CÓ PHẢI ĐỂ BẢO VỆ CHỦ
QUYỀN VÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC THÌ PHẢI LIÊN MINH QUÂN SỰ VỚI MỘT CƯỜNG
QUỐC?
Nhân Trần
Chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng
và tối cao không thể phó thác hoàn toàn cho bên ngoài, dù đó là một đồng minh cường
quốc. Chúng ta không phủ nhận vai trò, tác dụng tích cực của liên minh trong
bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, trong lịch sử
cách mạng Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ liên minh quân sự với cường quốc nào.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Việt Nam nhận
được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các
nước bạn bè, nhưng chúng ta không tham gia khối liên minh quân sự nào của Liên
Xô và Đông Âu. Chúng ta tham gia thành lập khối liên minh Việt Nam - Lào -
Campuchia (13/3/1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương
trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và tay
sai, giành độc lập hoàn toàn, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được
tự do, hạnh phúc và tiến bộ. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa
trong vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc
đó. Xuyên suốt lịch sử quân sự Việt Nam, cho đến nay, không có quan điểm lý
luận liên minh quân sự để chống lại nước khác, hoặc như là một giải pháp để bảo
vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong điều kiện hai cuộc kháng
chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, Việt Nam vẫn nêu cao tinh
thần độc lập, tự chủ không tham gia liên minh quân sự với cường quốc. Trong
điều kiện hòa bình hiện nay, khi mà xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc
trên thế giới ngày càng chủ đạo thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và
lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Cốt vật chất để gắn kết các liên
minh chính là lợi ích chung và phần lợi ích của mỗi bên thành viên trong liên
minh nhận được. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của
những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự
sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay.
Muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân
tộc thì phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ vào
liên minh. Trên thế giới có ba kiểu liên minh phổ biến là: (1) Nước lớn liên
minh với nước lớn; (2) Nước lớn liên minh với nước nhỏ hoặc nước nhỏ liên minh
với nước lớn; (3) Nước nhỏ liên minh với nước nhỏ. Việc một nước nhỏ muốn liên
minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) nhằm mục đích bảo vệ được chủ quyền
và lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, vậy lợi ích của cường quốc sẽ là gì
trong sự liên minh này? Xưa nay không ai cho không ai bao giờ; cái gì cũng có
giá của nó. Cái giá ở đây là nước nhỏ có thể tránh được nguy cơ mất chủ quyền
và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mình trước một mối đe dọa nào đó từ
bên ngoài, nhưng trước khi có thể tránh được những nguy cơ đó, thì cái giá phải
trả hiện hữu và có thật, đó là: nước nhỏ phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về
chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc mình với cường quốc liên minh. Đó là
vốn liếng, tài sản “thế chấp” để nhận được những “cam kết” bảo vệ an ninh từ
đồng minh. Đó cũng là “luật chơi” không thể khác trong quan hệ quốc tế hiện
nay. Ở đây nước nhỏ đã đem lợi ích thực tế để đánh đổi lấy khả năng bảo vệ an ninh.
Một khả năng mà khi muốn hiện thực hóa nó bao giờ cũng gắn với những điều kiện
“đính kèm” cần và đủ từ phía các đồng minh nước lớn. Nói như vậy không có nghĩa
là hoài nghi, nghi kị đồng minh, mà muốn nói tới một thực tế, một khía cạnh của
luật chơi trong quan hệ quốc tế hiện nay. Thực tế lịch sử thế giới từ
trước tới nay, nhất là gần đây cho thấy không phải cứ có liên minh với một
cường quốc quân sự là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân
tộc của các nước trong liên minh, nhất là các nước nhỏ. Các cường quốc luôn xử
lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và triết lý ưu tiên lợi ích “trước
hết”, “trên hết”, “cốt lõi” của họ. Trong thực tế, không ít đồng minh của các
cường quốc đã bị “lạnh nhạt”, “làm ngơ” đến “bỏ rơi”, thậm chí “phản bội” đồng
minh để bắt tay với đối thủ của cường quốc đồng minh. Gần đây, trường hợp của
Philíppin, một đồng minh thân cận của Mỹ, khi bị một cường quốc khác đe dọa,
xâm phạm chủ quyền trên bãi cạn Scaborough (Hoàng Nham, năm 2012), nhưng siêu
cường Mỹ cũng không làm gì trước sự cầu cứu của đồng minh nước nhỏ. Bởi tại
Điều khoản số 5 của Hiệp ước an ninh Mỹ - Philíppin (năm1951) chỉ xem các cuộc
tấn công vũ trang trên lãnh thổ thuộc quyền tài phán của cả hai ở khu vực Thái
Bình Dương là mối đe dọa chung đối với an ninh của cả hai và Mỹ có trách nhiệm
phải bảo vệ. Mỹ sẽ không có trách nhiệm phải bảo vệ Philíppin khi bãi cạn
Scarborough bị tấn công. Mặt khác, Mỹ cũng không muốn phải vướng vào một cuộc
chiến không đáng có ở Biển Đông. Điều này cũng đúng với thực tế lịch sử, trên
thế giới chưa bao giờ một nước nào đó lại hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì
lợi ích của một dân tộc khác. Từ đó, có thể rút ra một hệ luận: trong mọi điều
kiện, hoàn cảnh, kể cả thời bình lẫn thời chiến, phải luôn nêu cao tính độc lập,
tự chủ, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài. Quan điểm
xuyên suốt của Việt Nam là phải tự lực, từ cường, “đem sức ta mà giải phóng cho
ta”, dựa vào sức mình là chính, trên cơ sở thực lực sức mạnh của quốc gia - dân
tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp
đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn
dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam không nghiêng hẳn về một bên
nào; không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để
bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình.
Không phải vì sức mạnh quốc phòng của ta “quá yếu” và
“lạc hậu” nên phải liên minh quân sự với nước ngoài. Nếu cho rằng chỉ vì
ta yếu và lạc hậu mới cần đến liên minh vậy khi ta mạnh và hiện đại có cần liên
minh không? Vì thực tế cho thấy, có những trường hợp nước lớn vẫn chủ động liên
minh với nước nhỏ và cũng có trường hợp nước nhỏ khước từ liên minh với nước
lớn. Vậy phải lý giải thế nào cho thỏa đáng vấn đề này? Như chúng ta đã biết,
mấu chốt của liên minh quân sự không hoàn toàn bắt nguồn từ sức mạnh quân sự
yếu hay mạnh mà từ lợi ích và quan điểm của mỗi bên tham gia liên minh. Hơn
nữa, cho rằng sức mạnh quân sự của ta yếu và lạc hậu là không hoàn toàn đúng với
thực tế. Theo bảng xếp hạng chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web
Global Firepower (Hỏa lực toàn cầu - GFP), dựa vào 55 chỉ số (ngoại trừ vũ khí
hạt nhân), chủ yếu là dân số, diện tích, số lượng vũ khí, ngân sách quốc phòng,
nguồn nhân lực, giao thông, việc tiếp cận các tài sản chiến lược, nguồn nhiên
liệu, và điều kiện kinh tế hiện tại, thì trong 5 năm gần đây, Việt Nam luôn ở
trong tốp 25 nước có sức mạnh quân sự lớn nhất trên thế giới. Cụ thể là,
năm 2016, Việt Nam xếp ở vị trí số 17/126 nước; năm 2017, ở trí số 16/127 nước;
năm 2018, ở vị trí số 20/133 nước; năm 2019, ở vị trí số 23/137 nước; năm 2020,
ở vị trí thứ 22/137 nước. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng
cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc,
bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường
hòa bình, trở thành điểm thu hút đầu tư và du lịch hấp dẫn của thế giới. Về xây
dựng Quân đội, chúng ta đã và đang thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng
Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh
chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân
đội tinh, gọn mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội
nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu
cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Mặt khác, sức
mạnh quân sự của một quốc gia bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ với sức mạnh
tổng hợp của quốc gia đó, không thể tách rời được. Sau 35 năm thực hiện công
cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử,
phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới, sức mạnh tổng hợp
của quốc gia - dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của
truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại bắt nguồn từ sức mạnh của con người Việt Nam
không ngừng được nâng cao, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao
mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững và tăng cường, ngày càng phát huy
tính ưu việt, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, vai trò lãnh
đạo, cầm quyền của Đảng được giữ vững. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Nhờ đó, tạo ra vận hội mới, tạo nên bệ
phóng vững chắc để đưa nước ta vươn lên những đỉnh cao mới trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, trên bình diện sức mạnh quân sự, cũng như trên
bình diện sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh của Việt Nam không phải là
“quá yếu” và “lạc hậu” như những kẻ ác ý, hay yếu bóng vía rêu rao. Chúng ta
hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định và tin tưởng vào sức mạnh của đất nước và
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đủ để bảo vệ vững chắc Tổ quốc
trong mọi tình huống, mà không nhất thiết phải liên minh quân sự với nước
ngoài.
Thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc
lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc những năm qua chính là thành công
của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường và thực hiện
thắng lợi đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Lịch sử chiến tranh của
Việt Nam đã khẳng định, chính việc phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường
mới là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để
bảo vệ Tổ quốc. Thực tế trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm
lược và tay sai trong thế kỷ XX đã khẳng định nhân dân ta giành được thắng lợi
to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với
sự lãnh đạo sáng suốt, trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh
vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Ngày nay, việc xây dựng nền
quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với mở rộng và
tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo đảm vững chắc cho bảo
vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh
thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền
kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định. Chủ động hợp tác về quốc
phòng, an ninh là tạo điều kiện củng cố và phát triển quốc phòng, an ninh, để
hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Tính đến nay,
Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia
và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc
gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Quan hệ
quốc phòng của Việt Nam với các nước ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả hơn.
Quan hệ hợp tác quốc phòng được nhiều nước đối tác coi là một trong những trụ
cột quan trọng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Bên cạnh việc coi trọng quan
hệ hợp tác về an ninh và quốc phòng với các nước láng giềng (Lào, Campuchia,
Thái Lan, Philippin, Xinhgapo...), Việt Nam cũng mở rộng quan hệ hợp tác quốc
phòng với các nước, các khối nước, như Nhật Bản, Ôxtrâylia, Ixraen, Cuba, Ấn
Độ, EU... đặc biệt chú trọng tới quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước lớn,
có ảnh hưởng chi phối trong khu vực và trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Mỹ.
Như vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự là
đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi
hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại
của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa. Thực hiện chủ trương này là cơ sở
để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét