VAI TRÒ CỦA CHIẾN TIẾN CÔNG DỊCH TRỊ - THIÊN TRONG TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972, TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM VIỆT NAM
Trong
chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, sau những thất bại trên chiến trường miền Nam
những năm 1970-1971, Mỹ-ngụy đã có nhiều nỗ lực trong việc khôi phục lại tình
hình, nhưng vẫn liên tiếp thất bại và bị dồn vào thế bị động cả về quân sự và
chính trị. Bước vào năm 1972, với bản chất ngoan cố và ỷ lại tiềm lực
chiến tranh còn lớn, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện mục tiêu của chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh” hòng tạo điều kiện mặc cả với ta chấp nhận một giải
pháp có lợi cho mình ở Hội nghị Paris, Pháp. Thực hiện chủ trương giành thắng
lợi quyết định trong năm 1972, ngày 23/3/1972, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm
và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, lấy
Trị Thiên làm hướng tiến công chủ yếu (Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai hướng
phối hợp quan trọng) nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, làm
thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến tranh có
lợi cho ta. Trong đó, Chiến
dịch Trị - Thiên
1972 được diễn ra từ ngày 30/3 đến 27/6/1972 giành thắng lợi to
lớn, ta đã loại khỏi chiến đấu 27.458 tên, bắt 3.388 tên, phá hủy và thu 636 xe
tăng, xe thiết giáp, 1.870 xe quân sự, 429 khẩu pháo các loại, bắn rơi và phá
hủy 340 máy bay, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị và 3 xã thuộc huyện Hương Điền,
tỉnh Thừa Thiên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược đề ra. Đây là lần đầu
trên chiến trường miền Nam ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và
phương tiện chiến tranh, tiêu diệt nhiều trung đoàn, đánh quỵ một sư đoàn địch
và cũng là lần đầu ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh.
Chiến dịch Trị - Thiên -
hướng tiến công chủ yếu trong cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên
chiến trường miền Nam giành thắng lợi có vai trò to lớn góp phần quan
trọng vào cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 của dân tộc ta đó là:
Một là, Chiến dịch Trị - Thiên với
vai trò là hướng chủ yếu trong cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên
chiến trường miền Nam, lần đầu tiên ta tiến hành thắng lợi một
chiến dịch tiến công binh chủng hợp thành quy mô lớn, tiêu diệt một bộ phận
quan trọng sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch tạo điều kiện thuận lợi
cho các mặt trận khác phát triển đánh địch.
Từ những kết quả thắng lợi của Chiến dịch trị - Thiên đã tạo ra điều kiện
thuận lợi cho chiến trường miền Ðông Nam
Bộ - Hướng tiến công phối hợp quan trọng, quân và dân ta đã tiến công giải
phóng huyện lỵ Lộc Ninh (ngày 07/4), loại khỏi vòng chiến đấu chiến đoàn địch, hai trung đoàn thiết giáp,
nhân lúc địch rối loạn, ta tập trung lực lượng tiến công thị xã Bình Long. Tận
dụng lợi thế từ chiến thắng của chiến trường Trị - Thiên và Đông Nam Bộ, ở
chiến trường Tây Nguyên, sau nửa đầu tháng 4 quân và dân ta đập tan tuyến phòng
ngự tây sông Pô Cô, bộ đội ta tiến xuống đường 14 bao vây huyện lỵ Ðắc Tô - Tân
Cảnh. Ngày 24/4, sau một ngày đêm tiến công mãnh liệt, ta đã tiêu diệt hoàn toàn
căn cứ phòng ngự then chốt của địch trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên, uy
hiếp thị xã Kon Tum. Mặc dù chiến dịch Tây Nguyên chưa giải phóng được thị xã
Kon Tum, nhưng thắng lợi của chiến dịch này đã làm thay đổi cục diện chiến
trường Tây Nguyên, lần đầu trên chiến trường miền Nam ta tiêu diệt gọn sư đoàn
địch trong căn cứ, góp phần vào việc phát triển thế và lực của chiến tranh cách
mạng miền Nam.
Hai
là, hướng tiến công chiến lược Trị - Thiên 1972 là chiến dịch có quy
mô lớn nhất (từ đầu kháng chiến chống Mỹ đến năm 1972) cả về không gian, thời
gian, lực lượng sử dụng và mức độ ác liệt. Đồng thời thúc đẩy kết hợp các hình
thức đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận trên chiến trường miền Nam.
Do vị trí đặc
biệt của Trị - Thiên đối với cả địch và ta năm 1972, tại chiến trường này đã
xảy ra sự đọ sức quyết liệt nhất giữa địch và ta, bên nào cũng nỗ lực cao nhất,
tập trung mọi khả năng có thể có, để giành thắng lợi. Ta đã sử dụng một lực
lượng lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ, bao gồm nhiều sư đoàn chủ lực, cả bộ
binh và binh chủng kỹ thuật. Địch cũng đưa hầu hết các lực lượng tinh nhuệ và
dự bị chiến lược vào cuộc đọ sức này. Quân ngụy miền Nam đã dùng lực lượng dự
bị chiến lược tinh nhuệ nhất mới xây dựng được sau hai năm “Việt Nam hóa chiến tranh”; Mỹ ồ ạt
triển khai trở lại lực lượng không quân (kể cả không quân chiến lược) và hải
quân (bao gồm cả tàu sân bay của Hạm đội 7) để chi viện cho quân ngụy.
So sánh lực
lượng của ta và địch tại chiến trường Trị - Thiên gồm: Bộ binh: Ta: 11 sư đoàn
và 23 trung đoàn; địch: 13 sư đoàn và 11 trung đoàn, lữ đoàn; pháo binh: ta: 5
trung đoàn và 7 tiểu đoàn; địch: 65 tiểu đoàn và 85 trung đội; Tăng, thiết
giáp: ta: 4 tiểu đoàn; địch: 22 tiểu đoàn và 21 trung đội. Ngoài ra địch còn có
1692 máy bay chiến đấu các loại, 1611 hạm tàu. Các lực lượng của ta và địch đều
được bố trí thành các cụm phòng ngự liên hoàn, có công sự kiên cố. Ở thời điểm
đầu năm 1972, trên một hướng chiến lược chủ yếu cả ta và địch đã tập trung đến
mức cao nhất về lực lượng để quyết chiến thắng.
Bắt đầu từ trưa ngày 30/3/1972, Sư đoàn 308 với sự yểm trợ của trung đoàn
xe tăng và pháo binh vượt qua khu phi quân sự tại giới tuyến 17 chia cắt 2
miền. Từ phía Tây, Sư đoàn 324B, với xe tăng yểm trợ theo đường 9 từ Lào vượt
qua Khe Sanh, tiến vào thung lũng sông Thạch Hãn. Lực lượng tương đương 3 sư
đoàn này của ta đã “gây bất ngờ cho quân phòng thủ Việt Nam cộng hòa và đồng
minh Mỹ”[1], sau đó làm tan rã lực lượng này. Trong thời gian từ ngày 02 đến 29/4,
quân ta chủ động tiến công trên nhiều hướng và đến trưa ngày 01/5/1972, Chuẩn
tướng Vũ Văn Giai (Tư lệnh Sư đoàn 3 ngụy) bỏ chạy khỏi Quảng Trị. Từ Huế, tại
đồn Mang Cá, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm xúc động mạnh và nói: “Tối nay, địch
(Việt cộng) sẽ vào Quảng Trị mà không tốn thêm một viên đạn nào” và tình
báo Mỹ có trụ sở tại Đà Nẵng, trong báo cáo đã viết: “Về cơ bản, các lực lượng
quân đội Bắc Việt đã chiến thắng nhanh như chớp. Quân đội Việt Nam cộng hòa
ngạc nhiên khi quân đội Bắc Việt sử dụng lực lượng trong các cuộc tiến công”[2].
Từ 30/3 đến
01/5/1972, quân và dân Quảng Trị đã quét sạch hệ thống phòng ngự kiên cố nhất
và đập tan bộ máy kìm kẹp của Mỹ - ngụy từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh, từ
Lao Bảo đến Cửa Việt. Báo Quảng Trị giải phóng, số ra ngày 04/5/1972 có đoạn: “Thắng lợi ở Quảng Trị có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng, nó tỏ rõ sự trưởng thành vượt bậc, sức mạnh to lớn của ta, chính
quyền Mỹ bị sức ép mạnh của nhân dân Mỹ và dư luận thế giới”[3] và giới quân
sự ở Sài Gòn nhận định: “Thật khủng khiếp, Bắc Việt Nam sử dụng lực lượng ồ ạt
như vũ bão trong các cuộc tiến công. Và rồi họ chiến thắng, bỏ xa quân đội Việt
Nam cộng hòa”[4]
Mặc dù từ đầu
đến cuối chiến dịch, ta luôn giữ quyền chủ động chiến lược, chiến dịch, buộc
địch phải bị động điều quân, làm cho thế bố trí chiến lược của chúng trên toàn
miền Nam bị đổ vỡ, rối loạn, nhưng khả năng của ta có hạn, không thể đánh dứt
điểm các mục tiêu như ý định ban đầu. Mặc dù vậy, cuộc đương đầu lịch sử đã
phân rõ thắng bại.
Sau khi ta giải
phóng Quảng Trị, đối tượng tác chiến của chiến trường Trị - Thiên từ tháng
5/1972 là quân tinh nhuệ nhất của ngụy và 2 quân chủng mạnh nhất của Mỹ. Ngoài
ra, để chuẩn bị cho âm mưu lâu dài sau Hiệp định Pa-ri, chỉ trong vài tuần lễ
cuối tháng 11/1972, Mỹ đã ồ ạt đưa toàn bộ số viện trợ quân sự của cả năm 1973,
trị giá hàng chục tỉ đô la vào cho quân ngụy. Đồng thời Mỹ đã chi viện hỏa lực
cho ngụy quân lúc này còn cao hơn cả thời kỳ chi viện cho bộ binh Mỹ chiến đấu.
Cùng với sự
viện trợ lớn nhất về vũ khí và tiền bạc, Mỹ - ngụy còn sử dụng một khối lượng
bom đạn lớn nhất của cuộc chiến tranh để ném vào chiến trường Quảng Trị. Trong
phạm vi một chiến dịch, hơn 2/3 tổng số lần xuất kích của máy bay trên chiến
trường Đông Dương địch dồn vào chiến trường này (có ngày tập trung cả 100% phi
vụ B52), trong đó Mỹ đảm nhiệm 97% lực lượng không quân tham gia chi viện.
Mỹ - ngụy huy
động toàn bộ lực lượng vào hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên, bởi vì, về quân
sự, khu vực Nham Biều, Ái Tử, Đông Hà nằm trên các trục đường chủ yếu, trong đó
có đường số 1, đường số 9, đường sông, sân bay. Chiếm được khu vực này địch có
một bàn đạp lợi hại để tiếp tục đánh ra vùng giải phóng của ta. Nhưng mọi
cố gắng của địch đều không làm thay đổi được tình hình mà chỉ trực tiếp làm cho
cuộc chiến đấu ở Quảng Trị, cả tiến công và phòng ngự đều diễn ra quyết liệt,
gay go, phức tạp kéo dài, gây nên những hao tổn lớn cho cả ta và địch và kết
thúc vào ngày 31/01/1973.
Từ thắng lợi
của Chiến dịch Trị - Thiên hè 1972 đã cổ vũ tinh thần và để lại nhiều kinh
nhiệm về tổ chức, thực hành chiến tranh nhân dân địa phương, giúp cho quân và
dân ta ở miền Nam đẩy mạnh các hoạt động tác chiến tiêu diệt địch kết hợp với
đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận làm tan ra trong nội bộ quân xâm lược
trên các chiến trường.
Ba
là, thắng lợi của hướng tiến công chiến lược Trị - Thiên 1972 là đòn quân
sự mạnh, có tính quyết định, góp phần vào đòn tiến công chính trị buộc Mỹ phải
ký kết Hiệp định Paris năm 1972 theo các điều kiện Việt Nam đưa ra.
Mục đích của Mỹ
ở thời điểm năm 1972 này là chúng vừa
đánh vừa đàm, lấy thắng lợi ở chiến trường làm điều kiện ưu thế trong
thương lượng, lấy Trị - Thiên làm chiến trường chủ yếu đọ sức với ta để giành
thắng lợi chiến lược trong bước ngoặt lịch sử quan trọng. Bên cạnh đó, yêu cầu
chính trị của giới cầm quyền Mỹ trước cuộc tranh cử Tổng thống cuối năm 1971,
rồi trước nguy cơ sụp đổ của ngụy quân và ngụy quyền, Mỹ rất muốn có một thắng
lợi lớn về chiến lược để chứng minh cho sự đúng đắn hoặc sức mạnh của cái gọi
là: “Học thuyết Ních-xơn” và kế
hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”,
những mục tiêu chiến lược ấy thúc ép Mỹ trở lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam
bằng mọi giá. Bởi vậy, một mặt Mỹ ra sức tăng cường viện trợ tiền của, phương
tiện chiến tranh, tiến hành mọi biện pháp ngoại giao để cứu nguy cho quân ngụy,
mặt khác chấp nhận ồ ạt trở lại tham chiến bằng không quân và hải quân trên quy
mô lớn hòng xoay chuyển lại tình hình.
Trước tình hình
đó, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tính
đến mọi nỗ lực cao nhất của chúng về chiến lược và thủ đoạn chính trị, ngoại giao,
thấy rõ ý đồ chung của Mỹ - ngụy, ý đồ riêng của Mỹ. Vì vậy, việc quyết định
chọn hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên là thời cơ mở ra cho chúng ta triển
vọng giành thắng lợi lớn trong năm 1972; đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải
cố gắng ở mức cao nhất nhằm giành được thắng lợi lớn nhất, từ thắng lợi quân sự
tạo sức ép buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, phải rút hết quân đội Mỹ và đồng
minh về nước và ngụy quân, ngụy quyền suy yếu một bước nghiêm trọng. Để đạt
được mục tiêu chiến lược đó, chúng ta đã thành công trong chủ động căng, kéo,
phân tán lực lượng địch ra để quyết chiến và từng bước tiêu diệt chúng theo ý
đồ chiến lược của ta; từ đó ta tạo được ưu thế trong đàm phán và thúc đẩy đàm
phán với Mỹ để sớm đi tới một giải pháp chính trị, kết thúc cuộc chiến tranh
theo điều kiện của Việt Nam đưa ra, đồng thời vẫn giữ được “thể diện” và “danh
dự” cho phía Mỹ.
Nhiệm vụ của
hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên rất nặng nề. Về mặt chính trị, thị xã Quảng
Trị bao gồm cả thành Cổ, là mục tiêu có tính tượng trưng nhất mà địch cố chiếm
bằng được nhằm giành lợi thế ở Hội nghị Pa-ri, nó còn có ý nghĩa tuyên truyền
kích động binh sĩ địch và lừa bịp dư luận thế giới lấy lại “danh dự” của chúng
sau thất thủ Quảng Trị tháng 5/1972. Vì vậy, ta vừa phải phối hợp tác chiến
nhịp nhàng, chặt chẽ với các hướng chiến trường khác để đạt cho được mục tiêu
chiến lược đề ra, lại vừa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, kết hợp với đấu
tranh ngoại giao để giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Để đạt được yêu cầu đó,
chúng ta chủ động mở Cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên ba hướng;
kiên quyết chấp nhận cuộc đọ sức tổng lực ở cường độ cao với địch trên chiến
trường Quảng Trị. Đồng thời chỉ đạo quân và dân miền Bắc chuẩn bị mọi mặt, sẵn
sàng đập tan cuộc tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội,
Hải Phòng và các thành phố lớn ở miền Bắc.
Thực hiện nhiệm
vụ nặng nề ấy, tại chiến trường Trị - Thiên năm 1972 ta chủ động mở chiến dịch,
tiến hành chuẩn bị chiến trường chu đáo, tận dụng mọi thời cơ thuận lợi, bảo
đảm các mặt vật chất tương đối đầy đủ, có lực lượng chiến dịch sung sức với lực
lượng dự bị chiến dịch mạnh; có điều kiện chín muồi kết hợp giữa tiến công quân
sự với nổi dậy của quần chúng nên ta có thể tranh thủ được khả năng hoàn thành
nhiệm vụ giải phóng toàn chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên trong phạm vi một
chiến dịch tiến công quy mô lớn; trên cơ sở thực tế điều kiện so sánh lực lượng
giữa ta và địch đã có những chuyển biến mới có lợi cho ta trên chiến trường
này.
Thực tế, cuộc
đấu tranh ngoại giao giữa ta và Mỹ đã kéo dài suốt cả năm 1972, rất quyết liệt
và đầy căng thẳng, mặc dù Mỹ đã lâm vào thế thất bại nhưng vẫn cố vùng vẫy để
“mặc cả” với ta theo những điều kiện của chúng đưa ra. Bộ Chính trị và Quân ủy
Trung ương ta đã họp bàn và giải pháp đưa ra là cần phải tiến hành một loạt
chiến dịch kế tiếp nhằm tạo ra một đòn mạnh về quân sự buộc địch phải chấp nhận
thất bại trên chiến trường, mà bắt đầu bằng chiến dịch tiến công tại Quảng Trị.
Đúng như dự kiến của Trung ương Đảng, khi kết thúc chiến dịch, bản báo cáo từ
Sài Gòn gửi về Oa-sinh-tơn của địch đã phơi bày: “Quân Bắc Việt đã chiến thắng
trên chiến trường Quảng Trị. Giờ đây, bàn Hội nghị tại Pari không còn có sức
hút đối với Mỹ nữa”.
Việc giải phóng
tỉnh Quảng Trị, một địa bàn chiến lược tiếp giáp miền Bắc xã hội chủ nghĩa cùng
với một số dân được giải phóng sau hơn 18 năm dưới ách kìm kẹp của kẻ thù, nhân
dân phấn khởi ra sức củng cố địa phương và tham gia kháng chiến, thực sự tạo ra
lợi thế mới trong cuộc đấu tranh chính trị tại Hiệp định Pa-ri. Cũng qua thắng
lợi của chiến dịch đã đã đẩy lùi phần đất tạm thời do quân ngụy kiểm soát xuống
phía Nam. Về mặt quân sự, vùng giải phóng Quảng Trị trở thành một địa bàn chiến
lược - chiến dịch quan trọng với nhiều tuyến đường giao thông thủy, bộ thuận
tiện. Đặc biệt, từ đây đã tạo thế để củng cố và bảo vệ vững chắc tuyến đường
vận tải đường biển khá quan trọng với cảng Cửa Việt - một trong những cảng lớn
ở miền Trung.
Có thể nói,
thắng lợi của chiến dịch Trị - Thiên khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình,
đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự
chỉ đạo, chỉ huy chiến lược, chiến dịch sáng tạo, kiên quyết của Đảng ủy và Bộ
Tư lệnh chiến dịch đã phân tích và lường định đúng về tình hình, thời cơ, hạ
quyết tâm mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam vào thời điểm có lợi
nhất trên một hướng chiến lược quan trọng.
Việc chọn hướng
tiến công chủ yếu Trị - Thiên năm 1972 đã giành thắng lợi to lớn, góp phần làm
phá sản hoàn toàn chiến lược “Việt Nam
hóa chiến tranh” của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris, chấp nhận rút
hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam nước ta, đẩy nhanh quân ngụy vào thế
suy sụp mới. Đây là kết quả to lớn trên con đường tiếp tục thực hiện Di chúc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tạo nên thế
chiến lược mới có lợi cho ta, đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đến
thắng lợi cuối cùng./.
[1]Bộ Quốc phòng, Biên niên sự kiện 1945 – 2000, Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân, H, tr. 396.
[2]David
Fulghum & Terrance Maitland, et al, South Vietnam on Trial.
Boston: Boston Publishing Company, 1984, tr.138.
[3]Báo Quảng Trị giải phóng, số ra ngày
4-5-1972.
[4]William Colby, Một
chiến thắng bị bỏ lỡ, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1972.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét