Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

 

Các yêu cầu Để pháp luật hình sự Việt Nam tham gia có hiệu quả vào quản trị các thách thức an ninh phi truyền thống

Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và ANPTT; kịp thời đấu tranh trấn áp có hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Vì vậy, PLHS Việt Nam phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Một là, kịp thời tội phạm hóa trong các quy định pháp luật những hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong xã hội.

Yêu cầu của PLHS Việt Nam là kịp thời tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính nguy hiểm cao, uy hiếp an ninh của con người và cộng đồng dân cư, dân tộc và nhân loại. Đây cũng chính là sự đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa, các mối đe dọa buộc các nước, trong đó có Việt Nam cần điều chỉnh kịp thời pháp luật mang tính thích ứng với chuẩn mực quốc tế, trong đó có việc tội phạm hóa nhằm xử lý hiệu quả những hành vi nguy hiểm mới, có tính chất xuyên quốc gia, có tổ chức, đặc biệt là trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, như hành vi thành lập tổ chức vũ trang trái phép, hành vi gây dựng hoặc tham gia tổ chức phạm tội, hành vi tổ chức các hội cực đoan, tấn công vào người hay tổ chức được luật pháp quốc tế bảo vệ, hành vi sử dụng vũ khí sinh học gây thảm họa cho con người.

Hai là, thay đổi nhận thức về những vấn đề mới trong PLHS.

Quan niệm truyền thống về các yếu tố, dấu hiệu trong cấu thành tội phạm của PLHS cần phải được thay đổi để phù hợp với tính phi truyền thống của hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc của hành vi phạm tội trong điều kiện mới. Theo quan niệm truyền thống, chủ thể của tội phạm thường là các cá nhân đơn lẻ hoặc các cá nhân cấu kết trong băng nhóm tội phạm, nhưng ở loại tội phạm phi truyền thống thì chủ thể của tội phạm, ngoài những đối tượng truyền thống đó, còn có thể là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp hay các tổ chức tội phạm với đông đảo thành viên hoạt động ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia khác nhau. Thậm chí, trong tương lai, chủ thể của tội phạm còn có thể là thực thể AI(14) hoặc chủ thể này cùng với cả cá nhân, pháp nhân. Cho nên, PLHS phải thường xuyên cập nhật, theo kịp với những thay đổi của tình hình tội phạm và thực tiễn xã hội.

Cũng trong quan niệm truyền thống, nơi (địa điểm) thực hiện, nơi xảy ra hậu quả của tội phạm phải là một địa điểm cụ thể nào đó nhưng ở tội phạm phi truyền thống thì những điều đó có thể diễn ra ở một không gian mạng (không gian ảo). Ngoài những thiệt hại là các giá trị vật chất, tinh thần như tội phạm truyền thống, tội phạm phi truyền thống còn có thể gây ra những thiệt hại bằng các giá trị ảo (các loại tài sản ảo mà việc thừa nhận và quy chế pháp lý còn khác biệt ở các quốc gia) và thiệt hại “xuyên quốc gia”. Bên cạnh đó, nhiều cá nhân, tổ chức và các thế lực bên ngoài và số đối tượng chống đối chính trị trong nước đã sử dụng không gian mạng để tiếp tục liên kết trong - ngoài, tăng cường lôi kéo, kích động, gây rối an ninh, trật tự, tuyên truyền chống phá an ninh đất nước.

Ngoài ra, nếu phương thức, thủ đoạn phạm tội truyền thống phổ biến là hành vi có tính chất bạo lực hoặc hành vi công khai chống đối, còn đối với tội phạm phi truyền thống hành vi rất tinh vi, có thể đi kèm với ứng dụng công nghệ - khoa học ở trình độ cao hoặc núp bóng các hoạt động công khai, hợp pháp và do các đối tượng am hiểu sâu sắc về kinh tế, nghiệp vụ tài chính, ngân hàng... thậm chí, các đối tượng đã sử dụng AI và những thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để phạm tội... như với sự phát triển của dữ liệu lớn (Big-Data) đã xuất hiện mối lo ngại về quản lý, bảo mật thông tin, hệ thống nhận diện khuôn mặt có thể bị lạm dụng dẫn tới vi phạm quyền riêng tư, xâm phạm an ninh mạng, an ninh quốc gia, khủng bố. Hay sự phát triển của nền kinh tế chia sẻ (Sharing economy) cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với các nhà quản lý, như vấn đề kiểm soát việc minh bạch về thông tin; quản lý giao dịch điện tử, thanh toán quốc tế; chống thất thu thuế, đồng thời có thể là nguyên nhân phát sinh các tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, rửa tiền...

Tất cả những biến đổi đó, đòi hỏi PLHS cũng phải thay đổi một số quan điểm truyền thống về các yếu tố cấu thành tội phạm, ví dụ: “an ninh mạng” có phải là khách thể bảo vệ của PLHS không; “tài sản ảo” có được thừa nhận không; hành vi thực hiện trên “không gian mạng”, thậm chí ngoài trái đất hay hành vi thực hiện bởi trí tuệ nhân tạo (AI) thì trách nhiệm hình sự giải quyết thế nào; hậu quả của tội phạm xuyên quốc gia, xuyên biên giới; chủ thể của tội phạm là AI... Do đó, cần rà soát, đánh giá những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong từng lĩnh vực làm phát sinh những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào (ví dụ: trí tuệ nhân tạo (AI) làm phát sinh tội phạm AI(15); dữ liệu lớn làm gia tăng tội phạm mạng...).

Ba là, kịp thời sửa đổi, bổ sung những điều luật bảo đảm ứng phó với diễn biến của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Ở đây, đòi hỏi PLHS phải được thường xuyên cập nhật, tương thích, ứng phó với diễn biến thực tế của tội phạm đang diễn ra và đấu tranh có hiệu quả với tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia. Phát sinh trong điều kiện phát triển nhanh chóng của tri thức và khoa học - công nghệ, nhiều loại tội phạm phi truyền thống không ngừng biến đổi về phương thức, thủ đoạn phạm tội theo hướng ngày càng tinh vi, phức tạp làm cho việc phát hiện, đấu tranh và xử lý gặp khó khăn, trong khi cấu thành tội phạm trong BLHS chưa kịp điều chỉnh và các cơ quan, lực lượng chức năng chưa kịp tổng kết, đánh giá và nhận diện mô hình hóa nó. Do đó, nếu PLHS không theo kịp những diễn biến đó sẽ dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm, tạo ra kẽ hở cho tội phạm lợi dụng. Quyết định số 623/QĐ-TTg, ngày 14-4-2016, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030”, nêu rõ: Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm về kinh tế, tham nhũng, ma túy, môi trường, tội phạm xâm hại trẻ em... Trong khi đó, “tội phạm có tổ chức” lại chưa được ghi nhận để điều chỉnh trong BLHS, khi mà các tổ chức tội phạm gây ra những tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cũng ngày càng gia tăng, là mối nguy hại cho xã hội và nỗi lo cho nhân dân, sự đau đầu cho các nhà lãnh đạo, quản lý trên toàn thế giới.

Cùng với đó, PLHS phải có tính tương thích quốc tế cao, bởi vì tính chất xuyên quốc gia, quy mô ảnh hưởng xuyên biên giới của tội phạm phi truyền thống, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải hợp tác chặt chẽ mới có thể đấu tranh đạt hiệu quả cao. Bởi lẽ, vấn đề xung đột pháp luật, tranh chấp thẩm quyền tài phán sẽ là những rào cản trong công tác xét xử các tội phạm này. Do đó, để tăng cường tính “tương thích” pháp luật làm cơ sở cho việc hợp tác, đấu tranh phòng, chống tội phạm, đòi hỏi Việt Nam phải từng bước tham gia, ký kết và thực thi các điều ước quốc tế, các thỏa thuận hợp tác song phương và đa phương trong khu vực, quốc tế về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, chẳng hạn, từng bước nội luật hóa các quy định của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 của Liên hợp quốc vào BLHS năm 2015. Đồng thời, đồng bộ hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thủ tục tố tụng, hợp tác giải quyết vụ án, vấn đề dẫn độ và chuyển giao... trong luật tố tụng hình sự, luật thi hành án hình sự để hoạt động giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao./.

Trung Lập

 

 Thách thức an ninh phi truyền thống đặt ra đối với pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

Từ việc nghiên cứu các mối đe dọa ANPTT, được thể hiện trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, xác định tập trung vào tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, có thể nhận thấy những thách thức cụ thể đối với PLHS Việt Nam như sau:

Thứ nhất, an ninh phi truyền thống làm phát sinh hành vi nguy hiểm mới cho xã hội có tính xuyên quốc gia, đe dọa xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và quyền con người hoặc vẫn là hành vi phạm tội nhưng với phương thức và thủ đoạn mới.

Hiện nay, do đối tượng xâm phạm chuyển từ an ninh biên giới, lãnh thổ, an ninh chính trị truyền thống sang các lĩnh vực an ninh mới như: an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh môi trường nên vấn đề ANPTT đặt ra thách thức ở hai khía cạnh: Một là, làm phát sinh những hành vi nguy hiểm mới cho xã hội đòi hỏi phải tội phạm hóa kịp thời trong PLHS; Hai là, vẫn là hành vi phạm tội trong PLHS nhưng có phương thức và thủ đoạn mới liên quan đến đặc tính xuyên quốc gia như: khủng bố, rửa tiền, tội phạm công nghệ cao... (tội phạm phi truyền thống) với việc sử dụng thành tựu khoa học và công nghệ cao, cũng như những thành tựu vượt trội mà Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại.

Có thể thấy, các quốc gia có hạ tầng kết nối mạng hiện đại và phổ biến sẽ có tỷ lệ tội phạm mạng rất cao, như ở Mỹ (23%), Trung Quốc (9%) hay Đức (6%). Trong tương lai, cơ cấu tỷ lệ tội phạm này sẽ có sự thay đổi, dịch chuyển và phân đều về nhóm các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, khi tỷ lệ người dùng in-tơ-nét ngày càng gia tăng. Tội phạm phi truyền thống là thách thức lớn nhất của ANPTT dưới góc độ PLHS trong thời kỳ an ninh mới. Phức tạp hơn, loại tội phạm này thường sử dụng thành tựu khoa học  - công nghệ cao nên ẩn danh, khó phát hiện và việc xử lý dấu vết, truy tìm chứng cứ vô cùng khó khăn. Điều đáng quan ngại nữa ở loại tội phạm này là đa phần tội phạm trong nước liên kết với tội phạm người nước ngoài, hoạt động có tổ chức và mang tính quốc tế, xuyên quốc gia và rất chuyên nghiệp(10). Do đó, tội phạm phi truyền thống là hành vi nguy hiểm cho xã hội có nguồn gốc phi quân sự gây ra cho sự an toàn, ổn định của mỗi con người, cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế được thực hiện một cách cố ý từ bất kỳ chủ thể phi nhà nước nào với đặc trưng mới về địa điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội và khách thể của tội phạm.

Chính vì vậy, “an ninh” như đã đề cập, là nhu cầu đầu tiên và thiết yếu của mỗi con người, mỗi quốc gia và toàn nhân loại; đồng thời, an ninh cũng là điều kiện cơ bản và quan trọng số một bảo đảm cho sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi con người, của từng tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội(11). Vì lẽ đó, PLHS Việt Nam phải ứng phó với thách thức trên (tội phạm hóa hoặc bổ sung phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm).

Thứ hai, sự biến đổi về nhiều yếu tố, dấu hiệu của tội phạm, như phương thức, thủ đoạn phạm tội, phạm vi diễn ra và tác động của hành vi phạm tội... so với các tội phạm truyền thống.

Tội phạm phi truyền thống với tư cách là thách thức ANPTT có sự biến đổi thể hiện khác biệt với tội phạm truyền thống như sau:

Tội phạm phi truyền thống thường có tính xuyên quốc gia. Một thực tế rõ ràng là hành vi phạm tội luôn là loại tội phạm xuyên quốc gia với đặc tính đa quốc gia của tội phạm, mà theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, tính chất xuyên quốc gia được biểu hiện ở một trong các yếu tố:

+ Thể hiện ở không gian diễn ra tội phạm đối với toàn bộ quá trình thực hiện tội phạm như: Tội phạm được thực hiện ở hai quốc gia trở lên; tội phạm được thực hiện ở một quốc gia nhưng việc chuẩn bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn ra ở một quốc gia khác.

+ Thể hiện ở phạm vi ảnh hưởng của tội phạm. Nếu đối với tội phạm không có tính chất xuyên quốc gia thì quốc gia nơi thực hiện tội phạm cũng chính là quốc gia nơi tội phạm gây ảnh hưởng. Trong khi đó, tội phạm xuyên quốc gia có thể được thực hiện ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng ở một hoặc nhiều quốc gia khác.

+ Thể hiện ở chủ thể thực hiện tội phạm. Đây là trường hợp việc thực hiện tội phạm liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia các hoạt động phạm tội ở nhiều quốc gia khác nhau. Trường hợp chủ thể của tội phạm đơn thuần có quốc tịch khác với quốc gia nơi thực hiện tội phạm không thuộc loại tội phạm này mà chỉ là tội phạm có yếu tố nước ngoài.

Tội phạm phi truyền thống đe dọa trật tự, an ninh ở phạm vi khu vực hoặc toàn thế giới. Do tính chất “xuyên quốc gia” nên tội phạm này có thể trực tiếp đe dọa trật tự, an ninh của một khu vực, của toàn thế giới hoặc chỉ uy hiếp an ninh của một cộng đồng, quốc gia nhưng về thời gian sau, hậu quả của nó sẽ lan tỏa vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Trong khi đó, tội phạm truyền thống tập trung đe dọa đến an ninh quốc gia riêng lẻ. Vì vậy, việc phối hợp, cộng tác để ứng phó luôn được tất cả tổ chức quốc tế, khu vực đặt ra khi hợp tác song phương, đa phương và thông qua các hoạt động diễn tập, luyện tập...

Phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm phi truyền thống thường thể hiện dưới dạng tội phạm có tổ chức, phạm tội có tính chuyên nghiệp rất cao. Thực tiễn cho thấy, buôn bán vũ khí, mua bán trái phép chất ma túy, buôn bán người, khủng bố, rửa tiền... hầu như không thể thực hiện bởi cá nhân đơn lẻ mà luôn được thực hiện bởi các tổ chức tội phạm và thường hoạt động xuyên quốc gia, thực hiện nhiều lần, còn được gọi là tội phạm có tổ chức. Hơn nữa, cách thức, thủ đoạn thực hiện các tội phạm ngày càng tinh vi, sử dụng thành tựu của khoa học - công nghệ cao.

Thứ ba, thách thức phát sinh các vấn đề về hiệu lực pháp luật, thẩm quyền xét xử và khả năng xử lý, giải quyết, phối hợp giữa các quốc gia khi có tội phạm xảy ra.

Mặc dù liên quan đến nhiều quốc gia, đe dọa trật tự, an ninh của các quốc gia liên quan, của khu vực hoặc toàn thế giới nhưng trách nhiệm pháp lý đối với tội phạm phi truyền thống được xác định trên cơ sở pháp luật quốc gia chứ không phải pháp luật quốc tế và thẩm quyền xét xử đối với các tội phạm này thuộc về quốc gia riêng lẻ mà không thuộc về một tòa án quốc tế nào. Sở dĩ như vậy bởi khách thể của chúng là những giá trị được bảo vệ bởi pháp luật quốc gia chứ không phải các giá trị được luật quốc tế xác lập, bảo vệ như quyền dân tộc, hòa bình thế giới...

Như vậy, trách nhiệm pháp lý theo pháp luật quốc gia, thẩm quyền xét xử thuộc tòa án quốc gia riêng lẻ nhưng phạm vi hoạt động, tác động của tội phạm phi truyền thống lại xuyên quốc gia nên liên quan đến tội phạm này rất dễ xảy ra hiện tượng “chồng lấn” về hiệu lực của BLHS và tranh chấp thẩm quyền xét xử giữa các quốc gia liên quan nếu không được điều chỉnh rõ ràng. Theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, các văn kiện quốc tế chỉ quy định nghĩa vụ tội phạm hóa hoặc khuyến nghị việc tội phạm hóa các hành vi chứ không bao giờ thiết lập một mô tả cấu thành bắt buộc các quốc gia sao chép khi nội luật hóa văn kiện quốc tế đó(12). Bên cạnh đó, để tiến hành hoạt động phạm tội với quy mô lớn, các tổ chức tội phạm thường mua chuộc, hối lộ và lôi kéo một số nhà lãnh đạo nước ngoài nhằm dung túng, bao che cho các hoạt động phạm tội của tổ chức mình(13). Nhờ đó, các nhóm tội phạm xuyên quốc gia có thể thuận lợi hình thành và mở rộng các mạng lưới mua bán trái phép chất ma túy, buôn bán người, rửa tiền... Ngoài ra, chúng lại tiếp tục triển khai các hoạt động để nâng cao năng lực tài chính, mạng lưới ra bên ngoài, như tiến hành đầu tư, cho vay, liên kết kinh doanh nhằm che giấu thu nhập từ việc phạm tội mà có, qua đó tạo thành “bức bình phong” vững chắc cho các hoạt động phạm tội.

Vì vậy, đánh giá về mức độ khó khăn trong công tác đấu tranh với tội phạm thì chắc hẳn mức độ của tội phạm phi truyền thống xuyên quốc gia cao hơn nhiều so với tội phạm trong nội bộ quốc gia. Bởi lẽ, do địa bàn hoạt động của tội phạm vượt ra ngoài ranh giới lãnh thổ - xuyên quốc gia nên chỉ với các quốc gia riêng lẻ thì rất khó hay chính xác là không thể điều tra, thu thập chứng cứ xác định tội phạm, cũng như nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Sự câu kết, di chuyển xuyên quốc gia của các chủ thể thực hiện tội phạm tạo ra thách thức lớn cho các lực lượng chức năng trong việc phát hiện, bắt giữ. Cùng với đó, phạm vi tác động của tội phạm ở tầm liên quốc gia nên việc xác định đầy đủ, kịp thời các thiệt hại để ngăn chặn, khắc phục không nhanh chóng như các đối với các tội phạm khác...

Những thách thức trên cùng với các thách thức trong từng lĩnh vực an ninh trọng yếu tạo ra mối đe dọa đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và quyền con người, đòi hỏi phải đặt ra yêu cầu hoàn thiện PLHS Việt Nam và giải pháp ứng phó.

NMT


 Nhận thức về an ninh phi truyền thống theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Vấn đề ANPTT được Đảng ta nhận thức từ rất sớm và thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 17-12-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII, cảnh báo và chỉ ra các yếu tố thách thức đối với an ninh quốc gia, trong đó có vấn đề ANPTT. Tiếp đó, vấn đề ANPTT tiếp tục được đề cập, nêu rõ trong nội dung các văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng. Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng năm 2021 đã tiếp tục khẳng định nhận thức, quan điểm nhất quán về nội dung, thách thức của ANPTT đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đại hội nhấn mạnh: “Những vấn đề toàn cầu như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường... tiếp tục diễn biến phức tạp”(5), “Những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động mạnh mẽ”(6), từ đó, đề ra nhiệm vụ “sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống”(7)...; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng và an ninh xã hội. Kịp thời đấu tranh trấn áp có hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xử lý các vấn đề ANPTT, tạo vành đai bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh phù hợp với hội nhập quốc tế và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(8).

Đại hội XIII của Đảng đặt ra nhiệm vụ phải ứng phó với các mối đe dọa ANPTT và một trong các giải pháp là hoàn thiện chính sách, pháp luật, bởi lẽ, ngoài các mối đe dọa ANPTT có thể khiến một quốc gia, thể chế, chế độ lung lay, bất ổn, sụp đổ, tiêu vong mà không cần bất kỳ một hoạt động chiến tranh quân sự nào; cùng với đó, nhiều nội dung của ANPTT còn ảnh hưởng đến tất cả các nước, trong khu vực hay trên toàn thế giới, như vấn đề an ninh môi trường, dịch bệnh truyền nhiễm... không chỉ ảnh hưởng đến một quốc gia mà có thể lan tràn, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Đặc biệt, các mối đe dọa của ANPTT thậm chí được chuyển hóa dẫn đến các vấn đề an ninh truyền thống, an ninh quân sự bởi đặc tính “lan tỏa nhanh” và “xuyên quốc gia”(9).

Các mối đe dọa ANPTT tập trung vào hai nhóm chính sau:

Nhóm về các quá trình, hiện tượng tự nhiên và xã hội bất lợi đến xã hội, như hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh truyền nhiễm, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, khoáng sản, di cư bất hợp pháp...; tương ứng với từng lĩnh vực an ninh trọng yếu (an ninh môi trường, an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh dân số...).

Nhóm về các hành vi tiêu cực (phạm pháp) do cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện ảnh hưởng bất lợi đến xã hội, như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia (rửa tiền, cướp biển, buôn bán trái phép chất ma túy, buôn bán người, vũ khí), tội phạm công nghệ cao...; tương ứng còn gọi là tội phạm phi truyền thống. Đây cũng chính là cách tiếp cận của PLHS  về vấn đề ANPTT và là mối đe dọa hàng đầu đến con người, an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và xã hội không chỉ của một quốc gia mà là toàn thế giới.

BĐT


 

Quyền công dân không thể xuyên tạc

Sự hình thành khái niệm quyền công dân gắn liền với chủ nghĩa lập hiến của cách mạng tư sản và được ghi nhận trong các Tuyên ngôn, Hiến pháp của một số quốc gia Tây Âu và Mỹ thời kỳ cận đại. Trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp, 1789 ghi nhận: Một xã hội mà trong đó sự bảo đảm quyền công dân không được chắc chắn, sự phân chia quyền lực không được ấn định thì xã hội đó hoàn toàn không có Hiến pháp và pháp luật. Và sau này, Hiến pháp của Hoa Kỳ, Điều sửa đổi thứ 14, 1868) cũng quy định: Không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế đặc quyền hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ.

                   Cơ sở cho sự hình thành khái niệm quyền công dân bắt nguồn từ các xu hướng chính trị - xã hội chủ yếu sau đây:

          a) Cách mạng tư sản giải phóng con người từ địa vị thần dân, thành thành viên của xã hội công dân, thành công dân nhà nước;

          b) Nội dung quyền con người phổ biến, đặc biệt là quyền tham gia vào đời sống chinh trị đã nhập vào phạm trù tự do chính trị, vào phạm trù quyền công dân, hay nói cách khác quyền con người trở thành nội dung chủ yếu của quyền công dân.

          c) Mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các công dân với nhau và giữa công dân với nhà nước được thực hiện thông qua pháp quyền[1]. Đây là các xu hướng tất yếu của quá trình hình thành một chế độ xã hội mới tiến bộ, theo đó, địa vị pháp lý của công dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp và luật quốc gia; chế định quốc tịch ra đời; nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật được công nhận. Đặc biệt với các quyền chính trị, công dân được quyền tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, hạn chế sự lạm quyền, thúc đẩy sự hình thành các cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Tóm lại quyền công dân chính là sự thừa nhận trật tự xã hội theo Hiến pháp và luật có ưu điểm đặc biệt trong bảo vệ quyền và tự do cơ bản của con người so với các xã hội không có pháp luật hoặc pháp luật chỉ là công cụ của giai cấp thống trị.

          Các xu hướng trên đây được phát triển và cụ thể hóa trong nhiều quan niệm hiện đại về quyền công dân, chẳng hạn: "Quyền công dân là các quyền cơ bản được đặc biệt bảo đảm cho các công dân của một quốc gia cụ thể; ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử hay quyền tiếp cận vói các dịch vụ công tại một quốc gia nào đó"[2]. Hoặc: "Quyền công dân có thể phát sinh trực tiếp từ quyền tự nhiên hay gián tiếp thông qua các sắp xếp chính trị trong một xã hội được xây dựng vói sự thỏa thuận của người dân thể hiện trong các Hiến pháp và các luật lệ"[3]. Trong thế kỷ XIX, bảo vệ quyền công dân đã trở thành chủ đề của Tu chính án số 14 (1868), Hiến pháp Hoa Kỳ. Từ nửa sau thế kỷ XX, Hiến pháp của các quốc gia đều xây dựng chế định quyền công dân, tức là các quyền áp dụng cho những người có quốc tịch một quốc gia.

          Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Quyền công dân là tổng hợp các quyền và tự do cơ bản của mỗi cá nhân, tạo nên địa vị pháp lý của cá nhân - trong mối quan hệ với nhà nước thông qua chế định quốc tịch được thừa nhận và bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật của quốc gia.

Hoằng Tháo




[1] Xem: C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.548-558.

[2] Wolfgang Benedek (Chủ biên): Tìm hiểu về quyền con người, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008, tr.40.

[3] Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa luật: Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2012, tr.67.

 

Cẩn trọng trước sự “xâm lăng” văn hóa

Thời gian qua, một số phim nước ngoài có hình ảnh bản đồ xuất hiện “đường lưỡi bò” phi pháp đã được phát hiện kịp thời và ngay lập tức bị cấm chiếu tại thị trường Việt Nam. Sau khi phát hiện phim “Hướng gió mà đi” có hình ảnh “đường lưỡi bò” phi pháp được phổ biến trên không gian mạng Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã có công văn yêu cầu 2 công ty này gỡ bỏ phim. Trước đó mấy ngày, bộ phim “Barbie” bị Cục Điện ảnh từ chối cấp phép phổ biến vì có hình ảnh “đường lưỡi bò” phi pháp lặp lại nhiều lần. Cũng vì lý do tuyên truyền sai lệch về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, Cục Điện ảnh đã ra lệnh cấm các bộ phim “Thợ săn cổ vật” (Uncharted) năm 2022, “Em là thành trì doanh lũy của anh” năm 2021, “Điệp vụ biển đỏ” năm 2018…

Việc các bộ phim nước ngoài cố tình cài cắm hình ảnh bản đồ chứa “đường lưỡi bò” để công chiếu tại Việt Nam chính là hình thức “xâm lăng” văn hóa. Chúng ta phải luôn quan tâm đến vấn đề văn hóa và phải xem đây là những vấn đề hết sức quan trọng, không được phép chủ quan, lơ là. Mỗi cơ quan chức năng, mỗi người dân phải hết sức cảnh giác với những văn hóa phẩm tuyên truyền sai lệch về chủ quyền quốc gia và các vấn đề chính trị khác”. Đây là cách thức tuyên truyền không chỉ đe dọa an ninh văn hóa mà còn cho thấy sự xâm phạm chủ quyền nước ta hết sức nghiêm trọng. Trong các phương thức tuyên truyền sai lệch về biên giới lãnh thổ thì tuyên truyền bằng văn hóa là hết sức nguy hiểm. “Điều đáng nói ở đây việc cài cắm nội dung “đường lưỡi bò” trong các tác phẩm nghệ thuật sẽ khiến các cơ quan chức năng khó phát hiện, khó xử lý hơn. Còn về phía khán giả, việc “hình lưỡi bò” xuất hiện trong các bộ phim sẽ dần dần, từ từ đi vào tâm trí và lâu dần sẽ tiêm nhiễm vào bộ óc của họ”, Vì vậy để tăng “sức đề kháng” trước thông tin sai trái và không bỏ lọt những bộ phim có “hình lưỡi bò” khi chiếu tại thị trường Việt Nam, các ban, bộ, ngành và nhất là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - đơn vị có thẩm quyền trực tiếp - cần nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, kiểm duyệt các bộ phim trước khi công chiếu tại Việt Nam. “Chúng ta cần xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để “làm gương” cho những trường hợp vi phạm khác. Bên cạnh đó, sự tham gia nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn kịp thời các sản phẩm văn hóa có hình ảnh xuyên tạc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam là vô cùng quan trọng và là hành động thiết thực để thể hiện lòng yêu nước”, “Mỗi nhà trường từ cấp tiểu học đến đại học nên tổ chức nhiều buổi học ngoại khóa để cung cấp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ cho lớp trẻ. Mỗi câu lạc bộ sinh viên trong các trường đại học nên đẩy mạnh việc tuyên truyền chủ quyền lãnh thổ thông qua các hình thức sinh động, hấp dẫn, như tổ chức các cuộc thi, sáng tác thơ, nhạc, tiểu phẩm sân khấu… Họ sẽ là những tuyên truyền viên tích cực và hiệu quả trong việc tuyên truyền đến mỗi gia đình, mỗi khu phố, tổ dân cư, từ đó chúng ta sẽ tạo ra mạng lưới “miễn dịch” trước những thông tin bịa đặt, sai sự thật” THN

 

 

Phê phán các quan điểm sai trái, thù địch

về tự do tôn giáo ở Việt Nam

Một trong những chiêu bài thường được các thế lực thù địch, phản động sử dụng là đăng tải, công bố các thông tin phiến diện, lệch lạc, thù địch, xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Đấu tranh trên lĩnh vực này là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần giúp cộng đồng trong nước và quốc tế nắm rõ, nhận thức đúng đắn về tình hình tự do tôn giáo và pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam.

