Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2024

 ĐỂ CÓ THỂ TỰ MIỄN DỊCH TRƯỚC NGUY CƠ 

TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

                                                                                                                   Hoằng Tháo

Khái niệm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không phải bây giờ mới xuất hiện. Nó đã có từ lâu và là một nội dung trọng yếu trong hệ thống chiến lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm làm tan rã các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà không cần đến bom đạn. Chiến lược đó chúng gọi là “thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi”, là “cách mạng hòa bình”, là “chuyển hóa hòa bình”, là “biến đổi hòa bình”. Và, gần đây lại xuất hiện thêm một số khái niệm mới như: “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Song, dù được gọi bởi bất cứ cái tên gì thì nội hàm của các khái niệm đó vẫn không thay đổi. Đó là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa dưới hình thức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc hùng hồn tuyên bố “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội đã điểm”. Họ cho rằng Liên Xô hùng mạnh như thế, là nước đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa còn sụp đổ thì các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam… làm sao có thể tự trụ nổi. Nhưng họ đã nhầm to. Chỉ nói riêng về Việt Nam thôi thì Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn, chủ nghĩa xã hội vẫn còn, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo đã thành công rực rỡ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, lòng tin của nhân dân đối với Đảng Cộng sản ngày càng được củng cố vững chắc. Đảng luôn vì dân. Dân luôn tin Đảng. Trong nội bộ, người dân Việt Nam gọi Đảng Cộng sản là “Đảng chúng ta”; còn đối với nước ngoài thì gọi “Đảng chúng tôi”. Nói như vậy để có thể khẳng định rằng, sự tấn công của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vào Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam về cơ bản là thất bại. Song, từ đó nói rằng hệ tư tưởng tư sản chưa thâm nhập được vào Việt Nam; hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chưa hề sứt mẻ, chưa hề bị rạn nứt một tí nào là hoàn toàn chủ quan và không đúng với thực tế. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, trong hàng ngũ của chúng ta đã có một số người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa xã hội. Để tiện cho việc phân tích và phê phán, ta có thể tóm lược luận điệu của những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thành một số vấn đề cơ bản sau đây:

Một là, phủ định thành quả của cách mạng Việt Nam. Họ cho rằng chúng ta giành được thống nhất đất nước với một cái giá đắt (mấy chục năm chiến tranh liên miên, gần chục triệu người chết, lịch sử bị kéo dài hàng nửa thế kỷ). Họ còn cho rằng việc tiến hành chiến tranh để thống nhất đất nước chẳng qua chỉ là sự “hiếu thắng” của Đảng Cộng sản, không phù hợp với lòng dân và không phù hợp với thực tiễn khách quan. Nước Đức cũng thống nhất đất nước nhưng không hề đổ xương, máu, chỉ đổ mỗi bức tường ngăn cách Đông – Tây Béc-lin. Theo họ, người dân không cần biết mình đang sống trong chế độ nào, trong thể chế chính trị gì, miễn là đời sống vật chất và tinh thần của họ được bảo đảm và từng bước được nâng cao. Mèo trắng hay mèo đen đối với họ đều tốt, miễn là bắt được chuột.

Hai là, phân định học thuyết Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng nó đã lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn mới của thời đại mới. Để chứng minh cho luận điểm của mình là đúng, họ thường dẫn ra câu nói của Mác, Ăng-ghen là: “Học thuyết của chúng tôi không nhất thành bất biến”. Rồi họ bình luận chủ quan và cắt xén rằng các ông ấy nói như vậy có nghĩa là muốn học thuyết của mình phải luôn luôn được sửa đổi và nếu không phù hợp với tình hình mới thì phải hủy bỏ. Cuối cùng họ kết luận: Nếu Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh còn sống thì rất có thể các ông ấy sẽ phủ định học thuyết và tư tưởng của mình.

Ba là, phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; đòi đa nguyên, đa đảng. Họ cho rằng Đảng Cộng sản áp đặt sự lãnh đạo của mình đối với xã hội là phản dân chủ, đi ngược lại với tiến bộ xã hội. Rồi họ khẳng định: không có đảng đối lập, không có lực lượng đối trọng thì tất yếu Đảng Cộng sản sẽ rơi vào tình trạng quân phiệt, mất dân chủ. Họ còn rêu rao: Đảng Cộng sản lúc nào cũng nói rằng mình là thành viên của hệ thống chính trị (HTCT), không đứng trên HTCT, không đứng ngoài HTCT nhưng lại phải đảm nhận vai trò lãnh đạo HTCT. Nói như thế là hết sức mâu thuẫn, bởi vì cùng là thành viên thì phải bình đẳng với tất cả các thành viên khác của HTCT, hoạt động của Đảng trong HTCT phải dựa trên nguyên tắc thỏa thuận, đồng thuận. Đã lãnh đạo thì phải có người bị lãnh đạo. Như thế thì còn gì là dân chủ? Trái lại, cái đích cuối cùng của họ là đòi đa nguyên, đa đảng.

Bốn là, đòi phi chính trị hóa nền kinh tế thị trường. Theo họ, kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu đời. Nó có những nguyên tắc, những quy chuẩn chung mà bất cứ quốc gia nào thực hiện cũng phải tuân theo. Kinh tế thị trường hoàn toàn không mang tính chính trị. Đã chấp nhận kinh tế thị trường lại gắn thêm cho nó cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tự cô lập mình, là tự tách mình ra khỏi “sân chơi chung”. Cuối cùng, họ đề nghị chỉ cần nói “phát triển nền kinh tế thị trường” là đủ, bỏ ngay cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Năm là, gần đây rộ lên một số ý kiến đòi phải “sửa lỗi hệ thống”. Những ý kiến này cho rằng cách mạng Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới vì thế phải đổi mới toàn diện, triệt để cả về kinh tế và chính trị ở mức độ cao hơn, tức là phải “sửa lỗi hệ thống”. Theo họ “lỗi hệ thống là lỗi xuất phát từ gốc của hệ thống, phải sửa từ gốc của hệ thống, chứ không thể chỉ sửa cành, ngọn, ngang tắt của hệ thống”. Nói toạc ra là những ý kiến này khẳng định chúng ta đã sai từ gốc, từ bản chất, từ cơ cấu, từ hệ tư tưởng,… vì thế phải sửa ngay.

Không thể xem thường những biểu hiện của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nêu trên, bởi vì quy mô của nó không nhỏ, diễn biến của nó khá phức tạp và tầm ảnh hưởng, lây lan của nó khá rộng. Muốn phòng, chống nó một cách triệt để phải có phương thuốc đặc trị. Phương thuốc đặc trị ở đây chính là tính khoa học, tính đúng đắn của học thuyết Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng ta. Khi đã am hiểu đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc những nguyên lý Mác-xít Lê-nin-nít, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng thì mỗi cán bộ, đảng viên sẽ có khả năng miễn dịch trước nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét