Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

 Chiêu trò xúi giục phá hoại

          So với những lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước đây thì mức độ chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội.

Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu.

Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do. 

Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định. 

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri. 

Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước. 

Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường... 

Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.

     Công Bằng

 

Không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm

Những ngày gần đây, trước tình hình rối loạn ở Myanmar, một số phần tử tự xưng là “nhà dân chủ” trên mạng xã hội đã tung ra nhiều thông tin lôi kéo, kích động, nhắm vào giới trẻ Việt Nam. Họ ca tụng những người trẻ tuổi xuống đường biểu tình ở Myanmar với danh xưng mỹ miều như những “anh hùng trẻ tuổi”... Tuy nhiên luận điệu tung hứng đó không lôi kéo được những người Việt Nam có nhận thức đúng đắn.

Cảm thấy việc lôi kéo đó không mấy hiệu quả, họ thay đổi “chiến thuật”, quay sang cà khịa bằng những lời lẽ châm chọc, kích động, chen ngang vào các dòng trạng thái tích cực của người dùng mạng xã hội Việt Nam với nhiều bình luận, như: Người trẻ Việt Nam thiếu trách nhiệm, thờ ơ với thế sự, đang tự bằng lòng với chính mình mà bỏ mặc những biến động của tình hình thế giới...

Trước sự "cà khịa" đó, một số người đã "sập bẫy khiêu khích" của các thế lực thù địch, sa vào tranh luận gay gắt, thậm chí sử dụng những lời lẽ có phần khiếm nhã. Chỉ chờ có thế, họ lu loa rằng, chúng ta không đủ lý lẽ biện luận, phản ứng tiêu cực, tranh luận thiếu văn hóa. Thậm chí họ còn giở trò "rạch mặt ăn vạ" quy kết người dùng mạng xã hội ở Việt Nam công kích, tấn công, trù dập tập thể...

Do đó, mỗi người Việt Nam yêu nước, yêu chuộng hòa bình bên cạnh một "trái tim nóng" cần phải giữ "cái đầu lạnh", tỉnh táo trước thủ đoạn của các phần tử cơ hội, chuyên đi tìm cớ nhằm xuyên tạc, kích động người khác. Khi đấu tranh với những kẻ đội lốt dân chủ phải luôn tỉnh táo, kiên quyết, sắc bén, đúng mực. Tuyệt đối không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm.

     Công Bằng

 

Đừng tin... bánh vẽ!

Ngày nghỉ cuối tuần, tôi đón xe khách về quê. Trong suốt hành trình, có nhóm thanh niên tỏ ra quan tâm đến đời sống chính trị, xã hội. Họ bàn luận sôi nổi từ chuyện phòng, chống dịch Covid-19 đến chuyện bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp... Họ cũng bày tỏ lạc quan vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước...

Thế nhưng, có một thanh niên lại cố gắng "lái" những người bạn theo ý đồ của mình... Anh ta say sưa kể về những ngày đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cách đây mấy năm; chê bai cuộc sống ở nước ta chậm phát triển và "còn nhiều vấn đề phải bàn"... Bằng chứng là, khi ở nước ngoài, anh ta được đi tàu điện ngầm, được ăn nhiều món ngon, vật lạ, được tiêu tiền “đô”... Sau một hồi say sưa, có lẽ thấy kể bằng cảm nhận của cá nhân chưa đủ thuyết phục, người này chưng ra trang mạng xã hội của một số “bạn bè mạng” với nhiều hình ảnh ăn sung, mặc sướng. Liếc qua có thể thấy, hầu hết là trang của một số đối tượng phản động lưu vong. Có cả những KOL (Key opinion leader-người định hướng dư luận) mang quan điểm lạc lõng, đi ngược lại với lợi ích của đất nước.

Do thấy ồn ào trên xe và có lẽ bởi câu chuyện không mấy dễ nghe của anh chàng nọ, bác phụ xe bước xuống, nói: “Tôi xin hỏi, chú sinh ra ở đâu, lớn lên bằng cái gì? Chú chê đất nước còn nghèo, còn lạc hậu thì đem sức dài vai rộng ra cống hiến cho đất nước đi! Nhiều quốc gia mà chú đang ca tụng, người dân phải khổ cực vì bạo loạn, vì chiến tranh, khủng bố, vì đại dịch Covid-19 và họ đang mơ ước được sống yên bình như ở Việt Nam đấy. Đừng tin vào "bánh vẽ" trên mạng xã hội các chú ạ!”...

Nghe những lời có vẻ gay gắt nhưng thẳng thắn, chân tình của bác phụ xe, anh chàng muốn làm “KOL” để “khoe mẽ” liền im bặt, giấu vội điện thoại vào túi...

     Công Bằng

 Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại.

 Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông.

Một lối suy diễn quy chụp, vô lương

Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... 

Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

Cơ sở khoa học để từng bước hiện thực hóa khát vọng chính đáng, nhân văn

Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại.

Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN.

Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để nằm trong nhóm các nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam phải ở mức 4.046-12.535USD/người/năm. Khi đó, quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam cần đạt từ 410 tỷ USD (mức cận dưới) đến 1.260 tỷ USD (mức cận trên). Nếu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2030 ở mức 6,7-6,8% (tương đương với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020) thì đến năm 2027 Việt Nam sẽ vào nhóm nước thu nhập trung bình cao.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước.

Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong cho rằng, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9-4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới.

Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”.