Các thế lực phản động, thù địch thường lập luận một cách vô căn cứ về quyền tự do tôn giáo được ghi nhận trong luật pháp về tôn giáo của Việt Nam, xuyên tạc rằng các quy định về quyền tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam là “hạn chế về bản chất, “đi ngược lại với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm một cách có hệ thống tự do tín ngưỡng”(?!). Các luận điệu sai trái, thù địch nhìn nhận không đúng về mô hình quản lý tôn giáo theo chế độ “đăng ký” của Việt Nam. Họ lập luận hàm hồ rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bắt các tôn giáo phải đăng ký, bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội; đặt ra gánh nặng và yêu cầu phức tạp đối với các nhóm tôn giáo để đăng ký với chính phủ; có những quy định sự kiểm soát đáng kể của chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo bằng những điều khoản hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, như duy trì một quy trình đăng ký và công nhận nhiều giai đoạn cho các nhóm tôn giáo. Các quan điểm sai trái, thù địch, luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu dựa vào một số  hiện tượng, nhóm trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo, chưa được công nhận, có hiện tượng hoạt động vi phạm pháp luật để quy kết Việt Nam “đàn áp tôn giáo”.

Thực tiễn, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật bảo hộ và luôn được bảo đảm, thực thi trong thực tế. Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế. Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật liên quan đến tự do tôn giáo tương đối hoàn chỉnh, từ Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Với sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam cơ bản đã xây dựng hoàn thiện hệ thống luật pháp về tôn giáo làm công cụ pháp lý cho việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; Việt Nam cũng là một trong số ít quốc gia trên thế giới ban hành luật riêng về tự do tôn giáo (hơn 20 quốc gia ban hành luật riêng về tôn giáo). Việc tổ chức, triển khai thực hiện chính sách và luật pháp về tôn giáo được quan tâm coi trọng, quyền tự do tôn giáo của mọi người được bảo đảm trong thực tế theo quy định của pháp luật.

Thứ nhất, Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được thực hiện trong thực tiễn, được pháp luật bảo hộ và được chính quyền tạo điều kiện.

Thứ hai, các tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân ngày càng nhiều và tiếp tục gia tăng.

Vì vậy, để công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc có hiệu quả, góp phần làm cho xã hội và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, chúng ta cần phải tăng cường công tác tuyền truyền, phổ biến về luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở nước ta cho toàn dân và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn; Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho phù hợp với tình hình thực tế nước ta và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Quán triệt nâng cao nhận thức cho hệ thống chính trị về quan điểm, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo; nghiêm túc chấp hành chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Đa dạng hóa công tác truyền thông, kịp thời và nâng cao chất lượng của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên phương diện tín ngưỡng, tôn giáo. Đi đôi với đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch cần phải tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận của Đảng về tôn giáo ngày càng sâu sắc hơn, đáp ứng với yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới.

THN

 

Biện pháp đấu tranh phản bác những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh

Quán triệt quan điểm của Đảng: “…kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...”1; đồng thời, để hiện thực hóa phương châm: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái…”2, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần cảnh giác của nhân dân trước những thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Điều này có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Có nhận thức đúng tính chất nguy hại của sự việc mới có ý thức cảnh giác, đề phòng. Do đó, công tác giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân về lĩnh vực quốc phòng - an ninh phải coi trọng điểm này, phải làm cho nhân dân thấy rõ đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin bịa đặt, nhằm dụng ý xấu để cảnh giác. Việc làm này phải được tiến hành một cách kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục, chú trọng những vùng có lịch sử chính trị - xã hội phức tạp, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo sinh sống; địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh. Cần tập trung tuyên truyền làm rõ vị trí, vai trò của công tác quốc phòng - an ninh, mối quan hệ giữa an ninh và quốc phòng, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh; an ninh biên giới, an ninh biển; chủ quyền biển đảo,... hướng tới thống nhất nhận thức, tư tưởng, ý chí và hành động, đúng với quan điểm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc…”3. Phương thức tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, như thông qua hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, các trang mạng xã hội, qua giáo dục, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng trong xã hội.

Hai là, cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. Quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại của in-tơ-nét, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, càng chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch, càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự việc, hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, bán tín bán nghi trong xã hội. Tất nhiên, trừ các thông tin bí mật quân sự, bí mật quốc gia, các thông tin khác, nhất là về các sự kiện lớn, đột xuất, phức tạp, nhạy cảm, có thể gây bất ổn xã hội, thì luôn cần có thông tin chính thống, kịp thời từ cơ quan chức năng, từ người có thẩm quyền phát ngôn cho báo chí, đó chính là sự định hướng dư luận hiệu quả nhất.

Hiện nay, mạng in-tơ-nét là phương tiện được các thế lực thù địch sử dụng nhiều nhất, là trận địa thông tin nóng bỏng nhất, nếu không chủ động thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời đáp ứng nhu cầu của công chúng thì trận địa sẽ bị bỏ trống và đương nhiên kẻ thù sẽ ào lên chiếm lĩnh. Vì vậy, trong khi việc kiểm soát, chế tài các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống còn gặp nhiều rào cản, khó khăn, thì cách tốt nhất để đẩy lùi thông tin bịa đặt, sai lệch là phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và minh bạch cho nhân dân. Để thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời, đáp ứng nhu cầu của công chúng, phải bảo đảm chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng báo chí “đói” nguồn thông tin chính thống và chính xác.

Ba là, xây dựng lực lượng đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh. Trong đó, tập trung vào đội ngũ nhà báo, nhà nghiên cứu, thông tin viên, tuyên truyền viên trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đây là lực lượng đưa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhanh và hiệu quả nhất, là những người trực tiếp góp phần đập tan thông tin và luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Do vậy, cần xây dựng lực lượng này có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm cho họ, bảo đảm để lực lượng này là nòng cốt, xung kích trong đấu tranh, phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng.

Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là cuộc chiến lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng. Sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của lực lượng này làm nòng cốt cho toàn dân là nhân tố trực tiếp trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

NMT

 

 Nhận diện luận điệu tuyên truyền xuyên tạc về quốc phòng - an ninh của các thế lực thù địch chống phá cách mạng việt nam

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch xác định lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang là một trong những mục tiêu trọng yếu phải tập trung phá hoại, làm suy yếu. Tham vọng ngông cuồng và ảo tưởng của họ là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang. “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời mục tiêu, lý tưởng, mất phương hướng chính trị, không thực hiện đúng chức năng,... luôn là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Vì thế, chúng tập trung phá hoại bằng nhiều thủ đoạn hết sức đa dạng, tinh vi và thâm độc, trong đó, thông tin xuyên tạc về lĩnh vực quốc phòng - an ninh, mà trọng điểm là quân đội và công an đang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thực hiện mưu đồ trên.

Những thông tin và luận điệu xuyên tạc liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh mà các thế lục thù địch tung ra hoàn toàn là những thông tin vu khống, bịa đặt, không đúng sự thật về tình hình quốc phòng - an ninh của đất nước. Đó là những thông tin không có căn cứ khoa học, thực tiễn, hoặc là những thông tin, luận điệu dựa trên những sự kiện quốc phòng - an ninh có thật, đã và đang diễn ra nhưng được lập luận theo lối xảo trá, “đánh lận con đen”, thêu dệt, thổi phồng một cách vụng về, nhằm xuyên tạc bản chất, hướng người nghe, người đọc đến những suy diễn tiêu cực, kích động người tiếp nhận thông tin tiến hành các hoạt động biểu tình, chống phá gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội.

Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng không khó nhận diện. Chủ yếu vẫn là: đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an, quy kết rằng: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh để chống lại một nước thứ ba, khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam, nhất là chuyến thăm tới các nước lớn; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển. Thậm chí, chúng còn dàn dựng những tình huống va chạm với cảnh sát giao thông để quay phim, chụp ảnh rồi tuyên truyền xuyên tạc bản chất sự việc. Chúng đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lý của quân và dân ta, của dư luận xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an; đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích quốc phòng - an ninh; đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phủ định vai trò của quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, v.v.

Không khó để nhận thấy lực lượng tiến hành các hoạt động thông tin và đưa ra những luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh gồm cả những đối tượng phản động trong nước và ngoài nước, những kẻ cơ hội chính trị, thành phần bất mãn với chế độ, những kẻ ham lợi ích vật chất, bị thế lực thù địch móc nối, mua chuộc, dụ dỗ. Bên cạnh đó, cũng có một số người do kém hiểu biết, bị thiếu thông tin chính thống hoặc người có hiểu biết nhưng bàng quan và thiếu ý thức chính trị đã có những hành động, phát ngôn không đúng, vô tình tiếp tay tuyên truyền cho các thế lực thù địch, phản động.

Để thực hiện các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, ngoài việc sử dụng các phương tiện truyền thống, hiện nay chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét với các trang mạng của một số đài nước ngoài phát tiếng Việt, đặc biệt là Facebook và Blog (với khả năng siêu kết nối, Facebook đang là lựa chọn số một cho hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của chúng). Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền những thông tin, luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ (thanh niên, học sinh, sinh viên) nhằm tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước ta.

Các hoạt động thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh được tiến hành ở mọi thời điểm, nhưng cường độ cao và quyết liệt nhất vẫn là vào các ngày lễ lớn của dân tộc, khi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng - an ninh, hoặc khi tình hình an ninh, chính trị - xã hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm.

Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng - an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào Quân đội, Công an, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Cùng với các hoạt động khác, mục tiêu cuối cùng của chúng là phủ định sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Quân đội và Công an, vô hiệu hóa Quân đội, Công an khi đất nước có biến động.

LHS


Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

 

HÀNH ĐỘNG KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN CỦA ĐẶNG HỮU NAM

Mới đây, trên facebook cá nhân, Đặng Hữu Nam chia sẻ lại bài viết trên trang Dân làm báo để xúc phạm về Chủ tịch Hồ Chí Minh với những lời lẽ, hình ảnh chế nhạo về Người. Lật lại vấn đề lịch sử, trong đó có cuộc cách mạng ruộng đất, bài viết này bôi nhọ uy tín, danh dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Đây không phải lần đầu tiên anh linh mục này làm điều này. Nếu theo dõi tài khoản của Đặng Hữu Nam, chúng ta dễ dàng thấy chân dung một kẻ khoác áo linh mục nhưng luôn bày trò đê hèn, thô thiển để chống phá Đảng, Nhà nước ta, hạ thấp vai trò lãnh tụ, chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo…

Đáng buồn ở chỗ, Đặng Hữu Nam tìm mọi cách bôi nhọ Bác Hồ nhưng chính Người lại luôn đề cao tư tưởng tự do tôn giáo, luôn cố gắng kết nối người theo đạo và không theo đạo.

Do linh mục Đặng Hữu Nam không được học hành đến nơi đến chốn nên “mắt thì mù, óc thì ngu”. Nếu có thời gian tìm hiểu về Bác, tôi tin chắc Đặng Hữu Nam sẽ ân hận về hành động của mình.

LMH

 

 

 

GẦN TUYỆT CHỦNG MÀ KHÔNG AI CỨU

Khi nhắc tới những động vật sống thiếu nước thì chúng ta nghĩ ngay tới lạc đà. Nhưng thực ra, trên thế giới này cũng có nhiều loại động vật sống thiếu nước khác như thằn lằn quỷ gai, chuột nhảy, linh dương Gazelle… Nhưng kẻ vô địch khi vẫn sống nhăn răng khi thiếu nước là loài ba que xỏ lá. Gần cả nửa thế kỷ không cần nước mà vẫn sống thậm chí sống ăn hại.

Nhưng dù có biệt tài sống thiếu nước thì loài ba que xỏ lá này vẫn không cưỡng lại quy luật của thời gian. Khi số lượng ba que trong những năm vừa qua già yếu, sụt giảm về số lượng loài một cách nhanh chóng. Điều kỳ lạ là dù sụt giảm số lượng loài nhanh chóng như vậy, giống loài có thể đứng bên bờ tuyệt chủng nhưng không thấy ai đề cập cho loài này vào sách đỏ cần bảo tồn. Chứng tỏ loài này ăn hại, càng đi nhanh càng tốt.

LMH

 

Bài 1

LÀM GƯƠNG VÀ NÊU GƯƠNG ĐỂ PHÁT HUY

PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

Làm gương và nêu gương là một thuộc tính của người cộng sản, phản ánh bản chất của các Đảng cộng sản. Đó vừa là trách nhiệm, vừa là yêu cầu đối với chiến sĩ cách mạng để Đảng Cộng sản luôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng có vai trò, trách nhiệm to lớn trước vận mệnh của đất nước, của dân tộc, trong đó, từng cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm cá nhân trước Đảng, trước nhân dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội được Đảng, Quân đội giáo dục, rèn luyện, thử thách qua thực tiễn hoạt động quân sự, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và phẩm chất, chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ”. Do đó để phát huy cao hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới thì mỗi cán bộ đảng viên trong LLVT nói chunh và Quân đội nói riêng cần phải tích cực trong việc làm gương và nêu gương về cả lời nói và hành động.

LMH 

 

Không có cái gọi là “quyền con người là phi giai cấp” trên thế giới

Hiện nay, có một số nhà khoa học nhân danh “tự do học thuật” đã lớn tiếng rêu rao luận điểm “quyền con người là phi giai cấp” làm cho không ít người mơ hồ về vấn đề này. Thực chất, những người đưa ra luận điểm này cố tình đánh tráo khái niệm, đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xa rời bản chất giai cấp công nhân; phá vỡ sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu khoa học. Ý đồ sâu xa hơn, các “học giả” đưa ra luận điểm “quyền con người là phi giai cấp” nhằm phủ nhận quan điểm của Đảng ta về quyền con người.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, bản chất quyền con người và thực hiện quyền con người luôn mang tính giai cấp sâu sắc. Bởi lẽ, con người sinh ra vốn đã có đặc quyền, đó là quyền tự nhiên.

Các quyền này tồn tại dưới dạng những nhu cầu, do chính phẩm giá con người quy định. Nhưng để trở thành quyền, những nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Song, pháp luật luôn gắn liền với nhà nước, luôn bị chi phối bởi các thể chế chính trị cụ thể. Cho nên, nội dung của pháp luật luôn nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội. Khi pháp luật thừa nhận quyền của giai cấp thống trị cũng đồng thời hạn chế quyền của giai cấp đối lập, không thể có quyền trừu tượng siêu giai cấp, quyền con người phi giai cấp chỉ là ảo tưởng.

Bên cạnh đó, sự tồn tại của giai cấp thống trị luôn gắn liền với sự tồn tại của xã hội. Nhằm bảo vệ địa vị thống trị và do kết quả đấu tranh giai cấp nên bất kỳ giai cấp thống trị nào cũng đều buộc phải thừa nhận những mức độ nhất định về quyền của các giai cấp khác. Sự phát triển của lịch sử nhân loại luôn khẳng định sự kế thừa và phát triển của các giai đoạn lịch sử về sau đối với giai đoạn trước, luôn vận động theo quy luật tiến tới những giá trị tiến bộ, văn minh, nhân đạo, nhân văn. Do vậy, tính giai cấp luôn gắn liền với tính nhân loại của quyền con người.

Trong phạm vi quốc gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở các chính sách bảo vệ hệ thống chính trị và chế độ xã hội hiện hữu, bảo vệ lợi ích giai cấp cầm quyền và các giai cấp, tầng lớp xã hội đã đấu tranh bảo vệ xã hội đó. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ.

Trong thế kỷ 20, tính giai cấp của quyền con người được biểu hiện bằng cuộc đấu tranh giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN). Hiện nay, cuộc đấu tranh này biểu hiện dưới hình thức thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và đấu tranh chống lại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của thế lực phản động đối với các nước đi theo con đường XHCN và độc lập dân tộc.

Trong xã hội Việt Nam, tính giai cấp của quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ cập của quyền con người. Điều đó đã được thể hiện rõ trong các văn kiện pháp lý quan trọng như: Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013, cùng với hơn 13.000 văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã dành hẳn chương II để hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 2013 là dấu mốc quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, vì Hiến pháp đề cập toàn diện các quyền con người và cách thức tổ chức, bộ máy bảo đảm và bảo vệ quyền con người

Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của hầu hết điều ước quốc tế chủ yếu về quyền con người, trong đó có hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966. Theo quy định của Luật Nhân quyền quốc tế, khi điều ước quốc tế có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên thì quốc gia phải tận tâm thực hiện điều ước, theo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện điều ước quốc tế

Như vậy, ở Việt Nam, quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không có sự phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới tính. Điều 16 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Thực chất bảo đảm quyền con người ở Việt Nam nằm trong mục tiêu xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định nhất quán phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cốt lõi của việc thực hiện và bảo đảm quyền con người là trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước luôn "lấy dân làm gốc”.

Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng trong xã hội”

Như vậy có thể khẳng định rằng, quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là giá trị chung của các dân tộc. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, quyền con người là một phạm trù lịch sử và biến đổi trong lịch sử; là kết tinh của xã hội loài người trên 5 phương diện: Tái sản xuất vật chất, tinh thần, con người, nhu cầu và ý thức.

Suy cho cùng, quyền con người gồm các quyền sống, quyền lao động và quyền tự do. Các quyền này thể hiện 3 phương diện cơ bản nhất của đời sống xã hội của con người: Con người trước hết phải được tồn tại (quyền sống); con người phải được hoạt động (quyền lao động) và con người phải được khẳng định, được phát triển (quyền tự do). Quyền con người gắn với nhà nước và pháp luật, giành lấy quyền con người là mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN.

Ngày nay, quyền con người được xem là thước đo sự tiến bộ và trình độ văn minh của các xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa. Đồng thời, quyền con người chứa đựng những giá trị chung toàn nhân loại, nhưng chỉ trong điều kiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; các quyền sống, quyền lao động, quyền mưu cầu hạnh phúc mới bảo đảm cho mỗi người và cho mọi dân tộc.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định bảo đảm quyền con người thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN ở nước ta, là trách nhiệm của hệ thống chính trị. Bảo đảm quyền con người của nhân dân Việt Nam, đồng thời tôn trọng quyền con người của các dân tộc khác nhằm thúc đẩy hòa bình, phát triển ở mỗi quốc gia và trên thế giới thông qua đối thoại, hợp tác quốc tế./.

LHS