NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC, ĐIỀU HÀNH CHIẾN DỊCH TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC
NĂM 1972
Trong cuộc Tiến
công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam cũng như trên chiến trường
nước bạn, chúng ta đã tiến hành nhiều loại hình chiến dịch khác nhau, có nhiều
chiến dịch tiến công, có cả chiến dịch phòng ngự, chiến dịch tiến công tổng hợp...
đều với quy mô chiến dịch lớn và có phương thức tác chiến chiến dịch phát triển
sáng tạo. Theo tình hình phát triển của chiến tranh và theo yêu cầu của chiến
lược với trình độ khả năng tác chiến của bộ đội ta đã được nâng cao.
Nghệ thuật chiến dịch của ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972
có nhiều nội dung phong phú và đa dạng, có bước tiến mới.
Tiêu biểu là sự phát triển nghệ thuật tổ chức và điều hành chiến dịch
trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, với một số nội dung sau:
Thứ nhất,
đánh giá đúng so sánh lực lượng địch -
ta về mặt chiến dịch, kịp thời
chuyển hóa thế trận chiến dịch hoặc chủ động thay đổi loại hình chiến dịch
Đây là vấn đề nghệ thuật có tầm quan trọng
quyết định thắng lợi (từng bước) của chiến dịch từ lúc mở đầu, tiến trình đến
khi kết thúc chiến dịch. Chỉ huy chiến dịch phải nắm chắc địch cả về chiến lược
và chiến dịch đánh giá chính xác, kịp thời so sánh lực lượng địch, ta sau mỗi đợt,
mỗi bước, từ đó phát hiện tình hình mới rút ra kết luận mới. Đây là căn cứ quan
trọng nhất để hạ quyết tâm chiến dịch cũng như hạ quyết tâm từng đợt chiến dịch.
Các chiến dịch lớn ở Trị - Thiên, bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ cho thấy cho thấy,
khi mở đầu chiến dịch, ta đã đánh giá đúng địch - ta, từ đó có quyết tâm đúng,
xác định cách đúng, sử dụng lực lượng thích hợp dẫn đến mở đầu chiến dịch tốt,
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch đề ra cho đợt tiến công đầu.
Song, trong tiến
trình phát triển tiến công của các chiến dịch đã có những biến động lớn của cả
hai bên. Địch không chịu để mất Quảng -Trị, một
địa bàn tiếp giáp miền Bắc trong thời điểm mà cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta
và Mỹ tiến gần tới điểm nút của một giải pháp. Bởi vậy, Mỹ áp dụng một "chủ
trương quân sự có tính chất quyết định” đưa không quân và hải quân Mỹ trở lại
tham chiến ồ ạt ở miền Nam, đánh phá miền Bắc, rải mìn phong tỏa các cửa sông,
cửa biển miền Bắc. Trên thực tế
lúc này đối tượng tác chiến chiến dịch của ta đã không chỉ là
quân ngụy, mà là bộ binh ngụy và không quân, hải quân Mỹ, nhưng ta lại chưa dự tính hết khả năng Mỹ trở lại tham chiến. Mặt khác, ta chưa đánh giá được sự giảm
sút sức chiến đấu của bộ đội.
Do ta đánh giá chưa đúng cố gắng và khả
năng của địch cũng như sức chiến đấu của lực lượng ta trong quá trình chiến dịch,
nhất là sau 2 đợt chiến dịch (cả ở Trị - Thiên và Đông Nam Bộ), do đó không xác
định đúng phương thức tác chiến chiến dịch và chuẩn bị đánh trả cuộc phản kích
lớn của chúng. Ta tổ chức đánh thị xã Bình Long chậm khi không còn thời cơ. Ta
cũng không dứt khoát sớm chuyển vào phòng ngự chiến dịch ở Quảng Trị.
Cùng với nội dung
trên, chỉ huy chiến dịch cần chủ động dự kiến các tình huống, các thời cơ để
chuyển hóa thế trận chiến dịch. Tình huống, thời cơ trên một hướng chiến lược
thường chỉ có thể dự kiến trước một phần, chủ yếu là đợt đầu, bước một,
còn tiếp sau chỉ có thể dự kiến một mức nhất định trên cơ sở của sự so sánh lực
lượng địch ta. Yêu cầu hàng đầu của chỉ huy chiến dịch là phải nhạy bén với sự
phát triển của tương quan lực lượng mới, nắm được thời cơ mới, hành động kiên
quyết, kịp thời, không do dự, ngập ngừng khi phải quyết định giữ nguyên hay
thay đổi loại hình chiến dịch (tiến công hay phản công hay phòng ngự).
