Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2024

 

CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CỦA ĐẢNG ỦY, BỘ TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH TR - THIÊN NĂM 1972

 ĐỨC BÁCH

Trong chiến dịch tiến công Trị - Thiên năm 1972, được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương; Bộ Tư lệnh chiến dịch đã làm tốt công tác chuẩn bị và thực hành chiến dịch hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng tỉnh Quảng Trị. Có được thắng lợi đó, phải nói đến quá trình dày công nghiên cứu cũng như xây dựng và chuẩn bị kế hoạch tác chiến của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chiến dịch. Đây chính là điều kiện thuận lợi để  Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tiến công chính xác, bảo đảm cho chiến dịch Trị - Thiên giành thắng lợi, thể hiện trên một số nội dung sau:

Một là, về công tác nghiên cứu nắm tình hình địch. Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: Chiến tr­ường Trị - Thiên có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lư­ợc ở miền Trung và Tây Nguyên của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Từ đầu năm 1970 đến giữa năm 1971, mặc dù liên tục bị đánh đau, binh lực hao tổn nặng, nhất là ở vùng đường 9 - Bắc Quảng Trị, nhưng chúng vẫn không rút bỏ bất cứ một cứ điểm nào trên hệ thống phòng thủ chiến l­ược trọng yếu Trị - Thiên. Cuối năm 1971, mặc dù phán đoán h­ướng tiến công chiến l­ược chính năm 1972 của ta là Trị - Thiên, nhưng do tầm quan trọng của địa bàn chiến lư­ợc này nên Bộ chỉ huy Vùng chiến thuật 1 vẫn ráo riết tăng c­ường lực lượng, đẩy mạnh các cuộc “hành quân tảo thanh Việt cộng” trong địa phận đảm nhiệm, tung biệt kích thám báo thăm dò, phát hiện ta. Đến giữa tháng 3 năm 1972, lực l­ựợng địch ở Trị - Thiên có 2 s­ư đoàn bộ binh (1, 3); 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ (147, 258); 3 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép (11, 20, 17); 17 tiểu đoàn pháo binh (258 khẩu); 4 tiểu đoàn, 94 đại đội bảo an; 302 trung đội dân vệ, 5.000 cảnh sát. Địch tập trung bố phòng trên hai hư­ớng Quảng Trị và Thừa Thiên. Đặc biệt ở Quảng Trị địch liên tục duy trì sư­ đoàn bộ binh 3, hai lữ đoàn 147, 258; hai thiết đoàn 11, 20 và lực lư­ợng bảo an dân vệ.

Từ phân tích đánh giá chính xác thế phòng ngự của địch tại Quảng Trị, bố trí thành ba tuyến: Tuyến ngoài cùng (tuyến giáp ranh giữa ta và địch), lực lượng chủ yếu là không quân, pháo binh, biệt kích; trong trường hợp khẩn cấp, một bộ phận quân chủ lực sẽ đự­ợc điều động làm nhiệm vụ nống lấn càn quét, tạo ra thế liên hoàn, chặt chẽ kéo dài từ biển Đông đến gần biên giới Việt - Lào, nhằm phát hiện, ngăn chặn, phá hoại sự chuẩn bị của ta từ xa. Tuyến giữa (tuyến phòng thủ quan trọng nhất) gồm hệ thống các điểm cao như: động Ông Do, điểm cao 365, 548, 597, 241, 544... kéo đến Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang, đồi 31, chúng tổ chức thành từng khu vực phòng thủ cấp trung đoàn, tiểu đoàn hoặc tư­ơng đư­ơng vừa có thể liên kết phòng ngự vừa có thể độc lập tác chiến. Với mục đích, ngăn chặn các cuộc tiến công của ta vào các thị xã, thị trấn, các căn cứ, đ­ường giao thông quan trọng và các vùng đã được bình định. Tuyến trong cùng (còn gọi là tuyến phòng ngự dự phòng) kéo dài từ đường số 1 ra biển Đông, gồm các thị trấn, thị xã Đông Hà, Cửa Việt, Ái Tử, Quảng Trị. Các đơn vị chủ lực địch ở tuyến này có nhiệm vụ vừa sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công lớn của ta, vừa phối hợp chặt chẽ với bảo an, dân vệ kìm kẹp, đánh phá các phong trào đấu tranh hoặc nổi dậy của quần chúng cách mạng.

Trên 3 tuyến phòng thủ nói trên, địch tổ chức phòng ngự ở Quảng Trị thành 5 khu vực cấp trung đoàn: Trung đoàn 57 bố trí từ Quán Ngang, Dốc Miếu xuống đồi 31; Trung đoàn 2 từ Bái Sơn đến Cồn Tiên; Trung đoàn 56 từ điểm cao 241 đến Tân Lâm; Lữ đoàn 147 từ Mai Lộc đến Động Toàn; Lữ đoàn 258 từ Tân Điền đến điểm cao 367; Thiết đoàn 17 có ba chi đoàn đóng ở Gia Lệ Thượng, Đồng Lâm, Nhị Thượng. Sở Chỉ huy Sư­ đoàn 3 ở Ái Tử.

Trên cơ sở đánh giá về địch, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định, chỗ mạnh cơ bản của địch ở khu vực đường 9 - Bắc Quảng Trị là hệ thống phòng ngự kiên cố, vững chắc, đ­ược xây dựng và hoàn chỉnh từng bư­ớc trong hai năm 1970 - 1971, có hệ thống hỏa lực mạnh cả pháo binh, pháo hạm và không quân, có khả năng khống chế được một vùng rộng lớn hai bên Nam - Bắc sông Bến Hải, có thể nói đây những cứ điểm lợi hại. Đồng thời, ta xác định được chỗ yếu cơ bản của địch là hệ thống phòng ngự địch là bên ngoài mạnh, bên trong sơ hở; sau khi quân Mỹ rút tinh thần chiến đấu của quân ngụy hoang mang sa; quân dự bị thiếu, mỏng phải dàn trải ở khắp nơi.

Hai là, về phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị trên các hướng. Căn cứ nhiệm vụ của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ­ương giao, ngày 16 tháng 3, Đảng ủy và Bộ Tư­ lệnh chiến dịch họp bàn, triển khai kế hoạch tác chiến. Sau khi nghiên cứu phân tích thêm về nhiệm vụ chiến lư­ợc năm 1972, trên chiến trường miền Nam, đặc biệt là tình hình địch và ta ở Quảng Trị, Đảng ủy, Bộ Tư­ lệnh chiến dịch quyết định tiến công Quảng Trị từ 4 cánh và sử dụng lực l­ượng trên từng cánh như­ sau:

Cánh Bắc, cánh chủ yếu của chiến dịch, sử dụng Sư­ đoàn bộ binh 308 (thiếu một trung đoàn), hai trung đoàn bộ binh (48, 27), hai trung đoàn pháo mặt đất (164, 84), trung đoàn pháo cao xạ, hai tiểu đoàn xe tăng, xe bọc thép, hai tiểu đoàn công binh, tiểu đoàn đặc công 33, 3 trung đội hóa học, trinh sát, súng phun lửa... do đồng chí Phạm Hồng Sơn, Phó Tư­ lệnh chiến dịch và đồng chí Hoàng Minh Thi, Phó Chính ủy chiến dịch trực tiếp chỉ huy; đ­ược các lực l­ượng vũ trang địa phư­ơng phối hợp; có nhiệm vụ tiêu diệt Trung đoàn 57 và Trung đoàn 2 bộ binh (thuộc Sư­ đoàn bộ binh 3 quân đội Sài Gòn) ở điểm cao 544, Đồi Tròn, Động Mã, Cồn Tiên; thừa thắng bao vây tiêu diệt miếu Bái Sơn, Quán Ngang; sẵn sàng diệt đối ph­ơng ở Hồ Khê, Đá Bạc, Thiện Xuân, Lăng Cô, Gia Bình... Sau khi đã tiêu diệt đư­ợc toàn bộ các mục tiêu nói trên, các đơn vị nhanh chóng chuyển sang bao vây tiến công cụm cứ điểm Đông Hà, kiên quyết không cho địch co cụm đối phó.

Cánh Tây, sử dụng Sư­ đoàn bộ binh 304, bốn trung đoàn pháo cao xạ (230, 232, 241, 280), Trung đoàn 38 pháo binh, 2 tiểu đoàn tên lửa, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn công binh do Đại tá Hoàng Đan - Sư­ đoàn trư­ởng S­ư đoàn 304 chỉ huy; đảm nhận tiến công tuyến phòng ngự phía Tây của địch ở Động Toàn, Ba Tum, Ba Hồ; nếu địch phản ứng, lập tức tiêu diệt trước thời hạn quy định, nhằm thu hút địch tạo điều kiện cho các cánh khác chuẩn bị. Sau đó, toàn cánh phối hợp với cánh Bắc đánh chiếm Núi Kiếm, bao vây tiêu diệt các căn cứ 241, Mai Lộc, Đầu Mầu, sẵn sàng tiến công tiêu diệt Ái Tử.

 Cánh Nam, do Sư­ đoàn bộ binh 324 cùng các đơn vị thuộc mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị phối thuộc (tiểu đoàn thông tin, tiểu đoàn công binh) được sự hỗ trợ của 2 tiểu đoàn địa ph­ương tỉnh Quảng Trị, do đồng chí Giáp Văn C­ương, Phó T­ư lệnh và đồng chí Lê Tự Đồng, Phó Chính ủy Bộ Tư­ lệnh chiến dịch chỉ huy; có nhiệm vụ tiêu diệt quân địch ở phía Đông dãy Th­ượng Nguyên, chủ yếu từ khu vực động Ông Do xuống đoạn đ­ường số 1, thực hiện chia cắt chiến dịch, hỗ trợ cho nhân dân Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ.

Cánh Đông, cánh thứ yếu của chiến dịch, kéo dài từ Hoàng Hà, Mai Xá, Cửa Việt lên ngã ba Gia Độ (bắc sông Hiếu). Ở vùng đồng bằng sông nước này, tuy có cơ sở cách mạng vững, bộ đội địa phư­ơng và du kích dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, nh­ưng nơi đây địa hình trống trải, đ­ường cơ động của bộ đội chủ lực gặp khó khăn, nhất là việc triển khai binh khí, kỹ thuật cơ giới. Mặt khác, địch ở đây từ lâu đã xây dựng, củng cố hệ thống phòng thủ vững chắc, có khả năng phản ứng nhanh; chúng lại bố trí một lực lư­ợng pháo hạm và giang thuyền nhiều. Những điều đó gây cho ta không ít trở ngại trong quá trình thực hiện tiến công. Bởi vậy, Bộ Tư­ lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Đoàn 126 đặc công hải quân, 2 tiểu đoàn đặc công bộ (31, 25), tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, 1 tiểu đoàn pháo mang vác, 2 đại đội địa phương Quảng Trị, do đồng chí Bùi Thúc D­ưỡng, Tham mưu phó chiến dịch chỉ huy, bao vây Dốc Miếu, Quán Ngang từ phía Đông, tiến công quân cảng Cửa Việt, sau đó phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt và làm tan rã lực l­ượng kìm kẹp của địch, hỗ trợ nhân dân các xã ven biển Gio Linh, Triệu Phong nổi dậy giành quyền làm chủ.

Ba là, về ph­ương châm chỉ đạo tác chiến. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ tr­ương tranh thủ đánh quân địch ngoài công sự để tiêu diệt sinh lực và phư­ơng tiện chiến tranh, tạo thời cơ đánh những trận quyết định tiêu diệt từng trung, lữ đoàn địch, phá vỡ tuyến phòng thủ, nhanh chóng đột phá tung thâm, không cho chúng đối phó; đồng thời, phát huy uy lực của mọi loại binh khí, kỹ thuật hiện có, đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, coi trọng đánh vừa và nhỏ, đánh sâu và hiểm bằng những lực l­ượng tinh nhuệ, hỗ trợ cho nhân dân Quảng Trị, Thừa Thiên nổi dậy giành quyền làm chủ.

Bốn là, về công tác đảm bảo hậu cần chiến dịch. Từ tháng 12 năm 1971, Bộ Tư­ lệnh đoàn 559 phát động đợt thi đua vận chuyển mang tên chiến dịch Đồng Xoài nhằm động viên cao độ sức mạnh của lực lượng chiến đấu, công tác trên tuyến vận tải, hoàn thành kế hoạch tạo chân hàng cho các binh trạm ở Nam sông Bến Hải và tạo nguồn dự trữ cho chiến dịch Trị - Thiên. Đến tháng 3 năm 1972, đoàn 559 mở đợt vận tải tổng công kích trên cả 6 tuyến đ­ường v­ượt khẩu (đư­ờng 20, 12, 18, 16, 14, 10), trong đó, trọng điểm là đ­ường 20 và ba trục 9, 70, 71 chạy vào mặt trận Quảng Trị và Thừa Thiên. Nêu cao quyết tâm “vì thắng lợi của chiến dịch”, các chiến sĩ lái xe vận tải khắc phục muôn vàn gian khổ, hy sinh, dũng cảm, mư­u trí vượt qua các tọa độ lửa đư­ờng 9 và các trọng điểm đánh phá của không quân, pháo binh quân địch, đ­ưa hàng đến các cụm kho dự trữ ở khu vực Tà Cơn, Khe Sanh, Đầu Mầu... huyện H­ướng Hóa. Tính đến ngày 26 tháng 3 năm 1972, đoàn vận tải 559 và đoàn vận tải Quân khu 4 cùng với 5.000 dân công hỏa tuyến phục vụ trên mặt trận đ­ường 9 của các tỉnh đã tập kết đư­ợc hơn 16.000 tấn hàng bằng các ph­ương tiện ô tô, xe thồ và gùi vác.

Thời điểm mở màn chiến dịch càng đến gần, việc hoàn tất mọi công tác chuẩn bị càng trở nên khẩn tr­ương. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo tổ chức tài tình đầy mưu lược của Bộ Tư lệnh chiến dịch mọi công tác chuẩn bị chiến dịch vẫn bảo đảm tuyệt đối bí mật, an toàn trước sự trinh sát gắt gao của địch. Trong khi các binh đoàn chủ lực của ta đã ở tư­ thế sẵn sàng tiến công thì phía địch vẫn không đoán được hư­ớng chính của cuộc tiến công chiến l­ược năm 1972 của ta.

Đến trung tuần tháng 3 năm 1972, địch vẫn chủ quan nhận định sau tổn thất trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, Quân giải phóng ch­ưa thể mở chiến dịch lớn ở Quảng Trị. Vì vậy, theo kế hoạch quân địch vẫn cho các đơn vị đóng chốt ở phía tr­ước thay quân. Cũng vào thời điểm ấy, lực lượng trinh sát sư­ đoàn 3 quân địch đã phát hiện ra “mấy s­ư đoàn tinh nhuệ Bắc Việt” đã áp sát phòng tuyến McNamara ở phía Nam Vĩ tuyến 17. Địch đã có những biện pháp nhằm đối phó với ta, như­ng tất cả những nỗ lực của chúng lúc này đều đã muộn.

Thực tiễn diễn biến chiến dịch cho thấy, nhờ xây dựng kế hoạch tác chiến khoa học, chu đáo, tỉ mỉ, cơ bản trên từng hướng tiến công các đơn vị của ta đã thực hiện theo đúng kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Ngay cả khi bộ đội ta gặp khó khăn, tổn thất trước sự chống trả quyết liệt của địch nhưng với bản lĩnh và trí tuệ tập thể cùng kinh nghiệm chỉ huy tác chiến dày dạn, Đảng ủy và Bộ T­ư lệnh chiến dịch đã tìm đ­ược giải pháp mới nhằm vô hiệu hóa thủ đoạn chiến thuật phòng ngự mới của địch để chỉ đạo các đơn vị tiếp tục tiến công địch. Bằng nhiều đòn, đánh dồn dập liên tục đánh vỡ từng đoạn phòng ngự của chúng tiến tới đập tan hệ thống phòng ngự của địch.

Chiến dịch tiến công Trị - Thiên giành thắng lợi lớn, có ý nghĩa chiến lược, tác động tích cực đến cuộc tiến công chiến lược năm 1972, trên toàn chiến trường miền Nam và thể hiện rõ tư duy khoa học quân sự đầy sáng tạo và mưu trí của Bộ Tư lệnh chiến dịch điển hình là trong việc hoạch định kế hoạch tác chiến, sự mưu trí linh hoạt trong điều hành chiến dịch, cùng với sự anh dũng, kiên cường của quân và dân trên địa bàn tác chiến.

Năm mươi năm đã trôi qua nhưng những bài học kinh nghiệm quý báu của quân và dân ta được rút ra từ chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt đây còn là bài học quý, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.

 

 

VAI TRÒ CỦA CHIẾN TIẾN CÔNG DỊCH TRỊ - THIÊN TRONG TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972, TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM VIỆT NAM

 Hoắng Tháo

Trong chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, sau những thất bại trên chiến trường miền Nam những năm 1970-1971, Mỹ-ngụy đã có nhiều nỗ lực trong việc khôi phục lại tình hình, nhưng vẫn liên tiếp thất bại và bị dồn vào thế bị động cả về quân sự và chính trị. Bước vào năm 1972, với bản chất ngoan cố và ỷ lại tiềm lực chiến tranh còn lớn, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện mục tiêu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” hòng tạo điều kiện mặc cả với ta chấp nhận một giải pháp có lợi cho mình ở Hội nghị Paris, Pháp. Thực hiện chủ trương giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, ngày 23/3/1972, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, lấy Trị Thiên làm hướng tiến công chủ yếu (Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai hướng phối hợp quan trọng) nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Trong đó, Chiến dịch Trị - Thiên 1972 được diễn ra từ ngày 30/3 đến 27/6/1972 giành thắng lợi to lớn, ta đã loại khỏi chiến đấu 27.458 tên, bắt 3.388 tên, phá hủy và thu 636 xe tăng, xe thiết giáp, 1.870 xe quân sự, 429 khẩu pháo các loại, bắn rơi và phá hủy 340 máy bay, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị và 3 xã thuộc huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược đề ra. Đây là lần đầu trên chiến trường miền Nam ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, tiêu diệt nhiều trung đoàn, đánh quỵ một sư đoàn địch và cũng là lần đầu ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh.

Chiến dịch Trị - Thiên - hướng tiến công chủ yếu trong cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam giành thắng lợi có vai trò to lớn góp phần quan trọng vào cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 của dân tộc ta đó là:

Một là, Chiến dịch Trị - Thiên với vai trò là hướng chủ yếu trong cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam, lần đầu tiên ta tiến hành thắng lợi một chiến dịch tiến công binh chủng hợp thành quy mô lớn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt trận khác phát triển đánh địch.

Từ những kết quả thắng lợi của Chiến dịch trị - Thiên đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho chiến trường  miền Ðông Nam Bộ - Hướng tiến công phối hợp quan trọng, quân và dân ta đã tiến công giải phóng huyện lỵ Lộc Ninh (ngày 07/4), loại khỏi vòng chiến đấu  chiến đoàn địch, hai trung đoàn thiết giáp, nhân lúc địch rối loạn, ta tập trung lực lượng tiến công thị xã Bình Long. Tận dụng lợi thế từ chiến thắng của chiến trường Trị - Thiên và Đông Nam Bộ, ở chiến trường Tây Nguyên, sau nửa đầu tháng 4 quân và dân ta đập tan tuyến phòng ngự tây sông Pô Cô, bộ đội ta tiến xuống đường 14 bao vây huyện lỵ Ðắc Tô - Tân Cảnh. Ngày 24/4, sau một ngày đêm tiến công mãnh liệt, ta đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ phòng ngự then chốt của địch trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên, uy hiếp thị xã Kon Tum. Mặc dù chiến dịch Tây Nguyên chưa giải phóng được thị xã Kon Tum, nhưng thắng lợi của chiến dịch này đã làm thay đổi cục diện chiến trường Tây Nguyên, lần đầu trên chiến trường miền Nam ta tiêu diệt gọn sư đoàn địch trong căn cứ, góp phần vào việc phát triển thế và lực của chiến tranh cách mạng miền Nam.

Hai là, hướng tiến công chiến lược Trị -  Thiên 1972 là chiến dịch có quy mô lớn nhất (từ đầu kháng chiến chống Mỹ đến năm 1972) cả về không gian, thời gian, lực lượng sử dụng và mức độ ác liệt. Đồng thời thúc đẩy kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận trên chiến trường miền Nam.

Do vị trí đặc biệt của Trị - Thiên đối với cả địch và ta năm 1972, tại chiến trường này đã xảy ra sự đọ sức quyết liệt nhất giữa địch và ta, bên nào cũng nỗ lực cao nhất, tập trung mọi khả năng có thể có, để giành thắng lợi. Ta đã sử dụng một lực lượng lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ, bao gồm nhiều sư đoàn chủ lực, cả bộ binh và binh chủng kỹ thuật. Địch cũng đưa hầu hết các lực lượng tinh nhuệ và dự bị chiến lược vào cuộc đọ sức này. Quân ngụy miền Nam đã dùng lực lượng dự bị chiến lược tinh nhuệ nhất mới xây dựng được sau hai năm “Việt Nam hóa chiến tranh”; Mỹ ồ ạt triển khai trở lại lực lượng không quân (kể cả không quân chiến lược) và hải quân (bao gồm cả tàu sân bay của Hạm đội 7) để chi viện cho quân ngụy.

So sánh lực lượng của ta và địch tại chiến trường Trị - Thiên gồm: Bộ binh: Ta: 11 sư đoàn và 23 trung đoàn; địch: 13 sư đoàn và 11 trung đoàn, lữ đoàn; pháo binh: ta: 5 trung đoàn và 7 tiểu đoàn; địch: 65 tiểu đoàn và 85 trung đội; Tăng, thiết giáp: ta: 4 tiểu đoàn; địch: 22 tiểu đoàn và 21 trung đội. Ngoài ra địch còn có 1692 máy bay chiến đấu các loại, 1611 hạm tàu. Các lực lượng của ta và địch đều được bố trí thành các cụm phòng ngự liên hoàn, có công sự kiên cố. Ở thời điểm đầu năm 1972, trên một hướng chiến lược chủ yếu cả ta và địch đã tập trung đến mức cao nhất về lực lượng để quyết chiến thắng.

Bắt đầu từ trưa ngày 30/3/1972, Sư đoàn 308 với sự yểm trợ của trung đoàn xe tăng và pháo binh vượt qua khu phi quân sự tại giới tuyến 17 chia cắt 2 miền. Từ phía Tây, Sư đoàn 324B, với xe tăng yểm trợ theo đường 9 từ Lào vượt qua Khe Sanh, tiến vào thung lũng sông Thạch Hãn. Lực lượng tương đương 3 sư đoàn này của ta đã “gây bất ngờ cho quân phòng thủ Việt Nam cộng hòa và đồng minh Mỹ”[1], sau đó làm tan rã lực lượng này. Trong thời gian từ ngày 02 đến 29/4, quân ta chủ động tiến công trên nhiều hướng và đến trưa ngày 01/5/1972, Chuẩn tướng Vũ Văn Giai (Tư lệnh Sư đoàn 3 ngụy) bỏ chạy khỏi Quảng Trị. Từ Huế, tại đồn Mang Cá, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm xúc động mạnh và nói: “Tối nay, địch (Việt cộng) sẽ vào Quảng Trị mà không tốn thêm một viên đạn nào”  và tình báo Mỹ có trụ sở tại Đà Nẵng, trong báo cáo đã viết: “Về cơ bản, các lực lượng quân đội Bắc Việt đã chiến thắng nhanh như chớp. Quân đội Việt Nam cộng hòa ngạc nhiên khi quân đội Bắc Việt sử dụng lực lượng trong các cuộc tiến công”[2].

Từ 30/3 đến 01/5/1972, quân và dân Quảng Trị đã quét sạch hệ thống phòng ngự kiên cố nhất và đập tan bộ máy kìm kẹp của Mỹ - ngụy từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh, từ Lao Bảo đến Cửa Việt. Báo Quảng Trị giải phóng, số ra ngày 04/5/1972 có đoạn: “Thắng lợi ở Quảng Trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó tỏ rõ sự trưởng thành vượt bậc, sức mạnh to lớn của ta, chính quyền Mỹ bị sức ép mạnh của nhân dân Mỹ và dư luận thế giới”[3] và giới quân sự ở Sài Gòn nhận định: “Thật khủng khiếp, Bắc Việt Nam sử dụng lực lượng ồ ạt như vũ bão trong các cuộc tiến công. Và rồi họ chiến thắng, bỏ xa quân đội Việt Nam cộng hòa”[4]

Mặc dù từ đầu đến cuối chiến dịch, ta luôn giữ quyền chủ động chiến lược, chiến dịch, buộc địch phải bị động điều quân, làm cho thế bố trí chiến lược của chúng trên toàn miền Nam bị đổ vỡ, rối loạn, nhưng khả năng của ta có hạn, không thể đánh dứt điểm các mục tiêu như ý định ban đầu. Mặc dù vậy, cuộc đương đầu lịch sử đã phân rõ thắng bại.

Sau khi ta giải phóng Quảng Trị, đối tượng tác chiến của chiến trường Trị - Thiên từ tháng 5/1972 là quân tinh nhuệ nhất của ngụy và 2 quân chủng mạnh nhất của Mỹ. Ngoài ra, để chuẩn bị cho âm mưu lâu dài sau Hiệp định Pa-ri, chỉ trong vài tuần lễ cuối tháng 11/1972, Mỹ đã ồ ạt đưa toàn bộ số viện trợ quân sự của cả năm 1973, trị giá hàng chục tỉ đô la vào cho quân ngụy. Đồng thời Mỹ đã chi viện hỏa lực cho ngụy quân lúc này còn cao hơn cả thời kỳ chi viện cho bộ binh Mỹ chiến đấu.

Cùng với sự viện trợ lớn nhất về vũ khí và tiền bạc, Mỹ - ngụy còn sử dụng một khối lượng bom đạn lớn nhất của cuộc chiến tranh để ném vào chiến trường Quảng Trị. Trong phạm vi một chiến dịch, hơn 2/3 tổng số lần xuất kích của máy bay trên chiến trường Đông Dương địch dồn vào chiến trường này (có ngày tập trung cả 100% phi vụ B52), trong đó Mỹ đảm nhiệm 97% lực lượng không quân tham gia chi viện.

Mỹ - ngụy huy động toàn bộ lực lượng vào hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên, bởi vì, về quân sự, khu vực Nham Biều, Ái Tử, Đông Hà nằm trên các trục đường chủ yếu, trong đó có đường số 1, đường số 9, đường sông, sân bay. Chiếm được khu vực này địch có một bàn đạp lợi hại để tiếp tục đánh ra vùng giải  phóng của ta. Nhưng mọi cố gắng của địch đều không làm thay đổi được tình hình mà chỉ trực tiếp làm cho cuộc chiến đấu ở Quảng Trị, cả tiến công và phòng ngự đều diễn ra quyết liệt, gay go, phức tạp kéo dài, gây nên những hao tổn lớn cho cả ta và địch và kết thúc vào ngày 31/01/1973.

Từ thắng lợi của Chiến dịch Trị - Thiên hè 1972 đã cổ vũ tinh thần và để lại nhiều kinh nhiệm về tổ chức, thực hành chiến tranh nhân dân địa phương, giúp cho quân và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh các hoạt động tác chiến tiêu diệt địch kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận làm tan ra trong nội bộ quân xâm lược trên các chiến trường.

Ba là, thắng lợi của hướng tiến công chiến lược Trị - Thiên 1972 là đòn quân sự mạnh, có tính quyết định, góp phần vào đòn tiến công chính trị buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1972 theo các điều kiện Việt Nam đưa ra.

Mục đích của Mỹ ở thời điểm năm 1972 này là chúng vừa đánh vừa đàm, lấy thắng lợi ở chiến trường làm điều kiện ưu thế trong thương lượng, lấy Trị - Thiên làm chiến trường chủ yếu đọ sức với ta để giành thắng lợi chiến lược trong bước ngoặt lịch sử quan trọng. Bên cạnh đó, yêu cầu chính trị của giới cầm quyền Mỹ trước cuộc tranh cử Tổng thống cuối năm 1971, rồi trước nguy cơ sụp đổ của ngụy quân và ngụy quyền, Mỹ rất muốn có một thắng lợi lớn về chiến lược để chứng minh cho sự đúng đắn hoặc sức mạnh của cái gọi là: “Học thuyết Ních-xơn” và kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, những mục tiêu chiến lược ấy thúc ép Mỹ trở lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam bằng mọi giá. Bởi vậy, một mặt Mỹ ra sức tăng cường viện trợ tiền của, phương tiện chiến tranh, tiến hành mọi biện pháp ngoại giao để cứu nguy cho quân ngụy, mặt khác chấp nhận ồ ạt trở lại tham chiến bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn hòng xoay chuyển lại tình hình.

Trước tình hình đó, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tính đến mọi nỗ lực cao nhất của chúng về chiến lược và thủ đoạn chính trị, ngoại giao, thấy rõ ý đồ chung của Mỹ - ngụy, ý đồ riêng của Mỹ. Vì vậy, việc quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên là thời cơ mở ra cho chúng ta triển vọng giành thắng lợi lớn trong năm 1972; đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải cố gắng ở mức cao nhất nhằm giành được thắng lợi lớn nhất, từ thắng lợi quân sự tạo sức ép buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, phải rút hết quân đội Mỹ và đồng minh về nước và ngụy quân, ngụy quyền suy yếu một bước nghiêm trọng. Để đạt được mục tiêu chiến lược đó, chúng ta đã thành công trong chủ động căng, kéo, phân tán lực lượng địch ra để quyết chiến và từng bước tiêu diệt chúng theo ý đồ chiến lược của ta; từ đó ta tạo được ưu thế trong đàm phán và thúc đẩy đàm phán với Mỹ để sớm đi tới một giải pháp chính trị, kết thúc cuộc chiến tranh theo điều kiện của Việt Nam đưa ra, đồng thời vẫn giữ được “thể diện” và “danh dự” cho phía Mỹ.

Nhiệm vụ của hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên rất nặng nề. Về mặt chính trị, thị xã Quảng Trị bao gồm cả thành Cổ, là mục tiêu có tính tượng trưng nhất mà địch cố chiếm bằng được nhằm giành lợi thế ở Hội nghị Pa-ri, nó còn có ý nghĩa tuyên truyền kích động binh sĩ địch và lừa bịp dư luận thế giới lấy lại “danh dự” của chúng sau thất thủ Quảng Trị tháng 5/1972. Vì vậy, ta vừa phải phối hợp tác chiến nhịp nhàng, chặt chẽ với các hướng chiến trường khác để đạt cho được mục tiêu chiến lược đề ra, lại vừa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao để giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Để đạt được yêu cầu đó, chúng ta chủ động mở Cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên ba hướng; kiên quyết chấp nhận cuộc đọ sức tổng lực ở cường độ cao với địch trên chiến trường Quảng Trị. Đồng thời chỉ đạo quân và dân miền Bắc chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đập tan cuộc tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn ở miền Bắc.

Thực hiện nhiệm vụ nặng nề ấy, tại chiến trường Trị - Thiên năm 1972 ta chủ động mở chiến dịch, tiến hành chuẩn bị chiến trường chu đáo, tận dụng mọi thời cơ thuận lợi, bảo đảm các mặt vật chất tương đối đầy đủ, có lực lượng chiến dịch sung sức với lực lượng dự bị chiến dịch mạnh; có điều kiện chín muồi kết hợp giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nên ta có thể tranh thủ được khả năng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng toàn chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên trong phạm vi một chiến dịch tiến công quy mô lớn; trên cơ sở thực tế điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch đã có những chuyển biến mới có lợi cho ta trên chiến trường này.

Thực tế, cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và Mỹ đã kéo dài suốt cả năm 1972, rất quyết liệt và đầy căng thẳng, mặc dù Mỹ đã lâm vào thế thất bại nhưng vẫn cố vùng vẫy để “mặc cả” với ta theo những điều kiện của chúng đưa ra. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ta đã họp bàn và giải pháp đưa ra là cần phải tiến hành một loạt chiến dịch kế tiếp nhằm tạo ra một đòn mạnh về quân sự buộc địch phải chấp nhận thất bại trên chiến trường, mà bắt đầu bằng chiến dịch tiến công tại Quảng Trị. Đúng như dự kiến của Trung ương Đảng, khi kết thúc chiến dịch, bản báo cáo từ Sài Gòn gửi về Oa-sinh-tơn của địch đã phơi bày: “Quân Bắc Việt đã chiến thắng trên chiến trường Quảng Trị. Giờ đây, bàn Hội nghị tại Pari không còn có sức hút đối với Mỹ nữa”.

Việc giải phóng tỉnh Quảng Trị, một địa bàn chiến lược tiếp giáp miền Bắc xã hội chủ nghĩa cùng với một số dân được giải phóng sau hơn 18 năm dưới ách kìm kẹp của kẻ thù, nhân dân phấn khởi ra sức củng cố địa phương và tham gia kháng chiến, thực sự tạo ra lợi thế mới trong cuộc đấu tranh chính trị tại Hiệp định Pa-ri. Cũng qua thắng lợi của chiến dịch đã đã đẩy lùi phần đất tạm thời do quân ngụy kiểm soát xuống phía Nam. Về mặt quân sự, vùng giải phóng Quảng Trị trở thành một địa bàn chiến lược - chiến dịch quan trọng với nhiều tuyến đường giao thông thủy, bộ thuận tiện. Đặc biệt, từ đây đã tạo thế để củng cố và bảo vệ vững chắc tuyến đường vận tải đường biển khá quan trọng với cảng Cửa Việt - một trong những cảng lớn ở miền Trung.

Có thể nói, thắng lợi của chiến dịch Trị - Thiên khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự chỉ đạo, chỉ huy chiến lược, chiến dịch sáng tạo, kiên quyết của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã phân tích và lường định đúng về tình hình, thời cơ, hạ quyết tâm mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam vào thời điểm có lợi nhất trên một hướng chiến lược quan trọng.

Việc chọn hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên năm 1972 đã giành thắng lợi to lớn, góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris, chấp nhận rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam nước ta, đẩy nhanh quân ngụy vào thế suy sụp mới. Đây là kết quả to lớn trên con đường tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tạo nên thế chiến lược mới có lợi cho ta, đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng./.

 



[1]Bộ Quốc phòng, Biên niên sự kiện 1945 – 2000, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H, tr. 396.

[2]David Fulghum & Terrance Maitland, et al, South Vietnam on Trial. Boston: Boston Publishing Company, 1984, tr.138.

[3]Báo Quảng Trị giải phóng, số ra ngày 4-5-1972.

[4]William Colby, Một chiến thắng bị bỏ lỡ, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1972.

 

NGHỆ THUẬT TẬP TRUNG TẠO ƯU THẾ CHO HƯỚNG CHỦ YẾU TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972

Hoằng Tháo

Trên cơ sở đánh giá tình hình mọi mặt, để có được chiến thắng vang dội trên chiến trường nhằm tạo thuận lợi cho cuộc đàm phán tại Hội nghị Pari, ta quyết định mở Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam với hướng chủ yếu là Trị - Thiên.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 diễn ra trong bối cảnh Hội nghị Paris bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đang đi tới giai đoạn quyết định một giải pháp chính trị. Do đó, trên hướng tiến công chủ yếu này đã diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch. Mỗi bên đều tập trung nỗ lực cao nhất để giành thắng lợi lớn nhất nhằm làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho mình, phục vụ cho ý định chiến lược lâu dài, trong các giai đoạn tiếp sau.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về chiến lược quân sự trong, trong đó nổi bật là nghệ thuật tập trung tạo ưu thế cho hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên và được thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:

Một là, Hướng tiến công chiến lược chủ yếu được tập trung cao độ sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương

Tháng 5/1971, Bộ Chính trị đã họp và đề ra nhiệm vụ cần kíp của quân và dân ta: Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.

Tháng 8/1971, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trong năm 1972 trên toàn miền Nam nhằm vào ba hướng chính: Trị -Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trong đó, chiến trường Trị - Thiên có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược ở miền Trung và Tây Nguyên của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sau khi cân nhắc kỹ, đầu tiên miền Đông Nam Bộ được chọn làm hướng tiến công chủ yếu, rồi đến chọn Tây Nguyên và cuối cùng là chọn Trị - Thiên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu.

Ngày 11/3/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết về Kế hoạch chiến lược năm 1972, trong đó xác định: “Trị - Thiên từ vị trí là hướng phối hợp quan trọng nay chuyển thành hướng chiến lược chủ yếu nhằm tiêu diệt lực lượng lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới”.

Hai là, hướng tiến công chiến lược chủ yếu đã tập trung đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là những cán bộ tầm chiến lược 

Trên hướng tiến công chiến lược chủ yếu Trị - Thiên, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng ủy chiến dịch: Trung tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy. Đây là sự lựa chọn sáng suốt của Quân ủy Trung ương bởi địa bàn Trị - Thiên nằm sát với hậu phương lớn miền Bắc, việc giao nhiệm vụ cho các đồng chí cán bộ có tầm chiến lược trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy thể hiện sự tập trung cao độ của Quân ủy Trung ương cho một chiến dịch lớn mang ý nghĩa chiến lược.

Tiếp đó, ngày 15/3/1972, Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch họp triển khai kế hoạch tác chiến và nhấn mạnh: Trị - Thiên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược của địch. Mặc dù bị đánh đau, chúng không chịu từ bỏ một điểm nào. Từ cuối năm 1971, Mỹ - ngụy đã phán đoán hướng tiến công chiến lược năm 1972 của ta, tuy không phải là Trị - Thiên nhưng chúng vẫn tăng cường phòng vệ, ráo riết hành quân, phát hiện lực lượng và sự chuẩn bị của ta.

Ba là, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trực tiếp phê chuẩn kế hoạch tác chiến và chỉ đạo phát triển nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trên hướng chiến lược chủ yếu

Trung tuần tháng 3/1972, Bộ Chính trị thông qua lần cuối và phê chuẩn kế hoạch tiến công trên hướng chủ yếu Trị - Thiên. Theo đó, các đơn vị đã vào vị trí tập kết để chiến dịch bắt đầu từ ngày 30/3 đến ngày 1/5/1972.

Trong quá trình diễn ra chiến dịch, địch có sức cơ động cao, có nhiều khả năng chuyển hóa so sánh lực lượng từ yếu thành mạnh trong thời gian ngắn, nên khi chọn hướng tiến công chủ yếu vào nơi địch yếu và sơ hở Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã tính đến khả năng đối phó của chúng khi ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, bộ đội ta phải sử dụng chiến thuật phối hợp hỏa lực và vận động, dùng pháo binh, xe tăng dẫn đầu đánh tan những vị trí địch yếu kém. Các dàn súng phòng không cơ động đã ngăn không cho máy bay đến đúng tầm có thể yểm trợ, nhờ đó xe tăng của ta ào tới chiếm các mục tiêu của địch. Trong khi đó, các đơn vị quân đội Sài Gòn do không quen cầm cự với hỏa lực pháo tập trung và chưa được huấn luyện để chặn cuộc tiến công ồ ạt của xe tăng, nên đã tán loạn kinh hoàng trước cuộc tiến công thần tốc của ta.

Tại hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên, ta đã sử dụng phương pháp tác chiến tiến công thích hợp để tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch, phá vỡ hệ thống phòng ngự kiên cố, kết hợp tiêu diệt địch và phá thế phòng thủ của chúng. Sau đó, ta dùng phương pháp tác chiến chủ yếu của nghệ thuật chiến dịch tiến công, tập trung đột phá trọng điểm trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, tạo được ưu thế áp đảo nên ta đã giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 2-5-1972. Học giả người Mỹ W.R. Baker đã đánh giá: “Cộng sản tấn công với tốc độ nhanh và chính xác. Đây là những cuộc tấn công hướng tới thành Cổ Quảng Trị và quan trọng nhất là một số đơn vị của Cộng sản là lực lượng tại chỗ ngăn chặn bất kỳ sự nỗ lực nào của Việt Nam cộng hòa”.

Trong quá trình diễn ra chiến dịch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo cụ thể, sâu sắc để chiến dịch Trị - Thiên thắng lợi. Qua đó, có thể thấy được tác động to lớn của Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam, đặc biệt ở Quảng Trị là rất lớn, đáp ứng kịp thời và có hiệu quả yêu cầu của đấu tranh ngoại giao trên bàn hội nghị.

Bốn là, hướng tiến công chiến lược chủ yếu được tập trung một lực lượng lớn cả về binh lực và hỏa lực

Do vị trí đặc biệt của Trị - Thiên đối với cả địch và ta năm 1972, tại chiến trường này đã xảy ra sự đọ sức quyết liệt nhất giữa địch và ta, bên nào cũng nỗ lực cao nhất, tập trung mọi khả năng có thể có, để giành thắng lợi. Ta đã sử dụng một lực lượng lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ, bao gồm nhiều sư đoàn chủ lực, cả bộ binh và binh chủng kỹ thuật. Các lực lượng của ta và địch tại Trị - Thiên gồm: Bộ binh: 11 sư đoàn và 23 trung đoàn; Pháo binh: 5 trung đoàn và 7 tiểu đoàn; Tăng, thiết giáp: 4 tiểu đoàn. Ở thời điểm đầu năm 1972, trên một hướng chiến lược chủ yếu cả ta và địch đã tập trung đến mức cao nhất về lực lượng để quyết chiến thắng.

Bắt đầu từ trưa ngày 30/3/1972, Sư đoàn 308 với sự yểm trợ của trung đoàn xe tăng và pháo binh vượt qua khu phi quân sự tại giới tuyến 17 chia cắt 2 miền. Từ phía Tây, Sư đoàn 324B, với xe tăng yểm trợ theo đường 9 từ Lào vượt qua Khe Sanh, tiến vào thung lũng sông Thạch Hãn. Lực lượng tương đương 3 sư đoàn này của ta đã “gây bất ngờ cho quân phòng thủ Việt Nam cộng hòa và đồng minh Mỹ”, sau đó làm tan rã lực lượng này. Trong thời gian từ ngày 2/4 đến ngày 29/4, quân ta chủ động tiến công trên nhiều hướng và đến trưa ngày 1/5/1972, Chuẩn tướng Vũ Văn Giai (Tư lệnh Sư đoàn 3 ngụy) bỏ chạy khỏi Quảng Trị. Từ Huế, tại đồn Mang Cá, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm xúc động mạnh và nói: “Tối nay, địch (Việt cộng) sẽ vào Quảng Trị mà không tốn thêm một viên đạn nào”  và tình báo Mỹ có trụ sở tại Đà Nẵng, trong báo cáo đã viết: “Về cơ bản, các lực lượng quân đội Bắc Việt đã chiến thắng nhanh như chớp. Quân đội Việt Nam cộng hòa ngạc nhiên khi quân đội Bắc Việt sử dụng lực lượng trong các cuộc tiến công”.

Từ 30/3 đến 1/5/1972, quân và dân Quảng Trị đã quét sạch hệ thống phòng ngự kiên cố nhất và đập tan bộ máy kìm kẹp của Mỹ - ngụy từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh, từ Lao Bảo đến Cửa Việt. Báo Quảng Trị giải phóng, số ra ngày 4/5/1972 có đoạn: “Thắng lợi ở Quảng Trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó tỏ rõ sự trưởng thành vượt bậc, sức mạnh to lớn của ta, chính quyền Mỹ bị sức ép mạnh của nhân dân Mỹ và dư luận thế giới” và giới quân sự ở Sài Gòn nhận định: “Thật khủng khiếp, Bắc Việt Nam sử dụng lực lượng ồ ạt như vũ bão trong các cuộc tiến công. Và rồi họ chiến thắng, bỏ xa quân đội Việt Nam cộng hòa”

Mặc dù từ đầu đến cuối chiến dịch, ta luôn giữ quyền chủ động chiến lược, chiến dịch, buộc địch phải bị động điều quân, làm cho thế bố trí chiến lược của chúng trên toàn miền Nam bị đổ vỡ, rối loạn, nhưng khả năng của ta có hạn, không thể đánh dứt điểm các mục tiêu như ý định ban đầu. Mặc dù vậy, cuộc đương đầu lịch sử đã phân rõ thắng bại.

Có thể nói, thắng lợi của chiến dịch Trị - Thiên khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự chỉ đạo, chỉ huy chiến lược, chiến dịch sáng tạo, kiên quyết của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã phân tích và lường định đúng về tình hình, thời cơ, hạ quyết tâm mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam vào thời điểm có lợi nhất trên một hướng chiến lược quan trọng.

Việc tập trung mọi mặt, tạo ưu thế để hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên năm 1972 giành thắng lợi to lớn, là nét đặc sắc tiêu biểu trong chiến lược quân sự góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris, chấp nhận rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam nước ta, đẩy nhanh quân ngụy vào thế suy sụp mới, tạo nên thế chiến lược mới có lợi cho ta, tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, để đẩy mạnh cuộc kháng chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Tập tài liệu về đánh giá của nước ngoài về Cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, HS số 33, Lưu TTXVN

(2) Các điện số 118- ĐK ngày 10-7-1972; 144- ĐK ngày 18-7-1972 lưu tại thư viện Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, hồ sơ số 1262 và 238- Lưu trữ Bộ Quốc phòng

(3) Hồ sơ số 43 - Tổng kết chiến dịch Trị - Thiên, Tài liệu lưu TTXVN

(4) Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1945 - 1975), QĐND, H, 2001, tr.356

(5) Trích theo: “Cuộc triệt thoái đầy bi thảm khỏi thành phố Quảng Trị, Quốc Hưng dịch, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 5-1992, tr.89

 

NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC, ĐIỀU HÀNH CHIẾN DỊCH TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972

 Trung Lập

        Trong cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam cũng như trên chiến trường nước bạn, chúng ta đã tiến hành nhiều loại hình chiến dịch khác nhau, có nhiều chiến dịch tiến công, có cả chiến dịch phòng ngự, chiến dịch tiến công tổng hợp... đều với quy mô chiến dịch lớn và có phương thức tác chiến chiến dịch phát triển sáng tạo. Theo tình hình phát triển của chiến tranh và theo yêu cầu của chiến lược với trình độ khả năng tác chiến của bộ đội ta đã được nâng cao.

        Nghệ thuật chiến dịch của ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 có nhiều nội dung phong phú đa dạng, có bước tiến mới. Tiêu biểu là sự phát triển nghệ thuật tổ chức và điều hành chiến dịch trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, với một số nội dung sau:

Thứ nhất,  đánh giá đúng so sánh lực lượng địch - ta về mặt chiến dịch, kịp thời chuyển hóa thế trận chiến dịch hoặc chủ động thay đổi loại hình chiến dịch

Đây là vấn đề nghệ thuật có tầm quan trọng quyết định thắng lợi (từng bước) của chiến dịch từ lúc mở đầu, tiến trình đến khi kết thúc chiến dịch. Chỉ huy chiến dịch phải nắm chắc địch cả về chiến lược và chiến dịch đánh giá chính xác, kịp thời so sánh lực lượng địch, ta sau mỗi đợt, mỗi bước, từ đó phát hiện tình hình mới rút ra kết luận mới. Đây là căn cứ quan trọng nhất để hạ quyết tâm chiến dịch cũng như hạ quyết tâm từng đợt chiến dịch. Các chiến dịch lớn ở Trị - Thiên, bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ cho thấy cho thấy, khi mở đầu chiến dịch, ta đã đánh giá đúng địch - ta, từ đó có quyết tâm đúng, xác định cách đúng, sử dụng lực lượng thích hợp dẫn đến mở đầu chiến dịch tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch đề ra cho đợt tiến công đầu.

        Song, trong tiến trình phát triển tiến công của các chiến dịch đã có những biến động lớn của cả hai bên. Địch không chịu để mất Quảng -Trị, một địa bàn tiếp giáp miền Bắc trong thời điểm mà cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và Mỹ tiến gần tới điểm nút của một giải pháp. Bởi vậy, Mỹ áp dụng một "chủ trương quân sự có tính chất quyết định” đưa không quân và hải quân Mỹ trở lại tham chiến ồ ạt ở miền Nam, đánh phá miền Bắc, rải mìn phong tỏa các cửa sông, cửa biển miền Bắc. Trên thực tế lúc này đối tượng tác chiến chiến dịch của ta đã không chỉ quân ngụy, mà là bộ binh ngụy không quân, hải quân Mỹ, nhưng ta lại chưa dự tính hết khả năng Mỹ trở lại tham chiến. Mặt khác, ta chưa đánh giá được sự giảm sút sức chiến đấu của bộ đội.

        Do ta đánh giá chưa đúng cố gắng và khả năng của địch cũng như sức chiến đấu của lực lượng ta trong quá trình chiến dịch, nhất là sau 2 đợt chiến dịch (cả ở Trị - Thiên và Đông Nam Bộ), do đó không xác định đúng phương thức tác chiến chiến dịch và chuẩn bị đánh trả cuộc phản kích lớn của chúng. Ta tổ chức đánh thị xã Bình Long chậm khi không còn thời cơ. Ta cũng không dứt khoát sớm chuyển vào phòng ngự chiến dịch ở Quảng Trị.

Cùng với nội dung trên, chỉ huy chiến dịch cần chủ động dự kiến các tình huống, các thời cơ để chuyển hóa thế trận chiến dịch. Tình huống, thời cơ trên một hướng chiến lược thường chỉ có thể dự kiến trước một phần, chủ yếu là đợt đầu, bước một, còn tiếp sau chỉ có thể dự kiến một mức nhất định trên cơ sở của sự so sánh lực lượng địch ta. Yêu cầu hàng đầu của chỉ huy chiến dịch là phải nhạy bén với sự phát triển của tương quan lực lượng mới, nắm được thời cơ mới, hành động kiên quyết, kịp thời, không do dự, ngập ngừng khi phải quyết định giữ nguyên hay thay đổi loại hình chiến dịch (tiến công hay phản công hay phòng ngự).

        Thứ hai, tập trung giải quyết đúng đắn một số vấn đề cơ bản về cách đánh chiến dịch tiến công

        Tạo được ưu thế chiến dịch và duy trì được ưu thế đó trong suốt quá trình chiến dịch. Đối với cả ba chiến dịch tiến công lớn của bộ đội chủ lực (Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ) cũng như hai chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá bình định (bắc Bình Định và Khu 8), khi mở chiến dịch và ở đợt đầu, ta đã tạo được ưu thế hơn địch trên toàn chiến dịch. Các lực lượng chiến dịch đều được triển khai thành thế sẵn sàng đánh địch trên các địa bàn có lợi. Ta lại thực hiện được nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, điều động địch theo ý định của ta, giữ được bí mật cho đến giờ nổ súng, tạo nên bất ngờ lớn đối với địch. Cách đánh chiến dịch, chiến thuật đã được xác định và quán triệt tốt đến các đơn vị. Do đó quân ta đã đánh thắng giòn giã trong những đợt đầu chiến dịch.

Chọn đúng hướng tiến công chủ yếu (khu vực tiến công chủ yếu) của chiến dịch. Thường phải căn cứ vào điều kiện thực tế khi bắt đầu chiến dịch và dự kiến quá trình phát triển chiến dịch để chọn hướng (khu vực) tiến công chủ yếu của chiến dịch và từng đợt chiến dịch. Ta thường chọn nơi địch yếu và sơ hở nhưng cũng có thể chọn nơi địch mạnh lại là nơi hiểm yếu; tốt nhất nơi địch yếu và sơ hở liên quan đến nơi hiểm yếu của chúng. Đồng thời phải căn cứ vào điều kiện cho phép triển khai binh chủng hợp thành tốt, bảo đảm tiếp tế vật chất vững chắc và liên tục. Vì địch có sức cơ động cao, có nhiều khả năng chuyển hóa so sánh lực lượng từ yếu thành mạnh trong thời gian ngắn nên khi chọn hướng tiến công chủ yếu vào nơi địch yếu và sơ hở, cần tính đến khả năng đối phó của chúng khi ta không còn yếu tố bất ngờ. Thông thường, nơi hiểm yếu cũng là nơi địch mạnh. Khi phải đánh thẳng vào chỗ mạnh của địch, nếu ta biết tập trung giải quyết một số điểm then chốt có tính quyết định để hạn chế cái mạnh của chúng (về hỏa lực, sức cơ động và quân ứng viện), đánh bại biện pháp tác chiến chủ yếu của địch, chú trọng thực hành chia cắt, vu hồi chiến dịch, chiến thuật nhằm bao vây diệt gọn không cho địch tăng cường thêm hoặc rút chạy thoát, dùng biện pháp có hiệu lực đánh bại xe tăng, thiết giáp của chúng và có lực lượng dự bị để đối phó với sự cơ động cao của địch... thì ta vẫn có thể đánh thắng địch ở ngay tại chỗ mạnh của chúng, điển hình thành công như đợt 1, đợt 2 của chiến dịch Trị - Thiên.

        Vận dụng phương pháp tác chiến chiến dịch tiến công thích hợp. Trong các chiến dịch tiến công tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, phương pháp tác chiến thích hợp là phải kết hợp tiêu diệt địch và phá thế phòng thủ của chúng, phải vừa đột phá mạnh, vừa thọc sâu vu hồi, bao vây, chia cắt chiến dịch, dùng tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng, đánh ở cả đằng trước mặt và đằng sau lưng địch; đánh cả tuyến tác chiến phía trước và các kho tàng sân bay, trận địa pháo, sở chỉ huy và đường giao thông vận chuyển của địch.

        Đột phá kết hợp bao vây, chia cắt địch luôn luôn là phương pháp tác chiến chủ yếu của nghệ thuật chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng. Muốn đột phá thành công, phải đánh địch trên nhiều hướng mà hiểm nhất là hướng bên sườn và phía sau đội hình địch. Phải tập trung đột phá trọng điểm trên hướng tiến công chủ yếu, tạo ưu thế hơn hẳn địch trên đoạn đột phá đó và chọn điểm đột phá vào nơi hiểm yếu nhất có liên quan đến toàn bộ tuyến phòng thủ của địch.

Nên tổ chức cụm cơ động chiến dịch bằng các đơn vị bộ binh thiết giáp có sức đột kích mạnh và khả năng cơ động cao, thọc sâu nhanh, đánh bất ngờ để thực hiện bao vây vu hồi chia cắt chiến dịch... Phải kết hợp đòn tiến công của chủ lực với hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương, tại chỗ, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy để làm tan rã lực lượng kìm kẹp của địch, phá vỡ mạng lưới bảo an, dân vệ và phân tán một phần chủ lực của địch, tạo điều kiện có lợi cho chủ lực nhanh chóng đập vỡ hệ thống phòng thủ của địch, tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của chúng.

Chỉ đạo vận dụng chiến thuật thích hợp nhằm đánh bại các biện pháp tác chiến phòng ngự chủ yếu của địch. Trong đổi phó với tiến công của ta, địch thay đổi biện pháp và thủ đoạn tác chiến khá nhanh. Ta phải nắm vững quy luật tác chiến của địch trong từng chiến dịch, phát hiện kịp thời sự thay đổi đó để xác định đúng và vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh về chiến thuật để đánh bại các biện pháp tác chiến chủ yếu của chúng, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Những hình thức chiến thuật chủ yếu mà ta vận dụng thành công trong các chiến dịch cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là: Tận dụng hỏa lực mạnh của pháo binh, tiến hành bao vây tiến công tiêu diệt địch trong thời gian ngắn, từng cứ điểm, cụm cứ điểm địch có công sự vững chắc (như đợt l: chiến dịch Trị - Thiên), cả bộ binh cơ động xung quanh của chúng và lực lượng phản kích từ phía sau ra; tiến công bằng hiệp đồng binh chủng, dùng lực lượng chủ yếu là bộ binh, xe tăng và pháo binh đột phá liên tục đánh đến đâu trụ bám đến đó, kết hợp thủ đoạn thọc sâu, chia cắt nhằm tiêu diệt quân địch co cụm lớn có xe tăng, thiết giáp làm nòng cốt (như đợt 2: chiến dịch Trị - Thiên); thọc sâu, tiến công mục tiêu trong hành tiến, kết hợp thực hiện bao vây, vu hồi, thọc sâu, chia cắt về chiến dịch, đánh chiếm một số mục tiêu như ở hướng đông chiến dịch Trị - Thiên.

Ta còn vận dụng các hình thức khác như truy kích quân địch rút chạy; tập kích hậu cứ, kho tàng; phục kích, đánh giao thông, đánh quân tăng viện ứng cứu của địch. Có nơi có lúc, vận dụng hình thức chiến thuật lâm thời phòng ngự hoặc chốt giữ các mục tiêu quan trọng, chặn phá quân địch ra giai tỏa (chốt chặn Tàu Ô trên đường số 13 - chiến dịch Nguyễn Huệ).

Thứ ba, phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng.

        Từ các chiến dịch tiến công, nhất là chiến dịch tiến công tổng hợp, phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong ba thứ quân là vấn đề quan trọng có tính nguyên tắc của nghệ thuật chuẩn bị và thực hành chiến dịch của chiến tranh nhân dân ở nước ta. Nhất thiết phải có đòn tiến công quyết định của chủ lực như "quả đấm mạnh", đồng thời phải có sự phối hợp của chiến tranh du kích hoặc nổi dậy của quần chúng tại chỗ. Trong 2 đợt đầu chiến dịch tiến công Trị -Thiên, trong khi chủ lực đánh mạnh và có hiệu quả vào tập đoàn chủ yếu của địch, thì lực lượng vũ trang địa phương (có lúc được tăng cường cả một số đơn vị chủ lực) đã đánh mạnh vào bộ máy kìm kẹp của địch, bức rút một loạt căn cứ lớn nhỏ như Dốc Miếu, Quán Ngang, Bến Ngự, Cửa Việt tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giải phóng hai huyện Gio Linh, Cam Lộ, góp phần phát triển thắng lợi của chiến dịch.

        Trên một hướng tiến công chiến lược, trên một vùng đông dân, bằng chiến dịch tiến công quy mô lớn tác chiến hiệp đồng binh chủng, nhất là bằng chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá bình định (kết hợp tiến công và nổi dậy) đương nhiên phải có đòn tiến công quân sự mạnh của chủ lực, đồng thời phải có sự kết hợp hết sức quan trọng của lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy rộng rãi mới tạo được sức mạnh tổng hợp lớn nhất của chiến dịch.

        Chiến dịch tiến công tổng hợp là sự sáng tạo của nghệ thuật chiến dịch tiến công của chiến tranh nhân dân, biểu hiện tập trung của chiến lược tổng hợp trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam. Chiến dịch tiến công tổng hợp Quân khu 8 diễn ra trên một không gian rất rộng (5 tỉnh miền Trung Nam Bộ), với một lực lượng tổng hợp rất lớn của cả hai lực lượng, ba thứ quân (với hơn 1 triệu dân cùng quân chủ lực Miền và quân khu tương đương 1 quân đoàn), đánh địch bằng cả 2 chân (vũ trang và chính trị), 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) do sự lãnh đạo, chỉ huy của 1 cơ quan điều hành thống nhất từ cấp chiến dịch đến tận cơ sở. Ở miền Trung Trung Bộ, ta cũng tiến hành chiến dịch tiến công tổng hợp ở bắc Bình Định với lực lượng quần chúng nhân dân tham gia chiến dịch rộng lớn và có hiệu quả cao, đã phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công quân sự, tận dụng được thắng lợi của tiến công quân sự. Thắng lợi của các chiến dịch tiến công tổng hợp trong giai đoạn này cho thấy phối hợp tác chiến của lực lượng vũ trang cả ba thứ quân mà trụ cột là đơn vị chủ lực, trong chiến dịch là một nét đặc thù của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong chiến dịch là nét độc đáo của nghệ thuật chiến dịch của ta trong kháng chiến chống Mỹ.

        Thứ tư, nắm vững và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chỉ huy chiến dịch và chỉ đạo chiến lược

        Đây là một trong những nội dung cơ bản của nghệ thuật chiến dịch đồng thời là một yêu cầu mang tính nguyên tắc để bảo đảm thắng lợi cho chiến dịch. Quá trình phát triển của nghệ thuật chiến dịch trong chiến tranh, qua các giai đoạn chiến lược, đặt ra yêu cầu phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ này. Năm 1972, cuộc Tiến công chiến lược diễn ra trong bối cảnh Hội nghị Pari bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đang đi vào thời điểm quyết định bằng một giải pháp chính trị. Trên các hướng tiến công chiến lược, đặc biệt ở hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên, đã diễn ra cuộc đọ sức và đấu trí quyết liệt nhất giữa ta và địch. Mỗi bên đều tập trung nỗ lực rất cao để giành thắng lợi lớn nhất nhằm làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho mình. Trước mắt là phục vụ trực tiếp cho yêu cầu đấu tranh chính trị - ngoại giao đồng thời phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược tiếp sau giải pháp chính trị là kết thúc cuộc chiến tranh.

Trong tình huống ta tiến hành đồng thời và kế tiếp nhiều chiến dịch tiến công quy mô lớn trên nhiều hướng chiến lược khác nhau dưới sự chỉ đạo trực tiếp thống nhất của chiến lược thì yêu cầu giải quyết mối quan hệ này (chiến dịch - chiến lược) càng trở nên vô cùng bức thiết. Nếu chiến lược đã tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ mở chiến dịch, xác định phương hướng mục tiêu, phương thức tác chiến và quy mô sử dụng lực lượng cho mỗi chiến dịch, thì bản thân chiến dịch thông qua hoạt động thực tiễn của mình trên chiến trường phải thực hiện bằng được nhiệm vụ chiến lược giao cho, phục vụ cao nhất yêu cầu của chiến lược.

Thực tế diễn ra trong cả ba chiến dịch tiến công lớn trên ba hướng chiến lược ở cả hai giai đoạn chuẩn bị và thực hành đã chứng minh tính đúng đắn của chỉ đạo chiến lược về chọn hướng mở chiến dịch, về xác định mục tiêu, phương hướng chiến dịch, tạo thế, tạo lực ban đầu... cho chiến dịch. Trong quá trình phát triển của từng chiến dịch, nhất là ở hướng chủ yếu, sự chỉ đạo chiến lược đã bám sát thực tế đề ra những hướng hành động chiến dịch sát đúng trong nhiều tình huống lớn.

Tuy nhiên, với chiến dịch Trị - Thiên, sau hai đợt thắng lớn, khi tình hình so sánh lực lượng hai bên đã có sự thay đổi lớn, khi địch đã "Mỹ hóa" trở lại cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân, quân tổng dự bị chiến lược ngụy đã ra phản kích lớn để chiếm lại Quảng Trị, thì sự chỉ đạo của chiến lược lúc này chưa thật nhạy bén để chỉ đạo chuyển từ tiến công sang phòng ngự cho phù hợp với sự phát triển mới của tình hình lúc đó, làm cho cấp chiến dịch đã khó khăn, lúng túng, càng bị động, bối rối. Ngược lại, trong chiến dịch Nguyễn Huệ, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền đã chỉ thị đúng là phải tranh thủ thời cơ đánh Bình Long sớm "khi quân địch chưa kịp co cụm lớn", cũng như sau đó lại chỉ thị đúng "phải ngừng đánh Bình Long" lần thứ 2 khi "so sánh thế và lực đã thay đổi bất lợi cho ta sau trận đánh Bình Long lần thứ nhất không thành công", song, chỉ huy chiến dịch, do chưa quán triệt ý định của chiến lược, cả hai lần đều không thực hiện được đúng ý định của Miền nên đều không giành thắng lợi chiến dịch như mong muốn.

Duy trì áp lực quân sự dài ngày và liên tục trên chiến trường đã phối hợp với đấu tranh chính trị - ngoại giao trong cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 là cần thiết. Song đối với các chiến dịch tiến công, đặc biệt là đòn tiến công của khối chủ lực mà kéo quá dài (mỗi chiến dịch tới 9 - 10 tháng) là không phù hợp. Đây vừa thuộc trách nhiệm của chỉ đạo chiến lược vừa là tài nghệ của chỉ huy chiến dịch. Đòn tiến công của chủ lực như quả đấm nên phải mạnh và nhanh. Nếu kéo dài, địch sẽ có thòi gian và điều kiện tăng cường lực lượng, củng cố thế phòng ngự, đưa ta vào thế bất lợi. Về danh nghĩa, chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ đã kéo dài 10 tháng, nhưng trên thực tế chiến dịch tiến công bằng hiệp đồng binh chủng đã kết thức cùng thời gian ta kết thúc đợt 1 của chiến dịch khoảng 1 tháng rưỡi (ngày 15 tháng 5 năm 1972), sau bước đánh vào thị xã Bình Long không thành công. Còn chiến dịch tiến công Trị - Thiên trên thực tế cũng đã kết thúc sau đợt 2, khi đánh qua sông Mỹ Chánh không thành công (ngày 26 tháng 6 năm 1972). Nếu chỉ đạo chiến lược có dự kiến đúng từ trước như tổ chức một số chiến dịch kế tiếp nhau trên cùng một hướng chiến lược và chỉ huy chiến dịch cũng sớm phát hiện được tình huống không bình thường của tiến trình quá dài chiến dịch... thì chắc chắn sẽ có chủ trương chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ; tiếp đó có thể tổ chức một số đợt đệm hoặc một số chiến dịch khác với mục tiêu và phương thức thích hợp trong hoàn cảnh thực tế lúc bấy giờ để không ngừng phục vụ yêu cầu chiến lược.

        Trên đây là một số nội dung nghệ thuật tổ chức và điều hành chiến dịch trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, nó tiếp tục được vận dụng phát triển ở giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Không những thế còn là những bài học giá trị để Đảng, Nhà nước và quân đội ta tiếp tục nghiên cứu bổ sung phát triển lý luận và tổ chức, điều hành chiến dịch, vận dụng sáng tạo vào trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.