Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022

 VAI TRÒ NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CẤP ỦY, TỔ CHỨC ĐẢNG,

TRONG PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

BIỂN RỘNG

Một là. Nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ của người đứng đầu trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã trở nên rất nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp. Sự sa sút ý chí, phai nhạt lý tưởng, thờ ơ về chính trị, thói vô cảm, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, lối sống xa hoa, xa rời quần chúng… đã làm giảm sút nghiêm trọng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm sai lệch chủ trương, chính sách, thậm chí làm sai lệch cả định hướng phát triển của đất nước, cản trở công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra hai nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự biến chất của những ông “quan cách mạng”, của những người “làm quan để phát tài”, vấn nạn tham nhũng, lãng phí như là “kẻ thù” đặc biệt nguy hiểm của cách mạng, là “giặc nội xâm”. Người nhấn mạnh, phải kiên quyết chống những hiện tượng đó như “chống giặc” thì mới có thể làm cho cách mạng trụ vững và tiến lên.

Vì thế, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay, nhất là “quốc nạn” tham nhũng, lãng phí, thật sự là một thách thức rất lớn, rất nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Để vượt qua thách thức ấy, các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân phải nhận thức rõ ý nghĩa sống còn, đặc biệt quan trọng của cuộc đấu tranh này; từ đó xác định quyết tâm thật sự và chuyển nó thành trách nhiệm thật sự, thông qua công tác tổ chức thực tiễn, chứ không chỉ hô hào chung chung, quyết tâm trên lời nói. Nhận thức ấy phải được chuyển biến thành hành động cụ thể ở mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, nhất là những người đứng đầu, thì mới có thể giành được thắng lợi.

Theo đó, người đứng đầu phải xác định phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là lương tâm và trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân, trước Tổ quốc. Là người quản lý tình hình mọi mặt của tổ chức, cơ quan, đơn vị, chịu trách nhiệm cao nhất việc tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức, cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, người đứng đầu không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh này. Quyền lực cao nhất trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị bao giờ cũng phải gắn với trách nhiệm cao nhất đối với tổ chức, cơ quan, đơn vị đó.

Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm nặng nhất nếu tổ chức, cơ quan, đơn vị xảy ra tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Người đứng đầu cũng phải chịu trách nhiệm nặng nhất nếu không kiên quyết đấu tranh, không có biện pháp tích cực khuyến khích các tổ chức, động viên và bảo vệ những người hăng hái đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong tổ chức, cơ quan, đơn vị mình.

Hai là. Xây dựng đội ngũ những người đứng đầu có trình độ, năng lực tương xứng, thật sự là tấm gương tiêu biểu về bản lĩnh chính trị và trong sáng về đạo đức, lối sống.

Phẩm chất và năng lực của người đứng đầu, đặc biệt là sự mẫu mực, nêu gương cũng như thái độ kiên quyết đấu tranh của họ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Thực tiễn đã chứng tỏ, nếu người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực giáo dục, tuyên truyền tốt, thường xuyên, tích cực phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc, thì chắc chắn tình hình chính trị, tư tưởng trong cơ quan, đơn vị sẽ vững vàng, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị sẽ khó có thể xảy ra.

Ba là. Hoàn thiện các quy định, chế tài trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Phát huy vai trò của người đứng đầu trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không chỉ đòi hỏi phải xác định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ của người đứng đầu, coi trọng xây dựng đội ngũ những người đứng đầu, mà còn đòi hỏi phải hoàn thiện các quy định, chế tài để tạo hành lang pháp lý cần thiết. Thực tiễn cho thấy, có thái độ và quyết tâm cao, xác định rõ trách nhiệm, có đủ phẩm chất và năng lực, nhưng nếu thiếu hành lang pháp lý thì người đứng đầu sẽ không có công cụ hữu hiệu để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt là ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí.

Trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định, chế tài giám sát quyền lực người đứng đầu cũng như các quy định, chế tài ngăn chặn, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí phải coi trọng phát huy dân chủ, coi trọng ý kiến phản ánh của cấp dưới, của quần chúng và của báo chí. Đặc biệt là phải thực hiện công khai minh bạch tài sản theo quy định. Thực tiễn cho thấy, ở đâu càng nhiều vùng cấm, càng nhiều “khoảng tối” thì càng dễ cho tham nhũng, lãng phí. Theo đó, mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị phải quy định rõ và công khai quyền được biết, được bàn, được kiểm tra của cán bộ, nhân viên trong tổ chức, cơ quan, đơn vị mình.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hiện nay là cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Khi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã trở nên nghiêm trọng thì cũng đòi hỏi phải có những giải pháp đặc biệt tương xứng mới có thể giải quyết được tình hình. Trong đó, phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Người đứng đầu phải nhận rõ nhiệm vụ và trọng trách của mình, có phẩm chất và năng lực tương xứng, có thái độ dũng cảm và kiên quyết, có đủ công cụ và chế tài cần thiết mới có thể phát huy được vai trò của mình trong cuộc đấu tranh này.

 

GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG

BIỂN RỘNG

 

 

Trong Ðiều lệ Ðảng hiện hành ở chương I, điều 2 khoản 1 có quy định nhiệm vụ hàng đầu của đảng viên là "Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Ðảng...", nhưng hiện nay còn có sự hiểu biết rất khác nhau.

    Lý tưởng nêu trong Ðiều lệ Ðảng không phải theo nghĩa thông thường mà là lý tưởng cách mạng, là mục đích của Ðảng.

Lý tưởng cộng sản chủ nghĩa có ba mặt:

Một là, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa về xã hội là "Lanh-téc-na-xi-ô-nan-lờ" (L’Internationale) một xã hội tương lai, như nêu trong bài Quốc tế ca tức là một xã hội không còn phân ranh giới quốc gia, không còn người bóc lột người, không còn phân chia giai cấp. Ðó là một thế giới đại đồng Cộng sản chủ nghĩa có nền kinh tế phát triển với năng suất lao động rất cao, dựa vào lực lượng lao động có ý thức về làm chủ xã hội, lao động tự giác, sáng tạo, có kỷ luật, có kỹ thuật hiện đại, với thời gian làm việc theo nghĩa vụ được giảm dần. Khi không còn phân chia giai cấp thì nhà nước tự tiêu vong. Do của cải làm ra rất dồi dào lại không còn phải chi phí lớn để nuôi bộ máy Nhà nước, các lực lượng vũ trang... nên đủ sức thực hiện ước mơ của con người là được làm việc theo năng lực, theo sở trường và được phân phối theo nhu cầu. Ðó là một thế giới đại đồng mà con người sống chỉ biết thương yêu giúp đỡ nhau và không còn phải phục tùng một quyền lực nào khác ngoài tự giác phục tùng một quyền lực duy nhất là lẽ phải.

Ðến đây, mới bắt đầu trang sử về con người thật sự là Người.

Hai là, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa về đạo đức là đạo đức ở trình độ cao được hình thành trên cơ sở đạo đức làm người.

Việt Nam ta có tiếng gọi "con người" thật hay, trong đó, có "con" và "người". "Người" từ "con" mà ra. Trong con người vừa có thú tính và nhân tính. Là "con" hễ đói, thấy có gì ăn được là ăn, đó là thú tính. Về "Người" thì khác với thú. Ðói nhưng không phải ai cho gì, cho cách nào cũng ăn. Trong quan hệ nam nữ vợ chồng không chỉ là quan hệ về tình dục mà còn có quan hệ về tâm lý, tình cảm, chí hướng, còn phải sống chung thủy, có nghĩa, có tình... Sống không phải là sợ chết mà còn phải biết chết vinh hơn sống nhục... Ðạo đức làm người có nhiều mặt nhưng trước hết là tu dưỡng để nhân tính vượt qua thú tính.

Phải từ việc xây dựng vững chắc nền tảng đạo đức làm người mà tu dưỡng để có phẩm chất đạo đức người chiến sĩ đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản. Ðó là đạo đức về chủ nghĩa tập thể, tinh thần tương trợ đồng chí, chủ nghĩa quốc tế, lòng yêu người, ý thức cao cả về nghĩa vụ xã hội, lòng chân thật, tính khiêm tốn... Ðại phúc cho chúng ta là có Bác Hồ đã nêu tấm gương vô cùng sáng đẹp về lý tưởng đạo đức cách mạng cao cả, chúng ta cần cố sức học tập và làm theo.

Ba là, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa về thẩm mỹ là một giai đoạn cao nhất và mới về chất trong sự phát triển thẩm mỹ của loài người. Cơ sở của lý tưởng thẩm mỹ ấy là sự phát triển toàn diện và hoàn chỉnh về sức sáng tạo của mỗi người, kết hợp trong mình một cách hài hòa sự phong phú về tinh thần, sự trong sạch về đạo đức và hoàn thiện về thể chất. Ðó là quan niệm về vẻ đẹp mang tính nhân văn, vẻ đẹp về nhân cách, vẻ đẹp về quan hệ giữa con người với thiên nhiên, về tính cách của con người thật sự là Người. Trong nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ biểu hiện tập trung nhất ở hình tượng nghệ thuật được sáng tạo trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, được dùng làm tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp trong đời sống và trong nghệ thuật.

Con đường đi đến một thế giới đại đồng cộng sản chủ nghĩa còn rất xa, nhưng có đi ắt sẽ đến. Theo con đường đó, Bác Hồ đã nêu sáu chữ: độc lập, tự do, hạnh phúc, với chủ nghĩa quốc tế: bốn phương vô sản đều là anh em. Ðảng cũng đề ra Cương lĩnh về thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ði theo hướng đó, nước đã được độc lập thống nhất, dân có quyền làm chủ, đã hết đói, giảm nghèo, đời sống và vật chất văn hóa ngày được nâng cao; xã hội ngày càng đổi mới theo hướng dân chủ, công bằng, văn minh.

Chúng ta cần phải nghiên cứu, dày công suy nghĩ về lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa để hiểu đúng, hiểu được sâu sắc.

Có hiểu đúng, hiểu sâu sắc về mục đích lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mới có lập trường chính trị kiên định là giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Có thật sự tự hào về người cộng sản là người có lý tưởng cao đẹp mới biết giữ cho mình tránh được những vi phạm về đạo đức, lối sống thấp hèn xấu xa.

 

 PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG

                                                                                      BIỂN RỘNG

Một trong những nguy cơ đang hiện hữu tiếp tục được Đại hội XII của Đảng xác định đó là “…Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãnh phí còn nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta…”

          Nói đến "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” chúng ta đều phải xác định trước hết và chủ yếu là về hệ tư tưởng (tư tưởng chính trị) và lĩnh vực văn hóa.

Về hệ tư tưởng, chúng phối hợp đồng bộ giữa bên ngoài và bên trong mà chủ yếu là triệt để khai thác các phần tử bất mãn chống đối trong nước, nhất là một số trí thức và cán bộ biến chất, các phần tử cơ hội chính trị, tập trung xuyên tạc, bôi nhọ và phủ định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng cơ bản, kim chỉ nam của Đảng ta, với mưu đồ dùng chính những người này chống và phản bác lại chủ nghĩa cộng sản, trọng tâm là làm cho quần chúng nhân dân, kể cả một bộ phận cán bộ, đảng viên xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh. Mục tiêu của “tự diễn biến” trong nội bộ Đảng là tách Đảng ra khỏi dân, đối lập Đảng với dân. Thông qua thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của chính những phần tử cơ hội, bọn quan liêu, tham nhũng để quy chụp, đánh đồng những đảng viên xấu, hủ bại với những đảng viên tốt, trung kiên; nhằm làm cho quần chúng nhân dân lẫn lộn tốt-xấu, đánh đồng những cá nhân biến chất với lý tưởng cộng sản và tổ chức đảng nói chung.

Về văn hóa, chúng ra sức truyền bá lối sống suy đồi, đề cao vật chất, văn hóa hưởng thụ, tung hô "cái tôi cá nhân" và tôn sùng lối sống kiểu phương Tây trong tầng lớp thanh niên. Khiến họ trở nên ngại khó - ngại khổ, lãng quên hoặc phủ nhận các giá trị truyền thống của dân tộc, tinh thần sống vì cộng đồng.

Những biểu hiện trên, phải chăng là sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa?

Có thể nói, một số hiện tượng nêu trên là hiện thực khách quan, “sản phẩm” của hiệu ứng ngược toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mà chúng ta không thể chối bỏ. Vấn đề ở chỗ, chúng ta đối mặt với điều đó ra sao để vẫn giữ được bản sắc dân tộc và thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội như Đại hội XI của Đảng đã nêu trong bối cảnh đất nước chúng ta ngày càng hội nhập sâu vào thế giới.

Để góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức, tự hào về nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bồi đắp niềm tin, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gìn giữ và phát triển bản sắc tốt đẹp của văn hóa Việt Nam, thiết nghĩ trước tiên chúng ta nên có sự nhìn nhận sâu hơn, toàn diện hơn về văn hóa.

Một là: Các cấp, các ngành mà đặc biệt là những người làm công tác tư tưởng văn hóa hơn ai hết phải là người nắm vững nhất về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa bởi chính những tổ chức và cá nhân ấy là người trực tiếp đưa văn hóa “thấm” sâu vào đời sống nhân dân; làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của chế độ, của mọi người dân Việt Nam và tạo cho văn hóa Việt Nam có một “sức đề kháng” tốt trước sự “xâm lăng” độc hại của văn hóa ngoại lai, góp phần tích cực vào việc giữ gìn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình đổi mới, hội  nhập và phát triển.

Hai là: Mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải là những người tích cực nhất trong việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy nền văn hóa truyền thống của đất nước, đồng thời là người tuyên truyền viên tích cực nhất đối với quần chúng nhân dân trong việc phát huy bản sắc tốt đẹp của văn hóa Việt Nam.

Ba là: Các cơ quan ngôn luận, báo chí là công cụ hữu hiệu của Nhà nước phải có trách nhiệm lớn hơn nữa trong việc quảng bá, gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam, tích cực phản bác lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm vào nền tảng tinh thần của xã hội.

Bốn là: Công tác giáo dục truyền thống, văn hóa, giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ trẻ ở các học viện, nhà trường, các cơ sở giáo dục phải được tăng cường để đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới.

Năm là: Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên ở các cấp trong việc bảo tồn, phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Muốn là cán bộ tốt thì mỗi cán bộ, đảng viên trước tiên phải là những người có văn hóa, có đạo đức cách mạng, có tình yêu thương đồng chí, đồng bào và quê hương, đất nước.

Để góp phần phòng, chống hiệu quả sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về văn hóa, tư tưởng, thực hiện thắng lợi những mục tiêu nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã nêu là trách nhiệm chung của toàn xã hội, mà trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

              CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ “XÃ HỘI DÂN SỰ” ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC

THN

Thời gian gần đây, một số đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng tình hình, những diễn biến phức tạp trong xã hội để đưa ra nhiều quan điểm, ý kiến trái chiều, xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong đó, các đối tượng tích cực cổ súy, ca ngợi, hình tượng hóa vấn đề “xã hội dân sự”, yêu cầu Đảng ta phải có cơ chế khuyến khích “xã hội dân sự” phát triển, coi đây là một chiêu bài để hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Với mưu đồ chống phá, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đang bóp méo, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, coi việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” là bước đầu để tập hợp lực lượng, thái nghén, sản sinh ra các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ngay trong lòng đất nước. Điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy được hoạt động của nhiều hội, nhóm núp bóng “xã hội dân sự” do các cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước thành lập, điều hành, như: “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Tổ chức xã hội dân sự”, “Viet Liberty” (Việt Nam Tự do), “Nhà xuất bản tự do”, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”…Đặc biệt, các đối tượng chống đối không chỉ đơn thuần thành lập các hội, nhóm dưới bóng “xã hội dân sự” trong lòng Việt Nam, hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ, mà đã có sự móc nối, câu kết chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế thường xuyên có hoạt động chống phá Việt Nam như RSF (Phóng viên không biên giới), AI (Ân xá quốc tế), VOICE (Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại)…Dưới vỏ bọc “xã hội dân sự”, các đối tượng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; hình thành các hội nhóm, tổ chức để tập hợp lực lượng, tiến hành huấn luyện, đào tạo các phương thức hoạt động; tạo dựng lực lượng chống đối trong lòng đất nước, tiến đến các cuộc bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.

Mục tiêu của việc thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” là tạo ra con đường để hình thành các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản một cách công khai, hợp pháp. Từ đó, các đối tượng đưa Việt Nam đi vào con đường đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Nhà nước và xã hội.

Để thực hiện mưu đồ trên, các đối tượng ra sức cổ súy tính ưu việt, sự dân chủ của “xã hội dân sự” để đánh lừa nhận thức của người dân, cũng như hạ bệ vai trò của hệ thống chính quyền. Bằng cách, tung ra luận điệu đòi tuyệt đối hóa sự “độc lập” của các tổ chức “xã hội dân sự”, đòi thúc đẩy thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự”. Ngoài ra, các thế lực này dưới nhiều thủ đoạn khác nhau, thông qua hình thức “xã hội dân sự”, lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do đóng góp ý kiến, các đối tượng thúc đẩy tư tưởng “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hướng lái người dân hình thành tâm lý chống đối, phản kháng với chính quyền. Dưới danh nghĩa phản biện xã hội, đóng góp ý kiến, không ít đối tượng đã biến nó thành một diễn đàn để công khai các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá chính quyền, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thực tiễn đối với nước ta, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta là không kỳ thị, không ngăn cản việc người dân lập hội, tham gia các tổ chức “xã hội dân sự”. Điều 25, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, tất cả các hội nhóm, đoàn thể đều phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” để sản sinh ra các hội, nhóm chống đối đều là vi phạm, cần phải chấn chỉnh, loại bỏ.

 

 

 CHIÊU THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM

THN

Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng chống phá sự nghiệp đổi mới nước ta. Chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường TBCN, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị. Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Trên lĩnh vực đối ngoại, giáo dục và đào tạo, chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm. Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta. Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

 NẤC THANG MỚI CỦA CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC

Mặt Trời

          Thời gian vừa qua, trên các trang mạng xã hội đã phát tán nhiều bài viết của các nhân vật tự xưng là đấu tranh cho dân chủ với quan điểm cho rằng: Nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là do chế độ độc đảng sinh ra. Đây là một trong những luận điệu sai trái được các thế lực tuyên truyền nhằm xuyên tạc quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng ta. Chúng cố tình “lờ tịt” một sự thật hiển nhiên là tham nhũng đang là vấn nạn chung của toàn cầu và của nhiều chính thể trên thế giới. Chế độ chính trị một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng.

          Trong các bài viết của mình, các nhà “dân chủ” rêu rao rằng, tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ độc đảng, không thể cải tạo, cần phải hủy bỏ. Với chế độ độc đảng và  nền chính trị hiện thời, Việt Nam không thể chống được tham nhũng. Họ cho rằng, muốn chống tham nhũng thì phải chấp nhận đa đảng đối lập. Hùa vào với luận điệu trên, không ít hãng thông tấn quốc tế cùng những kẻ “té nước theo mưa” đã hô hào, thổi phồng, xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Trước hết, có thể thấy, việc các nhà “dân chủ” đưa ra quan điểm tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ là một sự cố ý xuyên tạc tình hình Việt Nam để gây hoang mang, dao động trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân; làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước và chống phá chế độ ta. Đây chính là một phương cách để chúng thực hiện “diễn biến hòa bình” với hy vọng có thể thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Với lối suy diễn chủ quan, võ đoán, chúng đang dựa vào hiện tượng để lập lờ thay đổi bản chất; để không thấy hoặc cố tình không thấy bản chất của tham nhũng là sự tha hóa quyền lực vì lợi ích cá nhân của một nhóm người làm phương hại đến lợi ích của cá nhân khác, của tập thể và xã hội. Tham nhũng luôn gắn với cá nhân có quyền lực và tồn tại ở mọi chế độ chính trị xã hội; nó luôn gắn với vấn đề quyền lực nhà nước. Ở quốc gia nào cũng vậy, trong mỗi thời điểm nhất định đều do một đảng cầm quyền; khi đó người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền đều do người của đảng đó đảm nhiệm. Tất nhiên, ở những nước có nền dân chủ lâu đời, có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, chặt chẽ và xã hội được tổ chức ở trình độ cao thì nạn tham nhũng có phần hạn chế hơn. Bởi vậy, nếu nói tham nhũng do chế độ độc đảng sinh ra sẽ là ngụy biện. Hiện nay, trên thế giới có chưa tới 10 nước theo chế độ một đảng cầm quyền, còn lại là các nước có nhiều đảng. Theo công bố của Tổ chức minh bạch quốc tế về thực trạng tham nhũng trên thế giới thời điểm đầu năm 2017, nhiều quốc gia đa đảng ở châu Á, châu Phi vẫn bị xếp vào danh sách các nước có nhiều tham nhũng. Việt Nam đứng thứ 112/168 trong danh sách mức độ tham nhũng. 56 nước có mức độ tham nhũng lớn hơn Việt Nam chủ yếu là các quốc gia đa đảng. Thực tế này cho thấy, dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng vẫn luôn xảy ra.

          Nếu ai đó đã từng tiếp xúc với những thông tin nhảm nhí, xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay trên các trang mạng xã hội do các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị ngụy tạo nên, sẽ không khó để nhận ra những âm mưu thâm hiểm đi kèm. Trong các bài viết theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen”, cho rằng nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là do độc đảng sinh ra, các đối tượng lợi dụng triệt để thông tin một vài vụ án tham nhũng có liên quan đến cán bộ, đảng viên đã bị đưa ra ánh sáng pháp luật nhằm suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm rồi cho rằng tham nhũng là bản chất, là hệ quả của cơ chế lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Qua đó chúng rắp tâm dựng lên một bức tranh xã hội toàn màu tối, phủ nhận những nỗ lực, sự quyết liệt trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang tiến hành. Chúng ta cũng không né tránh một sự thật là ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, tình trạng tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Tuy nhiên, nói như các nhà “dân chủ” chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể được dẹp bỏ lại là “hoang đường”. Thực chất, đây là nấc thang mới của luận điệu lừa bịp, xuyên tạc nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”; gieo rắc hoài nghi trong cán bộ, đảng viên, Nhân dân đối với quyết tâm chống tham nhũng, qua đó, làm xói mòn, mất lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, từng bước tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định tham nhũng là giặc nội xâm, nếu không được giải quyết triệt để thì tương lai đất nước, chế độ bị đe dọa. Do vậy, cùng việc hoàn thiện bộ máy; Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã và đang thể hiện quyết tâm cao trong công tác phòng chống tham nhũng với phương châm không khoan nhượng, không chùn bước, quyết liệt, nghiêm minh, đúng pháp luật. Trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội và Nhân dân quan tâm.

          Tham nhũng là vấn đề không của riêng quốc gia nào và ở Việt Nam hiện nay, tình trạng tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng với những thủ đoạn tinh vi, trong khi công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu. Song, không phải vì vậy mà chúng ta cho phép các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị lợi dụng những tồn tại, hạn chế trong phòng chống tham nhũng để xuyên tạc, bóp méo sự thật, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong các tầng lớp Nhân dân. Hơn lúc nào hết, cần nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn của chúng. Những nỗ lực cùng kết quả trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng cần thường xuyên được cập nhật, lan tỏa trong đời sống xã hội. Đây chính là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang cố tình lợi dụng vấn đề này ở Việt Nam để thực hiện mưu đồ đen tối của chúng./.

     KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG CHUYỂN SANG TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI

                                                                                                    Mặt Trời

Đến thời điểm hiện nay, đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ 4 đã cơ bản được kiểm soát. Các địa phương đang tích cực triển khai chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chuyển hướng sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, vừa phòng chống dịch hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Những tháng vừa qua công tác phòng, chống dịch COVID-19 là ưu tiên hàng đầu trong chỉ đạo, điều hành quyết liệt, mạnh mẽ của Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương; với tinh thần vừa có kế thừa và vừa có đổi mới. Dịch bệnh bùng phát lần thứ 4 là với biến chủng Delta là chưa có tiền lệ cho nên phải bám sát yêu cầu thực tiễn; vừa làm vừa rút kinh nghiệm, bổ sung từng bước hoàn thiện các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp với biến chủng mới lây lan nhanh, nguy hiểm, khó kiểm soát hơn theo phương châm “5K + vaccine + điều trị + công nghệ + ý thức của Nhân dân”, khẩn trương khắc phục tình trạng lúng túng, bị động, bất ngờ trong giai đoạn đầu của đợt dịch ở một số địa phương.

Khi dịch bệnh đã nhiễm sâu tại các đô thị, vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, chúng ta đã nhanh chóng điều chỉnh công tác tổ chức thực hiện theo cách tiếp cận toàn dân, lấy cấp xã phường là “pháo đài”, người dân là “chiến sĩ” và là trung tâm phục vụ, là chủ thể tham gia phòng, chống dịch; đưa dịch vụ y tế, an sinh xã hội đến cấp cơ sở để người dân tiếp cận kịp thời, nhanh nhất, hiệu quả hơn và bảo vệ an ninh, an toàn cho Nhân dân.

Công tác phòng, chống dịch ngày càng chuyển biến tích cực, đạt hiệu quả hơn, nhất là sau khi kiện toàn Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 và kịp thời điều động một lực lượng lớn chưa từng có, trong một thời gian rất ngắn với khoảng hơn 300 nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng y tế, quân đội, công an từ Trung ương và các địa phương khác hỗ trợ cho các địa phương thực hiện giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội. Cũng trong thời gian rất ngắn, chúng ta đã triển khai hàng trăm trạm y tế lưu động, lo an sinh xã hội cho hàng triệu người tại các điểm nóng về dịch bệnh.

Nhìn rộng hơn, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương Đảng, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương và sự đồng tình, ủng hộ, chia sẻ, tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, rất đáng khích lệ trong toàn hệ thống và trên tất cả các lĩnh vực.

Thực tiễn cho thấy, các chủ trương, chính sách, biện pháp được triển khai trong thời gian qua là đúng đắn, kịp thời và chỉ đạo, tổ chức thực hiện khẩn trương, quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng. Điều này giúp chúng ta tự tin để chuyển trạng thái, không lúng túng, bị động, bất ngờ, mất cảnh giác, cũng không hốt hoảng, mất bình tĩnh trước dịch bệnh. Do đó, thời gian qua, đã có một số ổ dịch mới xuất hiện tại các địa phương, nhưng tình hình vẫn được kiểm soát hiệu quả.

Cùng nhìn lại những bài học, kinh nghiệm được đúc rút trong thực tiễn chống đợt dịch thứ 4 để các địa phương kiên định, vững vàng chuyển sang trạng thái bình thường mới trên cơ sở thực hiện tốt 3 trụ cột trong công tác phòng, chống dịch được thực hiện quyết liệt, hiệu quả. Đó là: Cách ly nhanh nhất, hẹp nhất, nghiêm ngặt nhất có thể, có mục tiêu và lộ trình để có giải pháp phù hợp, hiệu quả để sớm kết thúc cách ly, phong tỏa; xét nghiệm thần tốc, nhanh hơn tốc độ lây lan của dịch, bảo đảm khoa học, hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm theo hướng dẫn của Bộ Y tế; điều trị tích cực từ sớm, từ xa, ngay tại cơ sở, góp phần giảm chuyển nặng, giảm tử vong. Cùng với đó, chúng ta vẫn duy trì thực hiện hiệu quả phương châm 5K + vaccine + điều trị + công nghệ + ý thức Nhân dân và các biện pháp cần thiết khác./.                                                                                                            

 

 NGĂN NGỪA VI RÚT “SỢ TRÁCH NHIỆM”

                                                                                                           Mặt Trời

Thời gian qua, một vấn đề nổi lên được nhiều người quan tâm là có loại “dịch bệnh” âm thầm lây lan trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức các cấp, gây nguy cơ cho sự phát triển đất nước. Đó là vi rút “sợ trách nhiệm”. Trách nhiệm được hiểu là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình; hay được hiểu là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm làm đúng, nếu làm sai thì phải chịu hậu quả… Nhưng vấn đề là có những người khi thực thi nhiệm vụ được giao, dù biết là đúng căn cứ, đúng quy định pháp luật nhưng vẫn sợ và không dám quyết định các vấn đề, chỉ vì để bảo đảm “an toàn” cho bản thân.

Trong đợt phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua, sau khi một số cán bộ của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội và một số địa phương bị xử lý hình sự do cố ý làm sai trong đấu thầu mua sắm trang thiết bị y tế, có tình trạng nhiều địa phương sợ mua sắm máy móc, trang thiết bị, vật tư y tế do sợ bị kỷ luật. Thay vào đó, nhiều nơi trông chờ, vận dụng bằng cách kêu gọi tài trợ của doanh nghiệp, trong khi không phải địa phương nào cũng có doanh nghiệp sẵn sàng tài trợ. Khi dịch bệnh vẫn hoành hành thì thứ vi rút “sợ tránh nhiệm” này có thể dẫn đến những hệ quả khó lường. Không chỉ vậy, “căn bệnh” này còn xuất hiện ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức. Đó là tình trạng nhiều việc thuộc thẩm quyền của cá nhân, địa phương, đơn vị mình nhưng cũng “đá” lên cấp trên để…  “xin ý kiến chỉ đạo”.

Từ năm 2015, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ cũng đã cảnh báo việc cán bộ, công chức, viên chức ngày càng… sợ trách nhiệm. Vì thế không dám đề xuất, không dám sáng tạo áp dụng cái mới, hoặc có đề xuất cái mới thì rất lòng vòng, xin phép khắp nơi. Vấn đề này cũng được chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đó là biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả…

Cần thẳng thắn nhìn nhận, một trong những nguyên nhân dẫn đến vi rút “sợ trách nhiệm” trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là vì những hạn chế, tồn tại về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật. Tình trạng “luật khung, luật ống”; sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định pháp luật vẫn phổ biến. Quy định chung chung, hiểu theo nhiều cách khác nhau, thậm chí khó minh định đúng sai vẫn còn. Ví dụ, qua rà soát tại 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chính phủ xác định, hiện có đến 79 luật, 3 nghị quyết của Quốc hội, 188 nghị định của Chính phủ, 20 quyết định của Thủ tướng, 153 thông tư... chưa phù hợp với thực tế, gây khó khăn cho đầu tư sản xuất kinh doanh...

Vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chống cài cắm “lợi ích nhóm” khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Do đó, nhất định phải rà soát tổng thể để “bắt bệnh” chồng chéo, mâu thuẫn, chung chung của các quy định pháp luật hiện hành, cũng là một giải pháp góp phần chống căn bệnh “sợ trách nhiệm” trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Tuy nhiên, xét cho cùng, hệ thống pháp luật dù hoàn thiện đến đâu cũng vẫn tồn tại những hạn chế. Ngay cả những nước có truyền thống xây dựng pháp luật hàng trăm năm vẫn phải thường xuyên đối mặt vấn đề này. Vì thế, song song với giải pháp nêu trên, giải pháp căn cơ lại nằm ở chính nơi phát tác “căn bệnh”, đó là tinh thần trách nhiệm của cán bộ, mức độ dấn thân, tấm lòng vì dân, vì nước đến đâu.

Để giải quyết vấn đề này, Bộ Chính trị (khóa XIII) vừa ban hành Kết luận số 14-KL/TƯ ngày 22-9-2021 về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”. Theo đó, khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp. Trường hợp cán bộ thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Đây thực sự là một “liều thuốc” tốt để điều trị vi rút “sợ trách nhiệm” trong cán bộ, đảng viên; là “cú huých” đối với tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo của đội ngũ công chức, viên chức. Để Kết luận số 14-KL/TƯ đi vào cuộc sống, thực sự hiệu nghiệm đối với vi rút “sợ trách nhiệm”, có 2 vấn đề cần tập trung giải quyết, xin được cùng trao đổi:

Thứ nhất, tập thể phải là “bệ đỡ” cho tinh thần trách nhiệm của cá nhân người cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Ở đâu có cán bộ dám nghĩ, dám làm thì ở đó có tổ chức Đảng công bằng, khách quan để nhìn nhận, khuyến khích, đồng hành, bảo vệ hiện thực hóa những ý nghĩ, cách làm mới, khác biệt, khác lạ, vượt tầm... vì lợi ích chung. Đặc biệt, phải “chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế. Phát hiện sớm và kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh sai sót, vi phạm”.

Thứ hai, chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung của Đảng cần sớm được chuyển hóa vào các quy định pháp luật để vừa khích lệ tinh thần trách nhiệm, cống hiến vì dân, vì nước, vừa ngăn chặn việc lợi dụng nhằm thu vén cá nhân, lợi ích nhóm. Làm được điều này cũng góp phần xóa quan niệm “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay./.

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CÁCH MẠNG

CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

                                                                                                           Mặt Trời

Xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là làm xói mòn, hạ uy tín truyền thống Bộ đội Cụ Hồ là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, tiến tới “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội. Thời gian gần đây, thủ đoạn này càng được tiến hành ráo riết hơn, vì vậy, cần phải nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ. Truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" là một bộ phận của truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng và Nhân dân ta. Phẩm chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ được xây đắp nên từ sự chiến đấu, hy sinh vô bờ bến của nhiều thế hệ cán bộ chiến sỹ; được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công tổ chức, giáo dục, rèn luyện; được Nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc và được phát triển thông qua thực tiễn quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam; được lưu giữ, kế tục, phát triển qua nhiều thế hệ.

Bước sang thời kỳ  đổi mới, Quân đội Nhân dân Việt Nam thực hiện tốt nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, thực hiện tăng gia sản xuất, công tác dân vận, chính sách với người có công, tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống lụt bão

Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 sẵn sàng hy sinh cả tính mạng giúp đỡ Nhân dân miền Trung trong trận lũ năm 2020 là hình ảnh đẹp in sâu trong lòng Nhân dân cả nước, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đến hình ảnh những "Bộ đội  Cụ Hồ" ngày đêm bám rừng bám chốt ngăn chặn người nhập cảnh trái phép giữa lúc dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, bao tháng liền ăn lán ngủ rừng nhường doanh trại làm khu cách ly, công việc vất vả, xa nhà, thiếu thốn vật chất nhưng không bao giờ bỏ cuộc. Thế nhưng, khi Quân đội ta càng lớn mạnh càng được sự tin yêu của Nhân dân thì thế lực lượng  thù địch càng quyết liệt chống phá. Hàng ngày, hàng giờ chúng sử dụng những thủ đoạn và luận điệu xảo trá chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội… Mục đích làm xấu hình ảnh, giảm sút uy tín của “Bộ đội cụ Hồ” trong mắt của quần chúng Nhân dân.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài đã triệt để lợi dụng intenet và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, videoclip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài; bằng những chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng mạng. Những thủ đoạn chúng thường dùng trên mạng xã hội, như: tung tin thất thiệt, lừa bịp, mị dân, thật giả lẫn lộn, lấy một vài sự việc cá nhân, đơn lẻ để quy chụp thành bản chất của Quân đội… làm cho một bộ phận cư dân mạng mất phương hướng, lầm tưởng đó là sự thật, dẫn đến hoài nghi, thiếu niềm tin với Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ ta.

Nhiều người vì quá vội tin, có những người vì thiếu hiểu biết, cá biệt có một bộ phận cư dân mạng trong đó cả những người có học thức, địa vị trong xã hội không cần biết đến nội dung của vấn đề thấy người khác chia sẻ, bình luận cũng “nhảy vào” a dua, phụ họa, bình luận, chia sẻ theo, dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" lúc nào không hay. Thời gian qua đã có một số đối tượng sa vào "cạm bẫy" trở thành kẻ xấu chống lại Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đơn cử như đối tượng Nguyễn Duy Hướng (SN 1987), trú tại xã Viên Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) là bác sĩ mở phòng khám tư nhân Duy Nhi tại xã Viên Thành, huyện Yên Thành. Tuy nhiên đối tượng lại sử dụng Facebook “Bảo Kiếm” để có các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia và đã bị cơ quan chức năng bắt vào tháng 3/2021 để phục vụ công tác điều tra về hành vi “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ Luật hình sự…

Chính vì vậy, mỗi người dân chúng ta hãy nâng cao cảnh giác với chiêu trò của thế lực thù địch; hãy lên án, vạch trần bộ mặt giả dối và những âm mưu xấu, độc của bọn phản động ở trong và nước ngoài đang ráo riết chống phá nền độc lập, tự do mà Nhân dân ta đang có. Hãy là người sử dụng mạng xã hội thông thái, để phục vụ đất nước, góp phần bảo vệ nền hòa bình, độc lập của dân tộc mà bao lớp cha anh của chúng ta đã đổ xương máu mới giành được./.

 LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN, XUYÊN TẠC QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM

VỀ XUNG ĐỘT NGA – UKRAINE

 

Sau khi Đại hội đồng Liên hợp quốc tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI ngày 2/3 thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm của mình về vấn đề này, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga – Ukraine. Cá biệt, một số người cuốn theo lối suy diễn trên, cũng đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá, từ đó lấy cớ vu cáo “người dân ủng hộ đa số” còn quan điểm của Nhà nước “chỉ là thiểu số”! Thậm chí có luận điệu xuyên tạc rằng, phải chăng Việt Nam đang ngấm ngầm ủng hộ cho cuộc chiến tranh, quay lưng với hoà bình? Tất cả những luận điệu suy diễn trên đều nhằm mục đích bôi nhọ quan điểm, uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, lộ rõ ý đồ, động cơ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đối với vấn đề xung đột Nga – Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã khẳng định rằng: Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này.

Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga – Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế.

Như vậy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga – Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

 

 

 ĐỪNG LỢI DỤNG TÌNH HÌNH UKRAINE ĐỂ XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ

 

Tình hình xung đột Nga – Ukraine là vấn đề nóng được dư luận khắp nơi trên thế giới và nhất là trên không gian mạng rất quan tâm. Nhân cơ hội này trên một số trang mạng như của Việt Tân, baotiengdan hay BBC, RFA…đã tận dụng tình hình để chống phá, xuyên tạc về việc bỏ phiếu của Việt Nam tại Liên Hiệp quốc về tình hình Ukraine, cho rằng rằng “Việt Nam bỏ phiếu trắng là có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế sao”… Còn “Báo tiếng dân” thì bình loạn “Ngoại giao Việt Nam rơi tự do”… BBC thì nói “Việt Nam biện bạch cho việc bỏ phiếu trắng”… Những kẻ này cố tình lờ đi những phát biểu và nỗ lực đóng góp của Việt Nam cho mục tiêu hòa bình.

Việc Việt Nam bỏ phiếu trắng với nghị quyết về Ukraine tại Liên Hợp quốc là thể hiện quan điểm, thái độ chân thành, thẳng thắn nêu ý kiến với tất cả bạn bè, đối tác để đóng góp cho hòa bình. Với nước Nga, một người bạn truyền thống, từng giúp đỡ nghĩa tình cho Việt Nam, chúng ta ủng hộ Nga là một cường quốc trên thế giới, ủng hộ bảo đảm an ninh của nước Nga trong nội địa và không bị uy hiếp ngoài biên giới, không đồng tình với các lệnh trừng phạt kinh tế, bao vây, cấm vận áp đặt lên nước Nga. Nhưng đồng thời ta không đồng tình khi chủ quyền, lãnh thổ các nước không được tôn trọng theo luật pháp quốc tế, bất luận là hình thức nào. Việc dùng chiến tranh hoặc sức mạnh để giải quyết tranh chấp là không thể chấp nhận. Với Ukraine, ta ủng hộ việc bạn mình bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ danh dự quốc gia, mong muốn Ukraine hòa bình, không bị áp đặt bởi chính trị cường quyền, không phải chịu đựng chính sách “ngoại giao pháo hạm” của nước lớn. Ta phản đối bất cứ hình thức nào áp đặt chiến tranh với Ukraine, kêu gọi hòa bình, ổn định cho người dân. Tuy nhiên, Ukraine nên tỉnh táo hơn không để đất nước mình trở thành nơi xung đột quyền lực của các nước lớn. Các bên xung đột trực tiếp và các bên can dự đều đưa ra lý lẽ của mình. Nguyên nhân để xung đột leo thang như hiện nay không có bên nào đúng hoặc sai tuyệt đối. Kết cục của cuộc chiến cả Nga và Ukraine đều không có bên nào thắng, Nga và Ukraine đều bị tổn thất to lớn, thù hận sẽ rất khó xóa cho các thế hệ kế tiếp. Nhất là đây lại là 2 dân tộc đã có chung cội nguồn, lịch sử, văn hóa…

Rõ ràng, Việt Nam đã thể hiện rất rõ thái độ ủng hộ giải pháp hòa bình, kêu gọi các bên kiềm chế, ngồi vào bàn đối thoại đàm phán, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp công việc nội bộ, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

 

 CÓ PHẢI CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN LÀ MẤT DÂN CHỦ?

Nhân Trần

Thời gian vừa qua, nhiều học giả tiếp tục công khai, rêu rao và truyền bá trên các trang mạng quan điểm “Việt Nam không có dân chủ, nếu có chỉ là giả tạo bởi vì Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chế độ độc đảng cầm quyền, toàn trị, đảng trị thủ tiêu dân chủ. Phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập Việt Nam mới có dân chủ”. Thực chất những tác giả của luận điệu sai trái này đã cố tình làm ngơ trước các vấn đề cả về lý luận và thực tiễn đã được đúc rút thành giáo khoa rất sơ đẳng về dân chủ. Đồng thời đây là luận điệu trắng trợn vu khống, bịa đặt về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xã hội ta hiện nay.

Dân chủ hiểu theo cách chung nhất, phổ biến nhất là quyền lực nhà nước thuộc về số đông người theo sự phát triển của tiến trình lịch sử, mang tính lịch sử và phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội. Còn chế độ dân chủ là một hình thức thiết chế chính trị của xã hội, phương thức quản lý và điều hành của xã hội được xây dựng thành các thiết chế, cơ chế, quy chế, chế độ mang tính pháp lý để các chủ thể chính trị, các công dân, cá nhân thực hiện quyền lực của mình đối với xã hội.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một thể chế chính trị để bảo đảm và thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trên thực tế đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội; phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta; vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển đất nước. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhân dân là chủ thể quyền lực Nhà nước. Quyền làm chủ của Nhân dân được bảo đảm và hiện thực hóa bằng pháp luật và các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hai lĩnh vực quan trọng hàng đầu và nổi bật nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là dân chủ về kinh tế và chính trị. Dân chủ về kinh tế đó chính là quyền sở hữu của người lao động được quy định trong pháp luật trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa cho phép mọi người dân tự tổ chức sản xuất, kinh doanh chính đáng, hợp pháp mang lại lợi ích cho chính mình và sự phát triển của xã hội. Dân chủ về chính trị thể hiện trên các vấn đề cơ bản là: Nhà nước và các cơ quan quyền lực của Nhà nước do Nhân dân bầu ra thông qua phổ thông đầu phiếu. Mọi hoạt động của Nhà nước  phải đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp (giám sát, phản biện) của Nhân dân và các tổ chức đại diện của Nhân dân. Nhân dân có quyền tham gia vào mọi công việc của Nhà nước; thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Mọi đại biểu của dân trong bộ máy Nhà nước phải được Nhân dân bầu ra. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Phương thức thực hiện dân chủ là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đối với Nhà nước và toàn xã hội là một tất yếu khách quan để thực hiện và tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Bởi vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại biểu trung thành, đại diện chân chính cho lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, giai cấp công nhân và của Nhân dân lao động. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, giai cấp công nhân và của Nhân dân lao động Đảng ta không có lợi ích nào khác.

 Như vậy, ở Việt Nam, duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền; là nhất nguyên chính trị với một con đường duy nhất đúng là giành độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội; không thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhưng vẫn có dân chủ thực sự và đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa với bản chất tốt đẹp không như một số người vẫn thường rêu rao, nói xấu, bịa đặt không đúng về tình hình đất nước Việt Nam./.

 HIỂU THẾ NÀO LÀ “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ”, “ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP”

Nhân Trần

          Quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là nội dung cốt lõi của hệ tư tưởng tư sản nhằm chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, các nước  “nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền”; được che đậy khá tinh vi bằng những lời lẽ mỹ miều, giả danh nhân đạo, nhân văn, tự do, dân chủ, nhân quyền. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức tung hô, cổ súy cho quan điểm trên như một kiểu văn minh phương Tây để chống phá con đường cách mạng Việt Nam. Nhận diện, chỉ ra tính chất nguy hiểm, vô căn cứ cả về lý luận, thực tiễn cùng với âm mưu thủ đoạn thâm độc để chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa sự xâm nhập của luận điểm này là rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đúng như V.I.Lênin từng nói: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác ẩn đằng sau bất kỳ câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội thì trước sau bao giờ người ta vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Từ đó xác lập thái độ chính trị rõ ràng, kiên quyết, không chấp nhận quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

          Bản chất của quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” chính là trong đất nước, trong xã hội có nhiều khuynh hướng chính trị, nhiều đường lối phát triển khác nhau, thậm chí đối lập nhau và đại diện cho mỗi khuynh hướng ấy là các đảng phái chính trị. Quan điểm này là lý luận chính trị phản động của các thế lực thù địch đưa ra nhằm chống phá các nước xã hội chủ nghĩa - nước chỉ có một khuynh hướng chính trị duy nhất đúng đắn là đi lên xây dựng chủ nghĩa cộng sản và duy nhất Đảng Cộng sản cầm quyền. Về mặt hình thức, quan điểm này rất dễ làm cho người thiếu hiểu biết ngộ nhận rằng: “Đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” tức là khuynh hướng chính trị nào đúng sẽ được lựa chọn, đảng phái nào tiến bộ sẽ cầm quyền và như thế mới là tự do, dân chủ, tiến bộ và “cạnh tranh bình đẳng”. Ở một số nước tư bản chủ nghĩa hiện nay đang thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” nhưng cũng không hoàn toàn theo đúng nghĩa mà vẫn là nhất nguyên chính trị tư sản, đa đảng nhưng không đa nguyên. Dù đảng này hay đảng khác nắm chính quyền cũng đều thực hiện một mục đích chính trị duy nhất phục lợi ích của giai cấp tư sản. Các đảng phái chính trị thuộc chế độ đa đảng ở các nước này thường có những mâu thuẫn và bản chất mâu thuẫn đó không có gì khác là sự “ăn chia” lợi ích trên lưng người lao động. Các đảng ấy vẫn một mực trung thành với hệ tư tưởng tư sản, cho nên vẫn nhất nguyên về chính trị. Xét đến cùng, quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” chỉ là giả tạo “trang điểm” cho cái gọi là tự do, dân chủ, tiến bộ mà thôi. Giai cấp tư sản, lực lượng cầm quyền sẽ không bao giờ thực hiện và đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho nhân dân lao động. Như V.I.Lênin đã khẳng định về nền dân chủ tư sản vẫn là “chật hẹp, giả dối, lừa bịp, giả mạo, luôn là một thứ dân chủ đối với kẻ giàu và một trò bịp bợm đối với những người nghèo”. Trên thực tế, các nước thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” luôn mất ổn định chính trị, xung đột phe cánh, suy đồi đạo đức, lối sống... Ngay cả nước Mỹ nhiều năm liền là quốc gia dẫn đầu thế giới về kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự; có trình độ phát triển nhất, văn minh nhất thì cũng là một quốc gia tồn tại đầy rẫy những bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc, nhiều bạo lực, đầy bất ổn.

          Như vậy, quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” thường được các lực lượng cơ hội chính trị tiếp nhận và thêu dệt về cái hay, cái tiến bộ trong bức tranh mờ ảo, không có tính hiện thực. Bởi xét từ tầng sâu bản chất, nó chẳng qua là một loại “vi rút độc hại” luôn rình rập, xâm nhập vào bên trong phá hoại cơ thể đất nước ta. Con đường xâm nhập từ nhận thức đến tình cảm, quan điểm, thái độ, động cơ và cuối cùng là hành vi chống phá. Nó làm chệch hướng nhận thức dẫn đến nghi ngờ, tán dương và cuối cùng là từ “diễn biến” đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đoàn kết, đồng lòng, đồng tâm, đồng sức của toàn dân tộc trong chống thiên nhiên cũng như chống ngoại xâm với tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong đường lối đối nội và đối ngoại. Nhờ lịch sử ấy, dân tộc ta đã vượt qua những bước cam go nhất để chiến thắng các thế lực thù địch để tồn tại, phát triển. Vì vậy chúng ta không chấp nhận “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một con đường duy nhất đúng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội - đó là lựa chọn của lịch sử và chúng ta đang đồng thuận đi trên con đường ấy; sẽ không có con đường thứ hai và cũng không có đảng nào ngoài Đảng Cộng sản cầm quyền. Đi ngược lại quy luật đó chính là hành động chống phá cách mạng Việt Nam mà thôi./.