     Công Bằng

 

Niềm tin vào “khát vọng hùng cường”

 

“Khát vọng hùng cường” đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có mức thu nhập cao vào năm 2045 được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Đó cũng là niềm tin của toàn dân ta. Thế nhưng, lại có những người tỏ ra nghi ngờ về mục tiêu ấy. Thậm chí, họ còn cho rằng, đất nước đã thống nhất gần nửa thế kỷ mà Việt Nam mới phát triển thành nền kinh tế đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Như thế, “khát vọng hùng cường” vào năm 2045 là phi thực tế?!

Có thể khẳng định nghi ngờ ấy là thiếu cơ sở. “Khát vọng hùng cường” của Việt Nam được xây dựng bằng một nền tảng thực tiễn rất đáng tin cậy.

Cần nhớ lại rằng, sau 30-4-1975, nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ vì chiến tranh. Bom đạn đã tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất bị phá hủy, phá hỏng nghiêm trọng... Giao thương với thế giới bị thu hẹp. Thế nhưng, từ khi Đại hội VI của Đảng đề ra quyết sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã nhanh chóng chuyển mình. Hơn 35 năm đổi mới, những thành tựu mà nước ta gặt hái trở thành một bài học nêu gương cho nhiều quốc gia trên thế giới. Giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm. Các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010; 7% năm 2015 và còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương với độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới...

Ai cũng biết, việc tăng tốc từ điểm xuất phát thấp bao giờ cũng tốn thời gian và sức lực hơn. Vì thế, tất yếu, để tịnh tiến đến các thành tựu, Việt Nam cần rất nhiều thời gian và nỗ lực. Gần đây, tốc độ “chín” của “quả ngọt” ngày càng tăng nhanh. Tính trong thời kỳ chiến lược 2011-2020, quy mô GDP Việt Nam tăng 2,4 lần, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN. Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã tạo ra một câu chuyện huyền thoại trong công cuộc giảm nghèo với chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 là 0,704, xếp thứ 117 trong tổng số 189 nước, nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Đặc biệt, mặc dù năm 2020 ghi nhận những suy giảm mạnh về tăng trưởng và hầu hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của tất cả các nước trên thế giới, song các đánh giá và dự báo về kinh tế Việt Nam đều rất tích cực, nằm trong số hiếm hoi các nước vẫn giữ được mức tăng trưởng GDP dương với con số 2,91%. Việt Nam được coi là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới, phục hồi kinh tế nhanh hình chữ V, với mức tăng trưởng dự báo từ hơn 6% tới 11,2% trong năm 2021.

Với cơ sở vững chắc, đà phát triển mạnh mẽ cùng quyết tâm cao độ của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và đại đa số quần chúng nhân dân, việc Việt Nam bứt tốc để gặt hái những thành tựu lớn hơn, đưa khát vọng hùng cường trở thành sự thật sẽ hoàn toàn đạt được.

                                                    Sự Thật

Người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp đều tin tưởng công đoàn

Điều hành một tổ hợp sản xuất công nghiệp lớn với 130.000 lao động, ông Choi Joo Ho, Tổng giám đốc Samsung Việt Nam, đánh giá rất cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi cho công nhân cũng như giữ một môi trường làm việc ổn định, hài hòa tại doanh nghiệp. “Tổ chức công đoàn đã tham gia phát triển các hoạt động phong trào nhằm nâng cao hiệu quả năng suất lao động đến chăm lo xây dựng phong phú đời sống tinh thần của người lao động trong và ngoài giờ làm việc. Sự ghi nhận và tin tưởng của chính người lao động cũng như ban lãnh đạo công ty đã thể hiện uy tín của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp. Công đoàn đã thực hiện rất tốt vai trò phối hợp và trực tiếp tham gia vào các hoạt động của công ty", ông Choi Joo Ho nói.

Ông cho hay, 100% các ý kiến, kiến nghị của công đoàn công ty đều được lãnh đạo Samsung Việt Nam tiếp nhận và giải quyết triệt để. “Các ý kiến của nhân viên cùng nội dung phản hồi từ bộ phận chuyên trách đều được dịch sang tiếng Hàn và báo cáo hằng ngày giúp ban lãnh đạo công ty có thể hiểu được chính xác tiếng nói và nguyện vọng của nhân viên. Ban lãnh đạo công ty cũng như ban chấp hành công đoàn cũng chủ động tìm hiểu các vấn đề cần giải quyết, nhằm giảm tối đa các ý kiến phát sinh”, ông Choi Joo Ho cho biết.

Cũng nhờ sự phối hợp, đề xuất của công đoàn mà khi tới các nhà máy trong Tổ hợp Samsung Việt Nam, có thể thấy những phúc lợi rất tốt cho công nhân như: Hệ thống xe buýt chất lượng cao làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, công nhân viên đi làm hằng ngày; ký túc xá dành cho nhân viên cung cấp khoảng 30.000 chỗ ở tiện nghi; mỗi nhà máy đều có trạm y tế đạt chuẩn khám bệnh, đồng thời xây dựng mô hình trung tâm khám sức khỏe liên kết với bệnh viện quốc tế thực hiện thăm khám và tư vấn sức khỏe định kỳ cho toàn thể nhân viên; xây dựng nhiều câu lạc bộ tại mỗi nhà máy, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn nghệ, thể thao, nghệ thuật cho toàn thể nhân viên. Với tỷ lệ nhân viên nữ chiếm hơn 70%, Samsung Việt Nam luôn chú trọng đưa ra những chính sách đặc biệt chăm sóc cho nhân viên nữ, nhất là đối tượng nhân viên nữ mang thai và nuôi con nhỏ... Đặc biệt, trong thời gian diễn ra dịch Covid-19, Samsung Việt Nam vẫn luôn bảo đảm để không một nhân viên nào bị mất việc làm và nghỉ không lương.

                                                    Sự Thật

 

Công đoàn và sứ mệnh đấu tranh cho tiến bộ

Có ý kiến cho rằng, hiện nay Công đoàn Việt Nam do bị lệ thuộc tài chính vào giới chủ doanh nghiệp nên luôn hạn chế tổ chức đình công và đấu tranh để đòi quyền lợi cho công nhân, lao động. Và theo họ, chỉ có tổ chức đình công thì mới bảo vệ được quyền lợi công nhân. Vậy sự thật vấn đề này là như thế nào?

 “Công đoàn đã làm hết sức mình để bảo vệ quyền lợi cho người lao động”

Đó là nhận định của ông Chang Hee Lee, Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (ILO Việt Nam) khi nói về Công đoàn Việt Nam (CĐVN). Thực tế cho thấy, CĐVN ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động và khẳng định vị thế trong đối thoại, thương lượng với chủ doanh nghiệp để mang lại quyền lợi cho người lao động, trên cơ sở những tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế. Điều này đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận.

 Giám đốc ILO Việt Nam cho rằng, trong 10-20 năm qua, CĐVN đã có nhiều đổi mới quan trọng, tập trung vào việc thực hiện chức năng cơ bản của mình. Đó là: Thứ nhất, công đoàn kết nạp đoàn viên theo phương thức mới, được gọi là phương thức kết nạp “từ dưới lên”. Khoảng 20 năm trước, có thể sẽ có việc liên đoàn lao động tỉnh, huyện đến gặp các doanh nghiệp và hỏi người sử dụng lao động xem có cho phép thành lập công đoàn không. Khi người sử dụng lao động đồng ý, liên đoàn lao động tỉnh, huyện sẽ để người sử dụng lao động tự thành lập và “quản lý” công đoàn. Nhưng hiện nay, theo phương thức kết nạp từ dưới lên, liên đoàn lao động tỉnh, huyện sẽ đến gặp và nói chuyện với người lao động trước tiên, điều này dẫn tới mối liên kết chặt chẽ giữa người lao động, công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên. Theo ông Chang Hee Lee, đây là một sự thay đổi rất quan trọng, bởi theo phương pháp kết nạp đoàn viên "từ trên xuống" (nghĩa là để người sử dụng lao động tự thành lập và "quản lý" công đoàn) thì công đoàn rất dễ bị chi phối bởi người sử dụng lao động. Còn với cách tiếp cận từ dưới lên, công đoàn nhiều khả năng trở thành tổ chức thực sự vì người lao động và do người lao động.

Thứ hai, nếu nhìn vào thỏa ước lao động tập thể khoảng 10-20 năm trước, đó chỉ đơn thuần là việc ký kết các thỏa thuận mà không có thảo luận thực chất giữa người lao động và người sử dụng lao động. “Nhưng giờ đây, chúng ta có thể thấy quá trình thương lượng thực chất giữa hai bên, dù chưa phải ở tất cả nhưng đã ở khá nhiều doanh nghiệp”, ông Chang Hee Lee nói.

Cũng theo ông Chang Hee Lee, trước kia, thỏa ước lao động tập thể chỉ được thỏa thuận ở cấp doanh nghiệp. Nhưng hiện nay, tại nhiều địa phương đã có thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp. Điều kiện lao động trong cùng một ngành và ở cùng một địa phương tương đối giống nhau, không có lý do gì chúng ta phải đàm phán tại từng doanh nghiệp, mất rất nhiều công sức. Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp là một bước tiến, một điểm đổi mới quan trọng của CĐVN. “Theo tôi, đây là sự phát triển đúng hướng. Nếu CĐVN  thực hiện nhanh hơn và một cách có hệ thống hơn theo hướng này, điều đó sẽ tốt hơn không chỉ cho người lao động Việt Nam, mà còn cho cả xã hội Việt Nam, bởi nó đóng góp cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội”, ông Chang Hee Lee nói.

Công đoàn không bị lệ thuộc vào doanh nghiệp

Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể. Bộ luật Lao động 2019 đã nội luật hóa các nội dung của công ước này. Công ước số 98 có 16 điều, gồm ba nội dung cơ bản: (i) bảo vệ người lao động và cán bộ công đoàn trước hành vi phân biệt đối xử chống công đoàn của người sử dụng lao động; (ii) bảo vệ tổ chức của người lao động không bị can thiệp, thao túng bởi người sử dụng lao động;  (iii) những biện pháp thúc đẩy thương lượng tập thể tự nguyện, thiện chí.   

Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021 đã quy định nhiều điều khoản chặt chẽ hơn để phòng, chống các hành vi không công bằng trong lao động (như can thiệp, phân biệt đối xử với cán bộ công đoàn...). Ngoài ra, Bộ luật không cho phép nhân sự quản lý cấp cao tham gia tổ chức công đoàn, vì như vậy, họ thuộc về phía chủ sử dụng lao động, nên nhiều lúc khó có thể lên tiếng vì người lao động.

Có ý kiến cho rằng, tại Việt Nam, công đoàn bị lệ thuộc về tài chính vào chủ doanh nghiệp nên không thể đấu tranh cho công nhân và người lao động, vì “ăn cây nào, rào cây ấy”. Đây là ý kiến phiến diện, cố tình không hiểu bản chất của vấn đề. Theo Điều 26, Luật Công đoàn 2012, hiện nay, tài chính công đoàn bao gồm các nguồn thu là: 1-Đoàn phí công đoàn do đoàn viên công đoàn đóng theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; 2-Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; 3-Ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ; 4-Nguồn thu khác từ hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động kinh tế của công đoàn; từ đề án, dự án do Nhà nước giao; từ viện trợ, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Trong đó, khoản kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng (là nghĩa vụ đã được pháp luật quy định), sẽ nộp về một tài khoản chung của Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam, trở thành tài sản thuộc sở hữu của Tổng Liên đoàn. Đây là nghĩa vụ của từng doanh nghiệp đối với CĐVN nói chung, không phải là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với công đoàn cơ sở tại chính doanh nghiệp mình. Sau đó, Tổng Liên đoàn phân bổ lại cho các cấp công đoàn địa phương, ngành. Như vậy, rõ ràng công đoàn cơ sở không bị ràng buộc, bị lệ thuộc về khoản kinh phí do doanh nghiệp đóng. 

Mục tiêu là xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ

Những người cố tình muốn phủ nhận vai trò của CĐVN cho rằng, do công đoàn không tổ chức đình công nên không thể hiện được vai trò trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động.

Từ nhiều năm qua, Bộ luật Lao động đã quy định về quyền đình công của người lao động và quyền lãnh đạo, tổ chức đình công của tổ chức Công đoàn. Theo ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, đình công là vũ khí của tổ chức công đoàn, nhưng công đoàn chỉ sử dụng vũ khí này khi cần thiết. Đảng và Nhà nước ta (kể cả người sử dụng lao động và người lao động) mong muốn, theo đuổi mục tiêu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp. Quyền và lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước bảo đảm hài hòa, không thiên lệch mới thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững. "Khi có bất đồng, mâu thuẫn xảy ra giữa các bên, chúng tôi lấy đối thoại, thương lượng làm đầu. Chúng tôi bảo vệ quyền lợi người lao động thông qua thương lượng, đấu tranh bằng thương lượng. Điều này giữ được quan hệ tốt đẹp giữa các bên", ông Ngọ Duy Hiểu nói.

Cũng theo ông Ngọ Duy Hiểu, thực tế cho thấy hầu hết các cuộc đình công sẽ gây ra tổn thất cho doanh nghiệp, sâu xa cũng là gây tổn thất cho công nhân và cho xã hội. Do đó, hiện nay công đoàn các cấp chủ yếu sử dụng phương thức đối thoại, thương lượng với người sử dụng lao động và khởi kiện làm chính. Tất nhiên, khi không thể thương lượng, đối thoại được, công đoàn có thể lãnh đạo, tổ chức đình công theo quy định. Không đình công, không có nghĩa là không đấu tranh bảo vệ quyền lợi người lao động. "Cách bảo vệ thông minh là bảo vệ ít tốn kém, ít mất mát, hướng tới phát triển bền vững. Công đoàn nhiều nước trên thế giới nhiều năm liền không có một cuộc đình công, nhưng họ vẫn bảo vệ được quyền lợi của người lao động", ông Ngọ Duy Hiểu nhấn mạnh.

Ở nhiều địa phương, công đoàn các cấp đã thể hiện thái độ rất cứng rắn với chủ doanh nghiệp có dấu hiệu xâm phạm lợi ích của công nhân, người lao động nhưng không bằng đình công. Theo bà Nguyễn Thị Vân Hà, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bắc Ninh, có doanh nghiệp có 3.000 công nhân, 3 năm liên tiếp vừa qua có dấu hiệu cứ gần Tết là công nhân lại ngừng việc hàng loạt. Tìm hiểu kỹ, LĐLĐ tỉnh phát hiện ra đây là một chiêu trò của doanh nghiệp nhằm tạo cớ để thải loại bớt công nhân, nhất là công nhân có thâm niên, để không phải trả lương cao. Cụ thể, doanh nghiệp cố tình chi thưởng tiền Tết rất ít là 200.000 đồng/người, dẫn tới người lao động bức xúc ngừng việc tập thể, từ đó doanh nghiệp có cớ để đuổi việc một số công nhân. Nắm được nguyên nhân sâu xa nói trên, đích thân Chủ tịch LĐLĐ tỉnh đã vào đối thoại với doanh nghiệp và khẳng định nếu doanh nghiệp không đáp ứng tăng tiền thưởng Tết sẽ tổ chức cho công nhân đình công. Vì vậy, doanh nghiệp đã phải chấp thuận nâng tiền thưởng Tết cho công nhân gấp 10 lần, lên 2 triệu đồng/người. “Chúng tôi đấu tranh vì quyền lợi người lao động nhưng luôn có tinh thần phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp. Doanh nghiệp có phát triển thì công nhân mới có việc làm, thu nhập. Tuy nhiên, chúng tôi cũng rất cương quyết với những hành vi xâm phạm lợi ích công nhân, người lao động”, bà Nguyễn Thị Vân Hà nói.  

Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, ông Chang Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam cũng nhắc nhiều tới phương pháp thương lượng giữa công đoàn và người sử dụng lao động. Ông cho rằng, Nghị quyết số 27-NQ/TW năm 2018 về cải cách chính sách tiền lương, là một nghị quyết đặc biệt quan trọng đóng vai trò hướng dẫn các bên tham gia vào quan hệ lao động trong việc quyết định tiền lương và các điều kiện lao động khác. Có 3 điểm quan trọng trong nghị quyết này. Thứ nhất, nghị quyết ghi rõ Nhà nước không tham gia vào quá trình xác lập tiền lương ở cấp doanh nghiệp. Thứ hai, nghị quyết ghi nhận vai trò quan trọng của lương tối thiểu, nhưng đồng thời nêu rõ hạn chế của lương tối thiểu là chỉ để bảo vệ những người lao động dễ bị tổn thương nhất trên thị trường lao động. Không thể dùng lương tối thiểu để quyết định tiền lương thực tế của mọi người lao động. Thứ ba, nghị quyết khuyến khích công đoàn và người sử dụng lao động xác lập tiền lương thực tế thông qua thương lượng tập thể. “Nghị quyết 27 đưa ra hướng dẫn rõ ràng về phương thức xác lập, điều chỉnh tiền lương và hoàn toàn tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO”, ông Chang Hee Lee nói.

Để nâng cao năng lực thương lượng, đối thoại cho cán bộ công đoàn để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động, Tổng LĐLĐ Việt Nam đang rất quan tâm đào tạo về kiến thức pháp luật và kỹ năng thương lượng cho đội ngũ cán bộ làm công tác thương lượng tập thể, nhất là chủ tịch công đoàn cơ sở. Tổng Liên đoàn đã xây dựng quy trình và hướng dẫn công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ký kết 10 bản thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) nhóm doanh nghiệp với 106 doanh nghiệp tham gia, 53.572 lao động được hưởng lợi. Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy đối thoại, thương lương tại doanh nghiệp theo quy định mới của Bộ luật Lao động 2019 và là tiền đề cho các TƯLĐTT nhóm doanh nghiệp và TƯLĐTT ngành thực chất hơn trong thời gian tới.

Với truyền thống vẻ vang 92 năm hình thành và phát triển, CĐVN đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động. Được Hiến pháp quy định về vị trí, vai trò, sứ mệnh, với số lượng đoàn viên công đoàn hơn 10,5 triệu người và sẽ tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới, có thể nói, CĐVN là tổ chức hội tụ đủ những điều kiện, tư cách để đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho công nhân, viên chức, người lao động. Chắc chắn người lao động Việt Nam sẽ mãi mãi tin yêu, gắn bó và ra sức xây dựng CĐVN lớn mạnh. Mưu đồ lợi dụng danh nghĩa bảo vệ quyền lợi của người lao động để phủ nhận sạch trơn vai trò của CĐVN nhằm dọn đường cho những tổ chức bất hợp pháp ra đời ở Việt Nam chỉ là mưu đồ hão huyền của một số người và chắc chắn sẽ thất bại.

                                                    Sự Thật

 Mưu đồ xấu đằng sau những mỹ từ “tự do”, “độc lập”

Điều 10 Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Như thế có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của công đoàn trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong đó, nhiệm vụ “đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” được đặt lên hàng đầu đối với tổ chức công đoàn.

 Thế nhưng, trong thời gian qua, một số tổ chức nước ngoài, một số cá nhân có quan điểm chống đối Đảng, Nhà nước ta đã phủ nhận hoàn toàn vai trò và những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Công đoàn Việt Nam gần 92 năm qua. Đặc biệt, là sau khi Bộ luật Lao động 2019 được thông qua, không ít tổ chức từ nước ngoài đã tài trợ tiền bạc, tán phát nhiều thông tin xuyên tạc để thúc đẩy việc thành lập cái gọi là các "công đoàn độc lập", hay "nghiệp đoàn độc lập", "nghiệp đoàn tự do", dưới chiêu bài là để bảo vệ quyền lợi cho công nhân, người lao động. Có tổ chức phản động đã lên kế hoạch các bước để thành lập "nghiệp đoàn độc lập". Mới đây, một trang tin nước ngoài đưa bài viết của “nhà quan sát hiện sống tại Đức” tuyên bố rất sai trái rằng: “Nghiệp đoàn” tự thân nó là phi chính trị, là đồng hành với người lao động”. Nghiệp đoàn phải độc lập với đảng chính trị cầm quyền, phải độc lập với nhà nước thì mới bảo vệ được quyền lợi cho người lao động.    

“Nhà quan sát” này cố ý quên rằng, Công đoàn Việt Nam vẫn là pháp nhân đang tồn tại độc lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là một đoàn thể chính trị và là tổ chức đại diện người lao động. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công đoàn, vì Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại Điều 4 đã quy định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo công đoàn, nhưng không làm thay hay can thiệp công đoàn mà luôn tôn trọng công đoàn, tạo điều kiện để công đoàn hoàn thành sứ mệnh. Độc lập với Nhà nước nhưng Công đoàn Việt Nam phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, phối hợp với Nhà nước để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động với tư cách là một bên trong quan hệ lao động ba bên (Nhà nước, giới sử dụng lao động, đại diện người lao động). Chính phủ cũng không làm thay hay can thiệp công đoàn, mà chỉ phối hợp để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn. Phải chăng “nhà quan sát” có dụng ý đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập” nhằm hình thành một lực lượng chính trị đối lập nhân danh dân chủ, nhân quyền và vì quyền lợi người lao động để không tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, chống phá cách mạng Việt Nam?

Có thể thấy rằng, mưu đồ muốn thành lập “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” nói trên, đặt chúng ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chống lại cách mạng Việt Nam là hết sức nguy hiểm. Không một quốc gia nào chấp nhận một tổ chức hoạt động trên lãnh thổ nước mình mà lại không tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó!

Không có chuyện công đoàn né đấu tranh

Ý kiến cho rằng, công đoàn hiện nay "không còn đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động" là hết sức xằng bậy.

Việc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của công nhân và người lao động được tổ chức công đoàn các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục, từ việc đấu tranh trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, đến tham gia và có tiếng nói mạnh mẽ ở Hội đồng tiền lương quốc gia cho tới những sự vụ thương lượng, đối thoại đấu tranh trực tiếp với người sử dụng lao động để đòi quyền lợi cho người lao động tại từng doanh nghiệp.

Chúng tôi đã có mặt tại TP Bắc Ninh ngày 22-4-2021 để chứng kiến lễ ký kết Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc. Tham gia lễ ký có nhóm 7 doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc (ban đầu có 13 doanh nghiệp tham gia) đang hoạt động tại tỉnh Bắc Ninh, trong đó có các doanh nghiệp thuộc tổ hợp Samsung Việt Nam. Thỏa ước lao động tập thể này được ký kết sau thời gian dài thương lượng với nhiều phiên họp hết sức gay cấn, mang lại lợi ích cho khoảng 80.000 công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp nói trên. Thỏa ước lao động tập thể này có 19 điều, trong đó quy định cụ thể từ lương thử việc, các chế độ phúc lợi với người lao động, các hình thức trợ cấp, hỗ trợ người lao động với mức hơn hẳn so với các quy định cũ. Theo bà Nguyễn Thị Vân Hà, Chủ tịch Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Bắc Ninh, để ký được Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp này, LĐLĐ tỉnh đã phải kiên trì tiếp xúc, thương lượng, thuyết phục lãnh đạo các doanh nghiệp trong hơn một năm trời. “Đơn giản nhất như, để thuyết phục được 7 doanh nghiệp nói trên hỗ trợ tiền ăn ca chính lên tối thiểu 20.000 đồng/người là không hề dễ dàng, mặc dù phần lớn các doanh nghiệp đã hỗ trợ tiền ăn ca chính là 18.000 đồng/người. Bởi chi thêm 2000 đồng/người/bữa ăn cho hàng vạn lao động thì số tiền sẽ bị tăng lên rất lớn”, bà Nguyễn Thị Vân Hà chia sẻ.

Ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, Tổng LĐLĐ Việt Nam rất khuyến khích LĐLĐ các tỉnh, thành phố ký kết với các doanh nghiệp các thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) nhóm doanh nghiệp như trên. Vì điều này sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho cả người lao động và doanh nghiệp như: Tạo mặt sàn cơ bản về lợi ích nhưng xu hướng chung là người lao động được hưởng các chế độ phúc lợi theo quy định của doanh nghiệp tốt nhất trong nhóm. Doanh nghiệp sẽ tránh được nguy cơ dịch chuyển lao động, ổn định được sản xuất.

Trong giai đoạn 2018-2020 của nhiệm kỳ Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, các cấp công đoàn đã ký mới được 6.113 bản TƯLĐTT doanh nghiệp, gấp 4,6 lần so với cả nhiệm kỳ Đại hội XI, nâng tổng số TƯLĐTT đã ký kết lên 34.989 bản. Nội dung của các bản thỏa ước tập trung vào những cam kết thiết thực, có lợi hơn cho người lao động như vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, bảo đảm việc làm, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, thực hiện chính sách bình đẳng giới... 

Cùng với đó, theo Tổng LĐLĐ Việt Nam, trong giai đoạn 2018-2020, các cấp công đoàn đã chủ động, tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn. Tổng Liên đoàn đã có hơn 300 văn bản tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật về quyền lợi của người lao động.

Nếu công đoàn không đấu tranh cho người lao động thì làm sao có Bộ luật Lao động 2019 với nhiều điểm rất có lợi cho người lao động, mà để đạt được điều đó đại diện công đoàn đã nhiều lần phát biểu rất mạnh mẽ, thấu tình, đạt lý để góp ý cho dự thảo Bộ luật. Theo đó, trong Bộ luật Lao động 2019, khung giờ làm thêm được giữ nguyên như quy định hiện hành là 300 giờ/năm, để bảo đảm sức khỏe và đời sống của người lao động, mặc dù trước đó ý kiến của các doanh nghiệp muốn tăng giờ làm thêm lên tối đa tới 400 giờ/năm, thậm chí có hiệp hội đề nghị tăng lên 600 giờ/năm. Đồng thời, cũng trong bộ luật này, người lao động sẽ có thêm một ngày nghỉ lễ nữa trong dịp Quốc khách 2-9 hằng năm. Cuộc đấu tranh của công đoàn nhằm giảm giờ làm chính thức cho người lao động tuy chưa được chính thức hóa thành quy định của bộ luật nhưng với kiến nghị quyết liệt, mạnh mẽ từ phía Tổng Liên đoàn, Quốc hội đã đưa vào Nghị quyết kỳ họp, yêu cầu “Căn cứ tình hình phát triển kinh tế-xã hội, nghiên cứu đề xuất giảm giờ làm việc bình thường đối với người lao động thấp hơn 48 giờ/tuần và báo cáo Quốc hội vào thời điểm thích hợp”.

Nếu công đoàn không đấu tranh, bảo vệ quyền lợi cho người lao động thì liệu lương tối thiểu vùng có được tăng đều đặn các năm, để trong giai đoạn 2015-2020 đã tăng 51,4%? Trong các phiên họp của Hội đồng tiền lương quốc gia, các thành viên từ Công đoàn Việt Nam đã rất quyết liệt, kiên trì, đưa ra nhiều lập luận mang tính thuyết phục cao, đôi khi là những tranh luận gay gắt với giới sử dụng lao động, khi mà nhiều thành viên khăng khăng với việc không tăng lương, để rồi sau đó hằng năm lương tối thiểu đều tăng từ 5,3% đến 14%, góp phần cải thiện đời sống công đoàn viên, người lao động, thu hẹp khoảng cách giữa tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu.

                                                    Sự Thật

 Chính là âm mưu phá hoại

Tháng Tư lịch sử, khi cả dân tộc Việt Nam hân hoan chào mừng kỷ niệm ngày thống nhất non sông thì những kẻ có tư tưởng thù địch lại giở luận điệu lèo lái dư luận, bóp méo lịch sử nhằm kích động thù hận, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; một số người còn kêu gọi: “Việt Nam không nên kỷ niệm 30-4 nếu muốn hòa hợp dân tộc”(!).

Song, tất cả những lời lẽ phản động và rất bông phèng đó chẳng có nghĩa gì trước một chân lý mà mỗi người Việt Nam yêu nước đều nằm lòng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Điều đó không chỉ được minh chứng bằng lịch sử chung tay dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc mà còn là ý chí quyết tâm từ Bắc vào Nam xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hùng cường.

Lịch sử đã chứng minh, sau khi không thực hiện được dã tâm xâm lược, biến cả nước Việt Nam thành thuộc địa, từ giữa thế kỷ 20, thực dân, đế quốc đã chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam-Bắc và thành lập bộ máy tay sai tại miền Nam để dễ bề cai trị. Song trước ý chí quật cường không để đất nước bị chia cắt của toàn dân tộc Việt Nam, âm mưu của chúng bị phá sản. Dấu mốc lớn nhất là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30-4-1975, đập tan ngụy quân, ngụy quyền tay sai và âm mưu của quân xâm lược, non sông Việt Nam thu về một mối. Từ đó, cả nước Việt Nam ta đã coi ngày 30-4 là Ngày chiến thắng, ngày hội thống nhất non sông. Nhân dân Việt Nam không kể người Kinh hay người dân tộc thiểu số, miền núi hay miền biển, trong Nam hay ngoài Bắc đều phấn khởi, đoàn kết, chung sức khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, chung tay dựng xây đất nước, Việt Nam đã và đang có sự phát triển về mọi mặt; "đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay". Các nước trên thế giới cũng hướng về đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, hữu nghị với sự nể phục và yêu mến. Việt Nam với tinh thần nhân văn cao cả, sẵn sàng gác lại quá khứ, hướng tới tương lai tươi sáng, ngay cả những quốc gia từng ở “bên kia chiến tuyến” cũng đã quay lại thiết lập mối quan hệ ngoại giao gắn bó, hợp tác với Việt Nam từ nhiều năm qua.

Thực tế đó đã làm lu mờ “luận điệu tháng Tư” của các thế lực thù địch, năm nào cũng phát lại những "cuốn băng phản động" cũ rích, lỗi thời. Luận điệu của chúng sẽ không bao giờ làm lay chuyển được ý chí hòa bình, thống nhất đất nước của người dân đất Việt bởi đồng bào cả nước đều hiểu rõ giá trị của Chiến thắng 30-4-1975, hiểu rõ nỗi đau chiến tranh và sự chia cắt đất nước. Với dân tộc Việt Nam, kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30-4 là dịp ôn lại lịch sử truyền thống hào hùng của toàn dân tộc, thấm hơn giá trị của đất nước thống nhất, hòa bình, từ đó phát huy tinh thần đại đoàn kết để nỗ lực phấn đấu, tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải là dịp để kích động hận thù, chia rẽ đoàn kết. Cho nên, luận điệu đòi “Việt Nam không nên kỷ niệm 30-4 nếu muốn hòa hợp dân tộc” nêu trên chính là sự kích động hận thù-âm mưu đen tối của các thế lực thù địch mà mỗi người cần cảnh giác nhận diện để không mắc phải mưu hèn, kế bẩn của những kẻ muốn chia rẽ khối đại đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc Việt Nam.

                                                    Sự Thật

 LÊN ÁN ÂM MƯU THÀNH LẬP

 “CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP” Ở VIỆT NAM

Với việc thành lập không chính danh, không thực hiện theo quy định pháp luật, cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam” là một tổ chức bất hợp pháp. Thực chất, đó là cái cớ mà các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối muốn lập ra nhằm chống phá Đảng, Nhà nước.

Để đáp ứng đòi hỏi của các hiệp định mậu dịch tự do, trong đó có Hiệp định tự do thương mại Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam đã sửa đổi Bộ luật Lao động, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021. Theo quy định tại Điều 170, Bộ luật Lao động, người lao động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn. Đây là một quyền không mới do đã được pháp luật về lao động của Việt Nam ghi nhận cho người lao động từ lâu. Bên cạnh đó, khoản 2 điều này bổ sung quy định cho phép người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức, người lao động tại doanh nghiệp. Quy định về gia nhập, tham gia tổ chức này là rất mới, độc lập với tổ chức công đoàn cơ sở truyền thống. Bộ luật Lao động cũng quy định, cả công đoàn và các tổ chức đại diện người lao động khác tại doanh nghiệp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động. Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng quyền lập hội, nếu các hội ấy thực sự vì quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và tuân thủ quy định pháp luật. Điều 25, Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, Nhà nước ta ghi nhận quyền tự do lập hội của công dân nhưng việc thực hiện quyền này phải tuân thủ các quy định luật pháp.