Thứ hai, tập trung giải quyết
đúng đắn một số vấn đề cơ bản về cách đánh chiến dịch tiến công
Tạo được ưu thế chiến dịch và duy trì được ưu thế đó trong suốt quá trình chiến dịch. Đối với cả ba chiến dịch tiến công lớn của bộ đội chủ lực (Trị - Thiên,
Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ) cũng như hai chiến dịch tiến công tổng hợp đánh
phá bình định (bắc Bình Định và Khu 8), khi mở chiến dịch và ở đợt đầu, ta đã tạo
được ưu thế hơn địch trên toàn chiến dịch. Các lực lượng chiến dịch đều được triển khai thành thế sẵn sàng đánh địch
trên các địa bàn có lợi. Ta lại thực hiện được nghi binh đánh lạc hướng phán
đoán của địch, điều động địch theo ý định của ta, giữ được bí mật cho đến giờ nổ
súng, tạo nên bất ngờ lớn đối với địch. Cách đánh chiến dịch, chiến thuật đã được
xác định và quán triệt tốt đến các đơn vị. Do đó quân ta đã đánh thắng giòn giã
trong những đợt đầu chiến dịch.
Chọn đúng hướng tiến công chủ
yếu (khu vực tiến công chủ yếu) của chiến dịch. Thường
phải căn cứ vào điều kiện thực tế khi bắt đầu chiến dịch và dự kiến quá trình
phát triển chiến dịch để chọn hướng (khu vực) tiến công chủ yếu của chiến dịch
và từng đợt chiến dịch. Ta thường chọn nơi địch yếu và sơ hở nhưng cũng có thể
chọn nơi địch mạnh lại là nơi hiểm yếu; tốt
nhất là nơi địch yếu và sơ hở liên
quan đến nơi hiểm yếu của chúng. Đồng
thời phải căn cứ vào điều kiện cho phép triển khai binh chủng hợp thành tốt, bảo
đảm tiếp tế vật chất vững chắc và liên tục. Vì địch có sức cơ động cao, có nhiều
khả năng chuyển hóa so sánh lực lượng từ yếu thành mạnh trong thời gian ngắn
nên khi chọn hướng tiến công chủ yếu vào nơi địch yếu và sơ hở, cần tính đến khả
năng đối phó của chúng khi ta không còn yếu tố bất ngờ. Thông thường, nơi hiểm
yếu cũng là nơi địch mạnh. Khi phải đánh thẳng vào chỗ mạnh của địch,
nếu ta biết tập trung giải quyết một số điểm then chốt có tính quyết định để hạn
chế cái mạnh của chúng (về
hỏa lực, sức cơ động và quân ứng viện), đánh bại biện pháp tác chiến chủ yếu của
địch, chú trọng thực hành chia cắt, vu hồi chiến dịch, chiến thuật nhằm bao vây
diệt gọn không cho địch tăng cường thêm hoặc rút chạy thoát, dùng biện pháp có
hiệu lực đánh bại xe tăng, thiết giáp của chúng và có lực lượng dự bị để đối
phó với sự cơ động cao của địch... thì ta vẫn có thể đánh thắng địch ở ngay tại
chỗ mạnh của chúng, điển hình thành công như đợt 1, đợt 2 của chiến dịch Trị -
Thiên.
Vận dụng phương pháp tác chiến
chiến dịch tiến công thích hợp. Trong các chiến dịch
tiến công tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, phương pháp tác chiến
thích hợp là phải kết hợp tiêu diệt
địch và phá thế phòng thủ của chúng,
phải vừa đột phá mạnh, vừa thọc sâu vu hồi, bao vây, chia cắt chiến
dịch, dùng tiến công quân sự kết hợp với nổi
dậy của quần chúng, đánh ở cả đằng trước mặt và đằng sau lưng địch; đánh cả tuyến
tác chiến phía trước và các kho tàng sân bay, trận địa pháo, sở chỉ huy và đường
giao thông vận chuyển của địch.
Đột phá kết hợp bao vây, chia cắt địch
luôn luôn là phương pháp tác chiến chủ yếu của nghệ thuật chiến dịch tiến công
hiệp đồng binh chủng. Muốn đột phá thành công, phải đánh địch trên nhiều hướng
mà hiểm nhất là hướng bên sườn và phía sau đội
hình địch. Phải tập trung đột phá trọng điểm trên hướng tiến công chủ yếu, tạo
ưu thế hơn hẳn địch trên đoạn đột phá đó và chọn điểm đột phá vào nơi hiểm yếu
nhất có liên quan đến toàn bộ tuyến phòng thủ của địch.
Nên tổ chức
cụm cơ động chiến dịch bằng các đơn vị bộ binh thiết giáp có sức đột
kích mạnh và khả năng cơ động cao, thọc sâu nhanh, đánh bất ngờ để thực
hiện bao vây vu hồi chia cắt chiến dịch... Phải kết hợp đòn tiến công của chủ lực
với hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương, tại chỗ, tạo điều kiện cho quần
chúng nổi dậy để làm tan rã lực lượng kìm kẹp của địch, phá vỡ mạng lưới
bảo an, dân vệ và phân tán một phần chủ lực của địch, tạo điều kiện có lợi cho
chủ lực nhanh chóng đập vỡ hệ thống phòng thủ của địch, tiêu diệt tập đoàn chủ
yếu của chúng.
Chỉ đạo vận dụng chiến thuật
thích hợp nhằm đánh bại các biện pháp tác chiến phòng ngự chủ yếu
của địch. Trong đổi phó với tiến công của ta, địch thay đổi biện
pháp và thủ đoạn tác chiến khá nhanh. Ta phải nắm vững quy luật tác chiến
của địch trong từng chiến dịch, phát hiện kịp thời sự thay đổi đó để xác định
đúng và vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh về chiến thuật để đánh bại các
biện pháp tác chiến chủ yếu của chúng, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển
thắng lợi. Những hình thức chiến thuật
chủ yếu mà ta vận dụng thành công trong các chiến dịch cuộc tiến công chiến lược
năm 1972 là: Tận dụng hỏa lực mạnh của pháo binh, tiến hành bao vây tiến công tiêu diệt địch trong thời gian ngắn, từng
cứ điểm, cụm cứ điểm địch có công sự vững chắc (như đợt l: chiến dịch Trị -
Thiên), cả bộ binh cơ động xung quanh của chúng và lực lượng phản kích từ phía
sau ra; tiến công bằng hiệp đồng binh
chủng, dùng lực lượng chủ yếu là bộ binh, xe tăng và pháo binh đột
phá liên tục đánh đến đâu trụ bám đến đó, kết hợp thủ đoạn thọc
sâu, chia cắt nhằm tiêu diệt quân địch co cụm lớn có xe tăng, thiết giáp
làm nòng cốt (như đợt 2: chiến dịch Trị - Thiên); thọc sâu, tiến công
mục tiêu trong hành tiến, kết
hợp thực hiện bao vây, vu hồi, thọc sâu, chia cắt về chiến dịch, đánh chiếm một
số mục tiêu như ở hướng đông chiến dịch Trị - Thiên.
Ta còn vận dụng các hình thức khác như
truy kích quân địch rút chạy; tập kích hậu cứ, kho tàng; phục kích, đánh giao
thông, đánh quân tăng viện ứng cứu của địch. Có nơi có lúc, vận dụng hình thức
chiến thuật lâm thời phòng ngự hoặc chốt giữ các mục tiêu quan trọng, chặn phá
quân địch ra giai tỏa (chốt chặn Tàu Ô trên đường số 13 - chiến dịch Nguyễn Huệ).
Thứ ba, phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực
lượng vũ trang địa phương, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần
chúng.
Từ các chiến dịch tiến công, nhất là chiến
dịch tiến công tổng hợp, phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong ba thứ
quân là vấn đề quan trọng có tính nguyên tắc của nghệ thuật chuẩn bị và thực
hành chiến dịch của chiến tranh nhân dân ở nước ta. Nhất thiết phải có đòn tiến
công quyết định của chủ lực như "quả đấm mạnh", đồng thời phải có sự
phối hợp của chiến tranh du kích hoặc nổi dậy của quần chúng tại chỗ. Trong 2 đợt
đầu chiến dịch tiến công Trị -Thiên, trong khi chủ lực đánh mạnh và có hiệu quả
vào tập đoàn chủ yếu của địch, thì lực lượng vũ trang địa phương (có lúc được
tăng cường cả một số đơn vị chủ lực) đã đánh mạnh vào bộ máy kìm kẹp của địch,
bức rút một loạt căn cứ lớn nhỏ như Dốc Miếu, Quán Ngang, Bến Ngự, Cửa Việt tạo
điều kiện cho quần chúng nổi dậy giải phóng hai huyện Gio Linh, Cam Lộ, góp phần
phát triển thắng lợi của chiến dịch.
Trên một hướng tiến công chiến lược,
trên một vùng đông dân, bằng chiến dịch tiến công quy mô lớn tác chiến hiệp đồng
binh chủng, nhất là bằng chiến dịch tiến
công tổng hợp đánh phá bình định (kết hợp tiến công và nổi dậy) đương nhiên phải
có đòn tiến công quân sự mạnh của chủ lực, đồng thời phải có sự kết hợp hết sức
quan trọng của lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy rộng rãi mới
tạo được sức mạnh tổng hợp lớn nhất của chiến dịch.
Chiến
dịch tiến công tổng hợp là sự sáng tạo của nghệ thuật chiến dịch tiến công của chiến
tranh nhân dân, biểu hiện tập trung của chiến lược tổng hợp trong cuộc chiến
tranh chống Mỹ ở miền Nam. Chiến dịch tiến công tổng hợp Quân khu 8 diễn ra trên một không gian rất rộng (5 tỉnh miền
Trung Nam Bộ), với một lực lượng tổng hợp rất lớn của cả hai lực lượng, ba thứ
quân (với hơn 1 triệu
dân cùng quân chủ lực Miền và quân khu tương đương 1 quân đoàn), đánh địch bằng
cả 2 chân (vũ trang và
chính trị), 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) do sự lãnh đạo, chỉ
huy của 1 cơ quan điều hành thống nhất từ cấp chiến dịch đến tận cơ sở. Ở miền
Trung Trung Bộ, ta cũng tiến hành chiến dịch tiến công tổng hợp ở bắc Bình Định
với lực lượng quần chúng nhân dân tham gia chiến dịch rộng lớn và có hiệu quả
cao, đã phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công quân sự, tận dụng được thắng lợi của
tiến công quân sự. Thắng lợi của các chiến dịch tiến công tổng hợp trong giai
đoạn này cho thấy phối hợp tác chiến của lực lượng vũ trang cả ba thứ quân mà
trụ cột là đơn vị chủ lực, trong chiến dịch là một nét đặc thù của nghệ thuật
chiến dịch Việt Nam. Kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong
chiến dịch là nét độc đáo của nghệ thuật chiến dịch của ta trong kháng chiến chống
Mỹ.
Thứ
tư, nắm vững và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chỉ huy chiến dịch và chỉ
đạo chiến lược
Đây
là một trong những nội dung cơ bản của nghệ thuật chiến dịch đồng thời là một
yêu cầu mang tính nguyên tắc để bảo đảm thắng lợi cho chiến dịch. Quá trình
phát triển của nghệ thuật chiến dịch trong chiến tranh, qua các giai đoạn chiến
lược, đặt ra yêu cầu phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ này. Năm 1972, cuộc
Tiến công chiến lược diễn ra trong bối cảnh Hội nghị Pari bàn về chấm dứt chiến
tranh ở Việt Nam đang đi vào thời điểm quyết định bằng một giải pháp chính trị.
Trên các hướng tiến công chiến lược, đặc biệt ở hướng tiến công chủ yếu Trị -
Thiên, đã diễn ra cuộc đọ sức và đấu trí quyết liệt nhất giữa ta và địch. Mỗi
bên đều tập trung nỗ lực rất cao để giành thắng lợi lớn nhất nhằm làm chuyển biến
cục diện chiến tranh có lợi cho mình. Trước mắt là phục vụ trực tiếp cho yêu cầu
đấu tranh chính trị - ngoại giao đồng thời phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược
tiếp sau giải pháp chính trị là kết thúc cuộc chiến tranh.
Trong tình huống ta
tiến hành đồng thời và kế tiếp nhiều chiến dịch tiến công quy mô lớn trên nhiều
hướng chiến lược khác nhau dưới sự chỉ đạo trực tiếp thống nhất của chiến lược
thì yêu cầu giải quyết mối quan hệ này (chiến dịch - chiến lược) càng trở nên
vô cùng bức thiết. Nếu chiến lược đã tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ mở chiến dịch,
xác định phương hướng mục tiêu, phương thức tác chiến và quy mô sử dụng lực lượng
cho mỗi chiến dịch, thì bản thân chiến dịch thông qua hoạt động thực tiễn của
mình trên chiến trường phải thực hiện bằng được nhiệm vụ chiến lược giao cho,
phục vụ cao nhất yêu cầu của chiến lược.
Thực tế diễn ra
trong cả ba chiến dịch tiến công lớn trên ba hướng chiến lược ở cả hai giai đoạn
chuẩn bị và thực hành đã chứng minh tính đúng đắn của chỉ đạo chiến lược về chọn
hướng mở chiến dịch, về xác định mục tiêu, phương hướng chiến dịch, tạo thế, tạo
lực ban đầu... cho chiến dịch. Trong quá trình phát triển của từng chiến dịch,
nhất là ở hướng chủ yếu, sự chỉ đạo chiến lược đã bám sát thực tế đề ra những
hướng hành động chiến dịch sát đúng trong nhiều tình huống lớn.
Tuy
nhiên, với chiến dịch Trị - Thiên, sau hai đợt thắng lớn, khi tình hình so sánh
lực lượng hai bên đã có sự thay đổi lớn, khi địch đã "Mỹ hóa" trở lại
cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân, quân tổng dự bị chiến lược ngụy
đã ra phản kích lớn để chiếm lại Quảng Trị, thì sự chỉ đạo của chiến lược lúc
này chưa thật nhạy bén để chỉ đạo chuyển từ tiến công sang phòng ngự cho phù hợp
với sự phát triển mới của tình hình lúc đó,
làm cho cấp chiến dịch đã khó khăn, lúng túng, càng bị động, bối rối. Ngược lại,
trong chiến dịch Nguyễn Huệ, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền đã chỉ thị đúng là phải
tranh thủ thời cơ đánh Bình Long sớm "khi quân địch chưa kịp co cụm lớn",
cũng như sau đó lại chỉ thị đúng "phải ngừng đánh Bình Long" lần thứ
2 khi "so sánh thế và lực đã thay đổi bất lợi cho ta sau trận đánh Bình
Long lần thứ nhất không
thành công", song, chỉ huy chiến dịch, do chưa quán triệt ý định của chiến
lược, cả hai lần đều không thực hiện được đúng ý định của Miền nên đều
không giành thắng lợi chiến dịch như mong muốn.
Duy
trì áp lực quân sự dài ngày và liên tục trên chiến trường đã phối hợp với đấu
tranh chính trị - ngoại giao trong cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 là cần
thiết. Song đối với các chiến dịch tiến công, đặc biệt là đòn tiến công của khối
chủ lực mà kéo quá dài (mỗi chiến dịch tới 9 - 10 tháng) là không phù hợp. Đây vừa
thuộc trách nhiệm của chỉ đạo chiến lược vừa là tài nghệ của chỉ huy chiến dịch.
Đòn tiến công của chủ lực như quả đấm nên phải mạnh và nhanh. Nếu kéo dài, địch
sẽ có thòi gian và điều kiện tăng cường lực lượng, củng cố thế phòng ngự, đưa
ta vào thế bất lợi. Về danh nghĩa, chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ đã kéo dài
10 tháng, nhưng trên thực tế chiến dịch tiến công bằng hiệp đồng binh chủng đã
kết thức cùng thời gian ta kết thúc đợt 1 của chiến dịch khoảng 1 tháng rưỡi
(ngày 15 tháng 5 năm 1972), sau bước đánh vào thị xã Bình Long không thành
công. Còn chiến dịch tiến công Trị - Thiên trên thực tế cũng đã kết thúc sau đợt
2, khi đánh qua sông Mỹ Chánh không thành công (ngày 26 tháng 6 năm 1972). Nếu
chỉ đạo chiến lược có dự kiến đúng từ trước như tổ chức một số chiến dịch kế tiếp
nhau trên cùng một hướng chiến lược và chỉ huy chiến dịch cũng sớm phát hiện được
tình huống không bình thường của tiến trình quá dài chiến dịch... thì chắc chắn
sẽ có chủ trương chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ; tiếp đó có thể tổ
chức một số đợt đệm hoặc một số chiến dịch khác với mục tiêu và phương thức
thích hợp trong hoàn cảnh thực tế lúc bấy giờ để không ngừng phục vụ yêu cầu
chiến lược.
Trên
đây là một số nội dung nghệ thuật tổ chức và điều hành chiến dịch trong cuộc tiến
công chiến lược năm 1972, nó tiếp tục được vận dụng phát triển ở giai đoạn tiếp
theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Không những thế còn là những bài học giá trị
để Đảng, Nhà nước và quân đội ta tiếp tục nghiên cứu bổ sung phát triển lý luận
và tổ chức, điều hành chiến dịch, vận dụng sáng tạo vào trong chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc hiện nay./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét