THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
LHS
Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Kỷ - Phó Cục trưởng Cục Đối
ngoại, Bộ Công an, trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng, Đảng, Nhà
nước ta luôn ưu tiên hỗ trợ các DTTS phát triển về mọi mặt. Từ khi gia nhập
Công ước CERD, Việt Nam tiếp tục huy động nguồn lực nhằm tạo chuyển biến rõ rệt
trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS; xây dựng đội ngũ
cán bộ người DTTS đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập
quốc tế và toàn cầu hóa.
Nhờ những chủ trương, chính sách dân tộc đúng đắn của
Đảng, Nhà nước, lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội ở vùng đồng bào
DTTS đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận, được thể hiện trên
những khía cạnh như sau:
Thứ nhất, bình đẳng về chính trị của các DTTS được thực
hiện ngày càng hiệu quả
Từ năm 1946 đến nay, kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội nào cũng
có đại diện của 28 - 32 dân tộc. Khóa I (1946), chỉ có 34 đại biểu người DTTS,
tỷ lệ 10,2% thì Quốc hội Khóa XV nhiệm kỳ 2021 - 2026, đã có 89/499 đại biểu là
người DTTS, tỷ lệ 17,84%, cao nhất trong các khóa Quốc hội và tiệm cận rất sát
tới mục tiêu đảm bảo ít nhất 18% đại biểu Quốc hội là người DTTS.
Một số DTTS có số dân đông như Tày, Thái, Mường, Khmer,
Mông, Nùng… đều có đại diện qua các khóa Quốc hội với số lượng đáng kể. Một số
dân tộc có dân số dưới 10.000 người sinh sống ở các vùng núi cao, hẻo lánh cũng
có đại diện tham gia Quốc hội. Khóa XIV, lần đầu tiên có đại diện dân tộc Mảng
(dân số dưới 5.000 người) và khóa XV, lần đầu tiên có đại diện dân tộc Brâu
(dân số dưới 1.000 người) và dân tộc Lự (dân số 6.000 người) tham gia Quốc hội.
Đến nay, 51/53 DTTS đã có đại diện tham gia Quốc hội các khóa, chỉ còn 2 dân
tộc: Ơ đu (số dân dưới 1.000 người) và Ngái (số dân dưới 2.000 người) chưa có
đại diện tham gia Quốc hội. Mục tiêu của Việt Nam là phấn đấu để các dân tộc
đều có đại biểu Quốc hội.
Về tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức
(CBCCVC) là người DTTS ở cấp xã, cơ bản, các địa phương đã đạt được mục tiêu
theo Quyết định số 402/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến tháng 5/2023, tỷ lệ
CBCCVC người DTTS chiếm 11,5% tổng số CBCCVC. Nhiều địa phương có tỷ lệ CBCCVC
người DTTS cao như: Cao Bằng 87,9%, Bắc Kạn 77,8%, Lạng Sơn 75,2%, Hà Giang
56%, Sơn La 53%, Hòa Bình 50,3%, Điện Biên 46,4%, Tuyên Quang 38%, Lào Cai
37,5%.
Thứ hai, kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS phát triển
vượt bậc
Những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng Việt
Nam đã ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, hỗ
trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Giai đoạn 2003
- 2008, khoảng 250.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 690.000 tỷ đồng, giai
đoạn 2016 - 2020 là 998.000 tỷ đồng. Giai đoạn 2021 - 2025, lần đầu tiên, Việt
Nam có Chương trình mục tiêu quốc gia dành riêng cho vùng đồng bào vùng DTTS và
miền núi, thể hiện sự quan tâm đặc biệt, là quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước
nhằm nâng cao vị thế và đảm bảo quyền phát triển cho đồng bào DTTS. Giai đoạn
này, Quốc hội phê duyệt chủ trương bố trí trên 137 nghìn tỷ đồng để thực hiện Chương
trình.
Theo báo cáo số 732/BC-UBDT ngày 10/6/2021 của Ủy ban Dân
tộc tổng kết 8 năm thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2013 - 2020,
nhờ các chính sách dân tộc, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm. Bình quân toàn
vùng DTTS và miền núi giảm 4%/năm; các xã đặc biệt khó khăn giảm trên 4%/năm
trở lên; các huyện nghèo giảm 5 - 6%/năm trở lên, trong khi cả nước tốc độ giảm
chỉ là 2%/năm.
Tỷ lệ hộ nghèo DTTS còn khoảng 33% (giảm 5,62%) so với
chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao. Một số tỉnh ước tỷ lệ
hộ nghèo giảm mạnh: An Giang giảm 11,3%, Quảng Nam giảm 10,4%, Quảng Trị giảm
6,73%... Các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Cần Thơ, Đồng Nai, Long An, tỷ lệ hộ
nghèo chỉ còn dưới 1%; tỉnh Quảng Ninh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo của
Trung ương. Kết quả giảm nghèo đa chiều đã làm thay đổi căn bản đời sống của
đồng bào.
Toàn quốc có 7,9 triệu lao động DTTS có việc làm, chiếm
82,1% tổng số người DTTS từ 15 tuổi trở lên. Tỷ lệ thất nghiệp của người DTTS
chỉ là 1,4%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc.
Hơn 1,4 triệu hộ DTTS đang được thụ hưởng hầu hết các
chương trình tín dụng ưu đãi. Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội: dư
nợ đối với khách hàng là đồng bào DTTS trên 75 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7%/tổng
dư nợ; bình quân 01 hộ DTTS dư nợ đạt trên 50 triệu đồng (bình quân chung toàn
quốc là 45 triệu đồng). Thông qua vốn tín dụng chính sách, đồng bào DTTS đã có
điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm bệnh tật, giảm thất học và tệ nạn
xã hội, thêm tự tin, tăng dần vị thế trong xã hội.
Nhà nước còn hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS ở
vùng khó khăn. Hiện nay, 96,12% người DTTS sử dụng thẻ bảo hiểm y tế. Số người
nghèo, người DTTS tham gia thực hiện khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đạt gần 43
triệu lượt người, chiếm 24% số người tham gia bảo hiểm y tế toàn quốc.
Khi gặp rủi ro bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh…
đồng bào DTTS được Nhà nước hỗ trợ kịp thời. Điển hình lúc dịch bệnh COVID-19
diễn biến phức tạp, Ủy ban Dân tộc đã kịp thời hỗ trợ bệnh nhân F0 và F1 người
DTTS tại tỉnh Điện Biên và Bắc Giang tổng số tiền 837,5 triệu đồng, hỗ trợ ổn
định đời sống đối với học sinh DTTS một số trường dự bị đại học…
Đồng bào DTTS, phụ nữ, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân vùng
khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo ngày càng có nhiều cơ hội được
tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Bệnh sốt rét, bướu cổ cơ bản
được khống chế; tuổi thọ trung bình của 53 DTTS đạt 70,7 tuổi, tăng 0,8 năm so
với năm 2015, tiến khá gần tới mức chung của cả nước (73,6 tuổi). Tỷ lệ trẻ em
dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
giảm mạnh qua từng năm. Thành tựu về giảm suy dinh dưỡng trẻ em và giảm tử vong
mẹ, tử vong trẻ em của Việt Nam đã đảm bảo tiến độ thực hiện Mục tiêu Phát
triển thiên niên kỷ.
Quy mô, mạng lưới trường, lớp vùng DTTS và miền núi được
củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Công tác phổ
cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở là thành tựu nổi bật của Việt Nam được
ghi nhận tại nhiều diễn đàn quốc tế.
Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ,
chữ viết, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, giá trị văn hóa vật thể và
phi vật thể của các DTTS được thực hiện hiệu quả. Nhiều lễ hội truyền thống
lành mạnh được phục hồi, phát triển và hình thành mới, góp phần giữ gìn, bảo
tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Về nhà ở, 95% hộ DTTS đang sống
trong những ngôi nhà thuộc quyền sở hữu riêng; 96,7% hộ được sử dụng điện lưới
quốc gia; 88,6% hộ được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh; 59,6% hộ sử dụng hố xí
hợp vệ sinh, vượt mục tiêu đề ra đến năm 2020 gần 20%.
Tivi đã trở thành thiết bị sinh hoạt phổ biến của hộ DTTS
với 81,5% số hộ sử dụng. Cơ hội tiếp cận thông tin của người DTTS ngày càng
được mở rộng với tỷ lệ hộ sử dụng Internet đạt 61,3%, tăng hơn 9 lần so với năm
2015.
Hệ thống các chính sách dân tộc hiện nay được đánh giá là
cơ bản đã bao phủ toàn diện các lĩnh vực đời sống, kinh tế, giáo dục, y tế, văn
hoá, xã hội và quốc phòng, an ninh tại vùng DTTS và miền núi. Những thành tựu
trong nội luật hóa và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta là
minh chứng thuyết phục phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc
về cái gọi là “Đảng, Nhà nước Việt Nam “phân biệt đối xử” với các DTTS” hoặc
“chính sách ngược đãi các DTTS đang diễn ra ở Việt Nam”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét