh phản bác kịp thời các luận điệu sai trái là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định xã hội và tạo môi trường thuận lợi để thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước.

Một trong những luận điệu xuyên tạc phổ biến là cho rằng mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030 là “phi thực tế”, “chạy theo thành tích”, hoặc “đánh đổi môi trường và an sinh xã hội”. Đây là sự áp đặt chủ quan, cố tình bóp méo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Trên thực tế, mọi mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đều được xây dựng trên cơ sở khoa học, đánh giá đầy đủ tiềm năng, lợi thế, xu thế phát triển trong nước và quốc tế, đồng thời dự báo những biến động có thể xảy ra. Các chỉ tiêu tăng trưởng không phải là mong muốn cảm tính, mà được hình thành từ quá trình tổng kết thực tiễn, phân tích dữ liệu, tham vấn chuyên gia, rà soát các nguồn lực về con người, hạ tầng, khoa học - công nghệ, thể chế, cũng như khả năng hấp thụ của nền kinh tế.

Quan trọng hơn, định hướng phát triển giai đoạn 2026–2030 không chỉ nhấn mạnh “tốc độ”, mà đề cao chất lượng tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với đổi mới mô hình phát triển, chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, tăng năng suất lao động, thúc đẩy khoa học – công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đây là xu hướng tất yếu nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, tránh bẫy thu nhập trung bình, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Những luận điệu kiểu “tăng trưởng bằng mọi giá” đã cố tình bỏ qua thực tế rằng trong các chiến lược phát triển, các vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội luôn được xác định là trụ cột. Bởi không có môi trường bền vững thì tăng trưởng không thể lâu dài; không có an sinh xã hội và đồng thuận nhân dân thì phát triển không thể vững chắc.

Do đó, việc khẳng định mục tiêu tăng trưởng giai đoạn 2026–2030 là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Những thông tin xuyên tạc chỉ nhằm tạo tâm lý bi quan, gây nghi ngờ, làm giảm động lực xã hội trong quá trình triển khai các chủ trương phát triển.

Đối với Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, các đối tượng chống phá thường sử dụng những chiêu bài quen thuộc như: “dự án phục vụ lợi ích nhóm”, “phá vỡ hệ sinh thái”, “tước đoạt quyền lợi người dân”, “vẽ dự án để phân lô”, hoặc “gây nợ công”. Những lời lẽ ấy nghe có vẻ đánh vào tâm lý lo ngại, nhưng thực chất là sự suy diễn thiếu căn cứ và nhằm kích động mâu thuẫn.

Trước hết, cần khẳng định rằng quy hoạch và đầu tư hạ tầng, nhất là hạ tầng trục cảnh quan – giao thông ven sông, là một nội dung phổ biến trong phát triển đô thị hiện đại trên thế giới. Các đô thị lớn đều hướng đến việc “quay mặt ra sông”, biến không gian ven sông thành động lực phát triển kinh tế, du lịch, văn hóa, đồng thời tạo vành đai xanh, nâng cao khả năng thoát nước, tăng sức chống chịu trước thiên tai.

Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, nếu được triển khai theo đúng quy hoạch, là một bước cụ thể hóa tư duy phát triển đô thị bền vững: Tạo không gian công cộng chất lượng cao cho người dân, mở rộng diện tích cây xanh, công viên, quảng trường, đường dạo; cải thiện hạ tầng giao thông, kết nối khu vực, giảm tải các tuyến đường hiện hữu; nâng cao hiệu quả quản lý không gian ven sông, khắc phục tình trạng phát triển tự phát, lấn chiếm, ô nhiễm, nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa lũ; thúc đẩy phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch, văn hóa, tạo thêm việc làm, gia tăng nguồn thu bền vững, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.

Quan trọng không kém, mọi dự án liên quan đến không gian sông Hồng đều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về đê điều, thủy lợi, phòng chống thiên tai, đánh giá tác động môi trường và tham vấn cộng đồng. Các cơ quan quản lý có trách nhiệm bảo đảm dự án không phá vỡ hệ sinh thái, không xâm phạm hành lang bảo vệ sông, đồng thời có phương án di dời, giải phóng mặt bằng và tái định cư bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân theo quy định pháp luật.

Vì vậy, không thể đánh đồng một dự án quy hoạch – hạ tầng mang tầm nhìn dài hạn với những cáo buộc cảm tính như “phân lô”, “tước đoạt đất đai” hay “bán sông”. Cần nhìn nhận công bằng rằng phát triển đô thị và hạ tầng tất yếu có tác động tới đời sống dân cư ở một mức độ nhất định, nhưng Nhà nước luôn có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa Nhà nước – doanh nghiệp – người dân, công khai minh bạch, có cơ chế giám sát, phản biện và điều chỉnh khi cần thiết.

Điều đáng nói là các luận điệu xuyên tạc không tự nhiên xuất hiện, mà là kết quả của một chiến lược chống phá có tính toán. Các đối tượng phản động thường sử dụng những thủ đoạn tinh vi:

Thứ nhất, cắt ghép, bóp méo thông tin từ văn bản quy hoạch, nghị quyết hoặc phát biểu của lãnh đạo để tạo ra “một nửa sự thật”, khiến người đọc dễ hiểu sai. Thứ hai, tung tin đồn thất thiệt theo kiểu “nghe nói”, “nguồn tin nội bộ”, “rò rỉ”, nhằm tạo cảm giác bí mật, kích thích tâm lý tò mò, từ đó lan truyền mạnh. Thứ ba, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm như đất đai, môi trường, tái định cư để kích động tâm lý bức xúc, thổi phồng mâu thuẫn, biến các vấn đề cần giải quyết theo pháp luật thành xung đột xã hội. Thứ tư, sử dụng mạng xã hội, các kênh YouTube, Facebook, TikTok nặc danh để tạo “hiệu ứng đám đông”, lập hội nhóm, dựng các “chuyên gia tự phong”, đánh tráo khái niệm nhằm dẫn dắt dư luận theo hướng chống đối.

Mục đích cuối cùng của chúng không phải là “phản biện xây dựng” như chúng ngụy trang, mà là phá hoại sự đồng thuận xã hội, gây mất ổn định chính trị – xã hội, làm suy yếu niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Khi lòng tin bị lung lay, việc triển khai các chủ trương phát triển sẽ gặp khó khăn, từ đó tạo khoảng trống để các thế lực thù địch tiếp tục xuyên tạc, chống phá.

Đấu tranh phản bác thông tin xấu độc không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mỗi người dân khi tiếp cận thông tin trên mạng cần nâng cao “sức đề kháng” trước tin giả, tin xuyên tạc bằng cách:

Kiểm chứng thông tin từ nguồn chính thống: cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, báo chí chính thống. Không chia sẻ, bình luận theo cảm xúc khi chưa rõ đúng sai; tránh trở thành “mắt xích” lan truyền tin giả. Tôn trọng sự thật, phản biện trên tinh thần xây dựng, dựa trên dữ liệu, căn cứ pháp lý. Ủng hộ các chủ trương phát triển bền vững, đồng thời tích cực góp ý để chính sách ngày càng phù hợp thực tiễn. Phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2030 và các dự án hạ tầng chiến lược như Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng là những bước đi cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng sống và tạo động lực phát triển lâu dài. Đương nhiên, trong quá trình triển khai sẽ phát sinh các vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh, nhưng đó là công việc bình thường của quản trị quốc gia hiện đại, và phải được giải quyết bằng cơ chế pháp luật, đối thoại, minh bạch và giám sát xã hội.

Những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt về mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030 và Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng không xuất phát từ thiện chí xây dựng, mà là một phần trong âm mưu chống phá của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ lòng dân, gây bất ổn xã hội. Thực tiễn cho thấy, mọi mục tiêu phát triển và quy hoạch hạ tầng ở nước ta luôn được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn, hướng tới phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng với bảo vệ môi trường và an sinh xã hội.

Trong bối cảnh không gian mạng ngày càng trở thành “mặt trận” quan trọng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, kiên quyết đấu tranh, không để bị lôi kéo bởi các thông tin sai trái; đồng thời chủ động lan tỏa thông tin đúng đắn, góp phần củng cố đồng thuận xã hội, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới./.

 PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM - TIẾP CẬN ĐÚNG ĐẮN TỪ CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN

                                                                                   PVH

    Trong những năm gần đây, trên không gian mạng và một số diễn đàn quốc tế xuất hiện nhiều thông tin thiếu kiểm chứng, thậm chí xuyên tạc, vu cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Các nội dung này thường được thể hiện dưới dạng “báo cáo độc lập”, “phân tích học thuật” hoặc “kêu gọi nhân quyền”, nhưng lại sử dụng nguồn tin một chiều, cắt ghép bối cảnh, đánh tráo khái niệm và suy diễn chủ quan. Điều đáng chú ý là một số luận điệu nhân quyền không nhằm thúc đẩy bảo vệ quyền con người thực chất, mà nhằm tạo sức ép chính trị, gây hoài nghi xã hội và bao che cho những hành vi vi phạm pháp luật dưới lớp vỏ “quyền tự do”.

    Để nhìn nhận đúng đắn vấn đề, cần bám chắc ba điểm: (1) bản chất và nguyên tắc của quyền con người theo luật quốc tế; (2) khuôn khổ pháp luật – chính sách và kết quả thực thi ở Việt Nam; (3) cách thức một số đối tượng lợi dụng diễn ngôn nhân quyền để hợp thức hóa hành vi vi phạm pháp luật và gây nhiễu cơ chế quốc tế.

Một thủ đoạn phổ biến trong các luận điệu xuyên tạc là đánh đồng hành vi vi phạm pháp luật với việc “thực hiện quyền con người”. Khi bị xử lý theo quy định pháp luật, một số cá nhân hoặc tổ chức lại cố tình gắn nhãn “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động” hay “người bảo vệ nhân quyền”, từ đó biến câu chuyện pháp lý thành “vụ việc nhân quyền”, thậm chí kêu gọi can thiệp từ bên ngoài.

Cần khẳng định rõ: quyền con người là phổ quát, nhưng việc thực hiện quyền luôn gắn với nghĩa vụ tôn trọng quyền và lợi ích của người khác, trật tự công cộng, đạo đức xã hội và an ninh quốc gia. Đây không phải quan điểm riêng của Việt Nam mà được thừa nhận rộng rãi trong luật quốc tế. Ngay cả những quyền cơ bản như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội… cũng có thể bị giới hạn bằng luật trong những trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự, sức khỏe cộng đồng, đạo đức xã hội, cũng như quyền và uy tín của người khác.

Vì vậy, không thể lấy danh nghĩa nhân quyền để: kích động bạo lực, thù hận, chia rẽ dân tộc; xuyên tạc sự thật nhằm gây hoang mang xã hội; kêu gọi, tổ chức hoạt động phá hoại trật tự công cộng hoặc thực hiện hành vi xâm hại an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Một nhà nước pháp quyền không thể dung thứ cho việc “đứng ngoài pháp luật” dưới bất kỳ nhãn mác nào. Tôn trọng nhân quyền phải đi liền với tôn trọng pháp luật.

    Các thông tin sai lệch về nhân quyền ở Việt Nam thường lặp lại một số mô típ quen thuộc:Thứ nhất, thổi phồng cá biệt thành phổ biến. Một số vụ việc đơn lẻ, thậm chí chưa được kiểm chứng, bị suy diễn thành “tình trạng có hệ thống”, phủ nhận mọi nỗ lực và thành tựu bảo đảm quyền con người. Thứ hai, cắt ghép pháp luật theo hướng phiến diện. Họ chỉ trích một số quy định của pháp luật Việt Nam nhưng bỏ qua toàn bộ hệ thống bảo đảm quyền hiến định, cũng như cơ chế tố tụng, giám sát quyền lực, quyền bào chữa, quyền tiếp cận công lý. Thứ ba, đánh tráo giữa “phê bình chính sách” và “xâm phạm lợi ích công cộng”. Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận và phản biện xã hội. Nhưng phản biện không đồng nghĩa với tung tin bịa đặt, vu khống, xúc phạm danh dự người khác, hoặc tổ chức hành vi gây rối, chống phá. Thứ tư, sử dụng “chuẩn mực kép”. Có những chủ thể lên án Việt Nam về giới hạn quyền trong khi chính quốc gia của họ cũng có các cơ chế hạn chế tương tự, thậm chí nghiêm ngặt hơn, đặc biệt trong bối cảnh chống khủng bố, an ninh mạng, bạo lực cực đoan. Những thủ đoạn trên làm méo mó khái niệm nhân quyền, biến nhân quyền thành công cụ gây áp lực và can thiệp, thay vì thúc đẩy hợp tác quốc tế lành mạnh.

Một điểm rất đáng chú ý là việc một số đối tượng tận dụng cơ chế quốc tế (các thủ tục đặc biệt, các báo cáo “tự do”, vận động nghị viện, chiến dịch truyền thông) để tạo “vỏ bọc” cho hành vi vi phạm pháp luật. Cơ chế này thường diễn ra theo chuỗi: Tạo sự kiện truyền thông (thông tin một chiều, nội dung gây sốc, cắt ghép video/hình ảnh); gắn nhãn nhân quyền cho hành vi bị xử lý theo pháp luật; vận động quốc tế thông qua thư ngỏ, kiến nghị, báo cáo; gây sức ép lên đối tác, nhà tài trợ hoặc cơ quan lập pháp nước ngoài; tạo “hào quang nạn nhân”, biến người vi phạm thành biểu tượng, từ đó kêu gọi tài trợ, hậu thuẫn và kích động sự đối đầu. Cần nhấn mạnh: cơ chế nhân quyền quốc tế được thiết kế nhằm thúc đẩy tôn trọng quyền con người, đối thoại và hợp tác. Nhưng nếu bị lợi dụng theo hướng chính trị hóa, nó sẽ làm suy yếu chính mục tiêu nhân quyền và gây tổn hại tới môi trường hợp tác giữa các quốc gia.

    Việt Nam nhất quán quan điểm: con người là trung tâm, chủ thể và động lực của phát triển; bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu vừa là điều kiện của phát triển bền vững. Quan điểm này được thể hiện trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật, chiến lược phát triển, và được triển khai thông qua các chính sách về giảm nghèo, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ nhóm yếu thế, quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật…

Tuy nhiên, Việt Nam cũng khẳng định nguyên tắc nền tảng: Quyền con người gắn với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và lợi ích quốc gia – dân tộc. Một quốc gia không thể bảo đảm thực chất quyền con người nếu bị can thiệp, bị phá hoại ổn định chính trị – xã hội hoặc bị chia rẽ dân tộc. Thực hiện quyền con người phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; không có “vùng miễn trừ” dưới bất kỳ danh nghĩa nào. Hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ, giữa tự do cá nhân và lợi ích cộng đồng. Đây là nguyên tắc phổ biến của nhà nước pháp quyền hiện đại. Tôn trọng và thực thi các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia, đồng thời khẳng định việc thực thi phải phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia theo tinh thần tôn trọng chủ quyền.

Thực tiễn cho thấy, quyền con người không chỉ đo bằng tranh luận trên mạng hay các bản báo cáo thiếu khách quan, mà bằng chất lượng sống thực tế của người dân: cơ hội việc làm, tiếp cận giáo dục – y tế, mức độ an toàn xã hội, khả năng tham gia đời sống chính trị – xã hội, quyền được sống trong môi trường hòa bình và ổn định.

    Để chủ động ngăn chặn và phản bác thông tin sai lệch, cần tập trung: Công khai, minh bạch thông tin; nâng cao hiểu biết pháp luật và kỹ năng số; tăng cường truyền thông bằng chứng; thúc đẩy đối thoại và hợp tác quốc tế thực chất.

    Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là quá trình liên tục, gắn với phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo về nhân quyền ở Việt Nam, dù dưới vỏ bọc “tự do” hay “cơ chế quốc tế”, nếu dựa trên thông tin một chiều, cắt ghép bối cảnh và đánh tráo khái niệm, đều không phản ánh đúng bản chất vấn đề.

    Việt Nam kiên định thực hiện quyền con người trên nền tảng độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia – dân tộc và trật tự pháp luật, phù hợp Hiến pháp và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, Việt Nam sẵn sàng đối thoại, hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và không can thiệp, vì mục tiêu chung là thúc đẩy quyền con người một cách thực chất, toàn diện và bền vững./.

 GIỮ HÒA BÌNH ĐỂ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC - CÂU TRẢ LỜI ĐANH THÉP TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

TDL

    Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng hoạt động xuyên tạc đường lối đối ngoại, quốc phòng của Việt Nam. Với thủ đoạn quen thuộc là “đổi trắng, thay đen”, họ cố tình bóp méo chủ trương nhất quán của Đảng, hạ thấp uy tín quốc gia, gây nhiễu loạn nhận thức xã hội, từng bước thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Trước thực trạng đó, việc nhận diện đúng bản chất, chỉ rõ động cơ chính trị và phản bác các luận điệu sai trái bằng lập luận khoa học có ý nghĩa rất quan trọng. Đây không chỉ là yêu cầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, lan tỏa hình ảnh Việt Nam yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

    Thời gian qua, các thế lực thù địch tập trung chống phá mạnh vào lĩnh vực đối ngoại quốc phòng. Chúng xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không”, quy chụp rằng Việt Nam “tự trói tay”, “từ bỏ liên minh”, “sẽ bị cô lập” trước các thách thức an ninh. Đồng thời, bóp méo quan điểm giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, suy diễn rằng Việt Nam “nhún nhường”, “thiếu kiên quyết”, từ đó gây hoài nghi về năng lực bảo vệ chủ quyền. Một số luận điệu khác lại xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, cho rằng Việt Nam “đứng giữa”, “không dứt khoát”, gây tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh.

    Điểm chung của các luận điệu này là cố tình tách rời quốc phòng - an ninh với đối ngoại và phát triển, kích động tâm lý cực đoan “chọn phe”, phủ nhận nguyên tắc tối thượng là lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời phủ nhận phương châm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững.

             Về bản chất, đây là sự suy diễn có chủ ý, “đảo lộn quan hệ biện chứng” giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế. Các đối tượng thù địch thổi phồng cái gọi là “tác động tiêu cực” nhằm gieo rắc tâm lý bất an, từ đó phủ nhận nỗ lực giữ gìn hòa bình của Việt Nam. Việc xuyên tạc chính sách “bốn không” thực chất nhằm gieo rắc nhận thức sai lầm rằng Việt Nam “không hợp tác quốc phòng”, từ đó làm suy giảm niềm tin xã hội.

    Thực tế hoàn toàn ngược lại. Chủ trương nhất quán của Việt Nam là mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với luật pháp quốc tế, vì hòa bình và ổn định, không tham gia liên minh quân sự để chống lại nước khác. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc tối thượng là “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc” trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Văn kiện Đại hội XIII cũng khẳng định rõ bản sắc và vị thế đối ngoại của Việt Nam: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Thực tiễn đối ngoại thời gian qua đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng Việt Nam “bị cô lập” hoặc “không có tiếng nói”. Ngược lại, chính sự nhất quán, minh bạch và trách nhiệm đã giúp Việt Nam ngày càng nâng cao uy tín và vị thế trên trường quốc tế.

Một trong những nội dung bị xuyên tạc nhiều nhất là quan điểm “giữ vững hòa bình” và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Một số đối tượng cố tình đánh tráo khái niệm, cho rằng “hòa bình” đồng nghĩa với “yếu mềm”. Đây là ngụy biện. Giữ vững hòa bình để phát triển là lựa chọn chiến lược, thể hiện tầm nhìn dài hạn và bản lĩnh chính trị của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện đại, sức mạnh quốc gia không chỉ được đo bằng tiềm lực quân sự, mà còn bởi “thế và lực tổng hợp”, bao gồm kinh tế, khoa học, công nghệ, đoàn kết xã hội và uy tín quốc tế.

Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam là chính sách minh bạch, mang tính tự vệ và hợp tác. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 khẳng định rõ quan điểm “giữ nước từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình, đồng thời nhấn mạnh chủ trương “kiên quyết, kiên trì giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Như vậy, “bốn không” không làm suy yếu quốc phòng, mà ngược lại, tạo khuôn khổ chính sách giúp Việt Nam giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết sách quốc phòng; tránh bị cuốn vào các cuộc đối đầu chiến lược; không trở thành “bàn cờ” của nước lớn; đồng thời mở rộng hợp tác quốc phòng thực chất, tăng cường lòng tin, phòng ngừa xung đột.

Trước sự chống phá ngày càng tinh vi trên không gian mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng; chủ động nhận diện thông tin xấu độc; phản bác bằng lý lẽ sắc bén, dẫn chứng chính thống; lan tỏa thông điệp tích cực về Việt Nam hòa bình, hợp tác và phát triển; qua đó bảo vệ hình ảnh, uy tín quốc gia, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, tăng cường đồng thuận xã hội, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch./.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM RỬA TIỀN,

THAM NHŨNG VÀ MA TÚY Ở VIỆT NAM

THN

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lợi dụng tính chất phức tạp, nhạy cảm của các lĩnh vực của đời sống xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã cố tình đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong công tác phòng, chống tội phạm, qua đó gây hoài nghi trong dư luận quốc tế và trong nhân dân.

1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, rửa tiền và ma túy để tuyên truyền, xuyên tạc

Các thế lực thù địch phản động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Một số đối tượng cho rằng tham nhũng ở Việt Nam là “có hệ thống”, “không thể kiểm soát”, từ đó quy kết sai trái rằng công tác phòng, chống tham nhũng chỉ mang tính hình thức. Chúng cố tình bóp méo nguyên tắc thượng tôn pháp luật, xuyên tạc các quy trình điều tra, truy tố, xét xử, nhằm gây nghi ngờ về tính công bằng, độc lập của hệ thống tư pháp Việt Nam. Phủ nhận nỗ lực, thành tựu của Việt Nam, hạ thấp uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là trong quản lý nhà nước, quản lý tài chính, tài sản công, hoạt động đầu tư, ngân hàng và các dòng tiền xuyên biên giới. Những thủ đoạn trên không nhằm mục đích xây dựng hay góp ý thiện chí, mà chủ yếu phục vụ ý đồ chính trị, gây mất ổn định tư tưởng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, cản trở tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước.

Chúng thường vin vào các khuyến nghị kỹ thuật, các đợt đánh giá đa phương để thổi phồng khó khăn, hạn chế, từ đó quy kết rằng Việt Nam “không minh bạch tài chính”, “là điểm nóng rửa tiền trong khu vực”. Chúng cố tình không nhắc đến thực tế rằng phòng, chống rửa tiền là thách thức chung của toàn cầu, kể cả với các quốc gia phát triển; cũng không đề cập đến nỗ lực nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế, cải cách mạnh mẽ hệ thống pháp luật và tăng cường năng lực thực thi của Việt Nam trong những năm qua.

Trong công tác phòng, chống ma túy, chúng đưa ra những luận điệu sai trái thường tập trung xuyên tạc nguyên tắc xét xử, điều tra; quy kết Việt Nam “vi phạm nhân quyền” khi xử lý tội phạm ma túy nghiêm trọng; hoặc cho rằng Việt Nam “không kiểm soát được” tình hình ma túy. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng sự khác biệt về thể chế, pháp luật và văn hóa pháp lý giữa các quốc gia để áp đặt quan điểm, tiêu chuẩn một cách phiến diện, thiếu khách quan, đi ngược lại các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Kết quả đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tội phạm rửa tiền và ma túy những năm qua.

Nhận thức rõ công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tội phạm rửa tiền và ma túy là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; không có vùng cấm, không có ngoại lệ.”. Kết luận số 21-KL/TW năm 2021 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cùng với tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; nhiều luật, chiến lược, chương trình quốc gia đã được ban hành và triển khai nghiêm túc, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm. Đặc biệt, nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” thể hiện rõ tính thượng tôn pháp luật và sự công bằng trong xử lý vi phạm, tạo chuyển biến rõ rệt, hàng loạt vụ án liên quan đến tham nhũng, kinh tế lớn đặc biệt nghiêm trọng được phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử nghiêm minh như các vụ việc liên quan đến quản lý đất đai, đấu thầu, đấu giá, quản lý tài sản công, đầu tư công, ngân hàng, y tế, giáo dục, đăng kiểm, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp... tài sản tham nhũng từng bước được thu hồi; kỷ luật Đảng và xử lý hình sự được thực hiện đồng bộ, đúng người, đúng tội. (trong đó có cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý và cán bộ đã nghỉ hưu). Việc xét xử công khai, nghiêm minh các vụ án lớn đã tạo hiệu ứng răn đe mạnh mẽ, củng cố niềm tin của nhân dân, trực tiếp bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam “né tránh” xử lý cán bộ cấp cao.

Công tác phòng, chống rửa tiền: Sau khi Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 có hiệu lực, các cơ quan chức năng đã tăng cường: Thanh tra, kiểm tra các tổ chức tín dụng; phát hiện và xử lý các giao dịch đáng ngờ; trao đổi thông tin với cơ quan thực thi pháp luật trong và ngoài nước. Nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và xã hội về phòng, chống rửa tiền ngày càng được nâng cao; ý thức tuân thủ pháp luật về phòng, chống rửa tiền của hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp được nâng lên rõ rệt, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường tài chính.

Công tác phòng, chống ma túy: triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, kiểm soát, cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng; triệt phá nhiều đường dây, tổ chức tội phạm ma túy xuyên quốc gia; tích cực chủ động tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế về phòng, chống ma túy, thể hiện trách nhiệm của một quốc gia thành viên tích cực của Liên hợp quốc. Hằng năm, các lực lượng chức năng triệt phá hàng nghìn vụ án ma túy, thu giữ số lượng lớn heroin, ma túy tổng hợp, cần sa và các chất hướng thần mới. Nhiều đường dây ma túy xuyên quốc gia qua biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia - Trung Quốc bị bóc gỡ.

Tóm lại, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tội phạm rửa tiền và ma túy có thể khẳng định rằng, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch thời gian qua là hoàn toàn sai trái, thiếu khách quan và mang động cơ chính trị xấu. Việc kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mở rộng hợp tác quốc tế chính là con đường đúng đắn để Việt Nam khẳng định uy tín, vị thế và trách nhiệm của mình trong cộng đồng quốc tế.

 

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỘC QUYỀN LÃNH ĐẠO”, “CẢN TRỞ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN”

VÀ GÂY “TRÌ TRỆ”

THN

Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị thường ráo riết đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Một trong những luận điệu xuyên tạc nguy hiểm nhất mà chúng thường xuyên sử dụng là cáo buộc Đảng Cộng sản Việt Nam “độc quyền lãnh đạo”, “cản trở sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (NNPCXHCN)”, và do đó, gây ra “trì trệ” trong điều hành đất nước. Những luận điệu này không chỉ sai về bản chất mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây hoang mang trong dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ ta.

Bản chất sai lầm của luận điệu “Độc quyền lãnh đạo” của các thế lực thù địch đó là: Cố tình bóp méo bản chất mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như vai trò của Đảng đối với sự phát triển của đất nước. Bởi lẽ, Đảng lãnh đạo trên cơ sở tự nguyện trao quyền của nhân dân: Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không phải là sự áp đặt hay “độc quyền” theo nghĩa tiêu cực, mà là sự tự nguyện ủy thác của nhân dân. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Chính Đảng cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay là minh chứng sinh động cho vai trò lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng.

Điều 4 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Quy định này không phải là sự ban phát quyền lực, mà là sự ghi nhận vai trò lịch sử và ý chí của nhân dân Việt Nam trong việc lựa chọn con đường phát triển. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định thành công của Nhà nước pháp quyền: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không hoạt động trong chân không mà hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quan hệ này là bổ trợ lẫn nhau và cùng phát triển: Đảng lãnh đạo để Nhà nước thực hiện đúng định hướng XHCN: Đảng đề ra Cương lĩnh, đường lối, chủ trương mang tính định hướng chiến lược, đảm bảo cho Nhà nước hoạt động vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia, dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhà nước pháp quyền là công cụ để thực hiện ý chí của Đảng và nhân dân: Nhà nước là cơ quan thực thi pháp luật, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, quản lý xã hội bằng pháp luật, góp phần cụ thể hóa và hiện thực hóa đường lối của Đảng. Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước pháp quyền càng khẳng định sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Theo đó, những luận điệu này cố tình đánh đồng sự lãnh đạo của Đảng với sự độc đoán, chuyên quyền, phủ nhận vai trò tích cực của Đảng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Đảng là động lực thúc đẩy xây dựng Nhà nước pháp quyền:

Về lập pháp: Chính Đảng ta là lực lượng chủ trì, định hướng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành pháp luật của Nhà nước. Các đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước, quyền con người, quyền công dân, kinh tế, xã hội... đều thể hiện sự lãnh đạo, định hướng đúng đắn của Đảng.

Về Hành Pháp: Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, hoạt động theo nguyên tắc pháp quyền, đề cao trách nhiệm giải trình và giám sát. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” là minh chứng rõ nét nhất cho việc Đảng đang kiên quyết làm trong sạch bộ máy nhà nước, bác bỏ luận điệu về sự “trì trệ”.

Về Tư Pháp: Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng hệ thống tư pháp công minh, bảo vệ lẽ phải, công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Việc cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra... đều nằm trong định hướng lãnh đạo của Đảng.

Sự “trì trệ” là do các yếu tố khách quan và cần khắc phục, không phải do lãnh đạo của Đảng: Bất kỳ quốc gia nào, dù theo chế độ nào, cũng đối mặt với những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước, điều hành kinh tế - xã hội đôi khi được các thế lực thù địch khoét sâu để vu cáo “trì trệ” là hoàn toàn sai trái. Tuy nhiên, Đảng ta luôn nhìn nhận thẳng thắn những hạn chế, kiên quyết đổi mới, cải cách, không ngừng hoàn thiện thể chế, chính sách. Các nghị quyết về tinh gọn bộ máy, cải cách hành chính, chuyển đổi số, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là những minh chứng cho thấy Đảng không hề “trì trệ” mà đang chủ động tìm kiếm các giải pháp tối ưu. Những năm qua, tình hình chính trị - xã hội đất nước luôn giữ vững sự ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng là tiền đề quan trọng nhất để Nhà nước pháp quyền phát triển bền vững và đạt được những thành tựu đáng kể. Nếu không có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng, đất nước ta khó có thể đạt được những thành tựu như ngày nay, và chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất ổn định, như nhiều quốc gia đã trải qua khi thiếu đi một ngọn cờ lãnh đạo hiệu quả. Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên có thể khẳng định: Những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch là những quan điểm sai lầm, xuyên tạc bản chất, có dụng ý xấu nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước và nhân dân, từ đó phá hoại công cuộc xây dựng đất nước. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất của các luận điệu xuyên tạc này, kiên định vững vàng trên nền tảng tư tưởng của Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước, cùng nhau xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. 

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

 ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM RỬA TIỀN,

THAM NHŨNG VÀ MA TÚY Ở VIỆT NAM

THN

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lợi dụng tính chất phức tạp, nhạy cảm của các lĩnh vực của đời sống xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã cố tình đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong công tác phòng, chống tội phạm, qua đó gây hoài nghi trong dư luận quốc tế và trong nhân dân.

1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, rửa tiền và ma túy để tuyên truyền, xuyên tạc

Các thế lực thù địch phản động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Một số đối tượng cho rằng tham nhũng ở Việt Nam là “có hệ thống”, “không thể kiểm soát”, từ đó quy kết sai trái rằng công tác phòng, chống tham nhũng chỉ mang tính hình thức. Chúng cố tình bóp méo nguyên tắc thượng tôn pháp luật, xuyên tạc các quy trình điều tra, truy tố, xét xử, nhằm gây nghi ngờ về tính công bằng, độc lập của hệ thống tư pháp Việt Nam. Phủ nhận nỗ lực, thành tựu của Việt Nam, hạ thấp uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là trong quản lý nhà nước, quản lý tài chính, tài sản công, hoạt động đầu tư, ngân hàng và các dòng tiền xuyên biên giới. Những thủ đoạn trên không nhằm mục đích xây dựng hay góp ý thiện chí, mà chủ yếu phục vụ ý đồ chính trị, gây mất ổn định tư tưởng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, cản trở tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước.

Chúng thường vin vào các khuyến nghị kỹ thuật, các đợt đánh giá đa phương để thổi phồng khó khăn, hạn chế, từ đó quy kết rằng Việt Nam “không minh bạch tài chính”, “là điểm nóng rửa tiền trong khu vực”. Chúng cố tình không nhắc đến thực tế rằng phòng, chống rửa tiền là thách thức chung của toàn cầu, kể cả với các quốc gia phát triển; cũng không đề cập đến nỗ lực nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế, cải cách mạnh mẽ hệ thống pháp luật và tăng cường năng lực thực thi của Việt Nam trong những năm qua.

Trong công tác phòng, chống ma túy, chúng đưa ra những luận điệu sai trái thường tập trung xuyên tạc nguyên tắc xét xử, điều tra; quy kết Việt Nam “vi phạm nhân quyền” khi xử lý tội phạm ma túy nghiêm trọng; hoặc cho rằng Việt Nam “không kiểm soát được” tình hình ma túy. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng sự khác biệt về thể chế, pháp luật và văn hóa pháp lý giữa các quốc gia để áp đặt quan điểm, tiêu chuẩn một cách phiến diện, thiếu khách quan, đi ngược lại các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Kết quả đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tội phạm rửa tiền và ma túy những năm qua.

Nhận thức rõ công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tội phạm rửa tiền và ma túy là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; không có vùng cấm, không có ngoại lệ.”. Kết luận số 21-KL/TW năm 2021 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cùng với tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; nhiều luật, chiến lược, chương trình quốc gia đã được ban hành và triển khai nghiêm túc, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm. Đặc biệt, nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” thể hiện rõ tính thượng tôn pháp luật và sự công bằng trong xử lý vi phạm, tạo chuyển biến rõ rệt, hàng loạt vụ án liên quan đến tham nhũng, kinh tế lớn đặc biệt nghiêm trọng được phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử nghiêm minh như các vụ việc liên quan đến quản lý đất đai, đấu thầu, đấu giá, quản lý tài sản công, đầu tư công, ngân hàng, y tế, giáo dục, đăng kiểm, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp... tài sản tham nhũng từng bước được thu hồi; kỷ luật Đảng và xử lý hình sự được thực hiện đồng bộ, đúng người, đúng tội. (trong đó có cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý và cán bộ đã nghỉ hưu). Việc xét xử công khai, nghiêm minh các vụ án lớn đã tạo hiệu ứng răn đe mạnh mẽ, củng cố niềm tin của nhân dân, trực tiếp bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam “né tránh” xử lý cán bộ cấp cao.

Công tác phòng, chống rửa tiền: Sau khi Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 có hiệu lực, các cơ quan chức năng đã tăng cường: Thanh tra, kiểm tra các tổ chức tín dụng; phát hiện và xử lý các giao dịch đáng ngờ; trao đổi thông tin với cơ quan thực thi pháp luật trong và ngoài nước. Nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và xã hội về phòng, chống rửa tiền ngày càng được nâng cao; ý thức tuân thủ pháp luật về phòng, chống rửa tiền của hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp được nâng lên rõ rệt, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường tài chính.

Công tác phòng, chống ma túy: triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, kiểm soát, cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng; triệt phá nhiều đường dây, tổ chức tội phạm ma túy xuyên quốc gia; tích cực chủ động tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế về phòng, chống ma túy, thể hiện trách nhiệm của một quốc gia thành viên tích cực của Liên hợp quốc. Hằng năm, các lực lượng chức năng triệt phá hàng nghìn vụ án ma túy, thu giữ số lượng lớn heroin, ma túy tổng hợp, cần sa và các chất hướng thần mới. Nhiều đường dây ma túy xuyên quốc gia qua biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia - Trung Quốc bị bóc gỡ.

Tóm lại, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tội phạm rửa tiền và ma túy có thể khẳng định rằng, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch thời gian qua là hoàn toàn sai trái, thiếu khách quan và mang động cơ chính trị xấu. Việc kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mở rộng hợp tác quốc tế chính là con đường đúng đắn để Việt Nam khẳng định uy tín, vị thế và trách nhiệm của mình trong cộng đồng quốc tế.