Hiện quy định về lập hội được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật, như: Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20-5-1957; Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005; Luật Tổ chức Chính phủ; Nghị định số 45/2010/NĐ-CP; Nghị định số 33/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP quy định rõ: “Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoat động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội  của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan”. Cũng theo quy định của Nghị định thì các hội lập ở phạm vi một tỉnh, thành phố phải được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố đó phê chuẩn; nếu hội hoạt động trên nhiều tỉnh, thành phố khác nhau thì phải do Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê chuẩn.

             Âm mưu của việc thành lập “Công đoàn độc lập”

Trên thực tế, một số đối tượng tổ chức khởi xướng và tự xưng “Công đoàn độc lập Việt Nam” lại không đăng ký, không tiến hành các thủ tục xin phép thành lập và cũng không có kế hoạch, xu hướng xin phép thành lập, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, hoạt động trái với quy định pháp luật. Về động cơ, mục đích, những người khởi xướng cho hội nhóm này đã tuyên bố trên các diễn đàn, mạng xã hội, cho thấy động cơ, ý đồ tiêu cực và họ biết những tổ chức, hội nhóm như vậy sẽ bị chính người lao động lên án nên không dám công khai, minh bạch, không tuân thủ các quy định luật pháp mà chọn theo hình thức âm thầm, tự phát. Mặt khác, trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, lâu nay chúng ta có hệ thống Công đoàn các cấp, mà cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động. Trong đại dịch COVID-19, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có nhiều hoạt động ở các mức độ khác nhau đồng hành, giúp đỡ người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng phức tạp của dịch bệnh. Từ đó, đời sống và kinh tế của người lao động phần nào vẫn được cải thiện.

Thực tế cho thấy, bản thân các hội, nhóm nghề nghiệp thành lập hợp pháp ở nước ta rất nhiều, những hội, nhóm này ở các mức độ khác nhau đã đóng góp nhất định cho sự phát triển xã hội. Bản chất vấn đề nằm ở chỗ là động cơ, mục đích và cách thức hoạt động, những người trong các hội, nhóm đó có năng lực để biểu đạt, thực hiện trên tinh thần xây dựng, vì sự tiến bộ và đời sống cán bộ, công nhân viên hay không. Ngược lại, lấy danh nghĩa thành lập tổ chức, hội nhóm với cái mác “độc lập” để thực hiệm âm mưu, ý đồ chống phá đất nước, gây hại cho nhân dân thì đó là hành vi vừa vi phạm pháp luật, vừa trái với đạo lý người Việt, không thể nhân danh các tổ chức xã hội dân sự để chống lại quê hương, đất nước mình. Với việc thành lập không chính danh, không thực hiện theo quy định pháp luật, cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam” là một tổ chức bất hợp pháp. Thực chất, đó là cái cớ mà các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối muốn lập ra nhằm chống phá Đảng, Nhà nước. Trong thời gian qua, xuất hiện một số tổ chức tự xưng mang mũ “độc lập", “dân chủ”, “nhân quyền”, như: Hội phụ nữ nhân quyền, Hội tù nhân lương tâm, Văn đoàn độc lập, Hội nhà báo độc lập, Hội anh em dân chủ...

Mục đích chung của các tổ chức này là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc, bóp méo chế độ chính trị; tiến hành các hoạt động đối lập với các cơ quan của hệ thống chính trị nước ta. Về thành phần tham gia những hội, nhóm như trên, nhiều đối tượng từng có tiền án, tiền sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, có các hành vi chống phá bị xử lý hình sự, hành chính. Với “Công đoàn độc lập”, mặc dù đang trong quá trình vận động thành lập một cách bất hợp pháp nhưng tổ chức này cũng giống các tổ chức kể trên, đó là xuyên tạc, chống phá chế độ, tiến hành các hoạt động đối lập với các cơ quan của hệ thống chính trị, đối lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Các thành viên khởi xướng thành lập đã thể hiện rõ quan điểm, ý đồ lập ra nhằm thay thế Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thật khôi hài, một tổ chức thành lập bất hợp pháp, do một nhóm người (trong đó có những đối tượng từng bị xử lý về các hành vi vi phạm pháp luật) dựng ra mà lại đòi “đồng hành”, “đại diện” cho công chức, viên chức, người lao động, lại muốn thay thế, đối lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - một tổ chức chính trị được thành lập từ năm 1929 với bề dày lịch sử vững chắc, có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động, một tổ chức mà vị trí, vai trò được ghi nhận rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng, những người khởi xướng trào lưu thành lập cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam” theo xu hướng tự do, thoát ly đều nhận thức đây là tổ chức bất hợp pháp, không được phép tồn tại nhưng họ vẫn cố tình kêu gọi, vận động người dân tham gia với dụng ý xấu. Đó là hành vi vi phạm pháp luật.


 



Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

           CẢNH GIÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ BẦU CỬ

Hiện nay, một số người nhân danh “nhà dân chủ”, “đấu tranh cho dân chủ” đã tuyên bố tự ứng cử, hô hào phát động các chiến dịch truyền thông trên Internet, kêu gọi ký tên ảo, bỏ phiếu online. Họ tung hô, ủng hộ cho các đối tượng lợi dụng tự do dân chủ, chống phá Nhà nước, đăng ký tự ứng cử nhằm gây nhiễu loạn, phá hoại an ninh, trật tự kỳ bầu cử.

Lợi dụng quyền tự do, dân chủ trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, một số người nhân danh “nhà dân chủ”, “đấu tranh cho dân chủ” đã tuyên bố tự ứng cử, hô hào phát động các chiến dịch truyền thông trên Internet, kêu gọi ký tên ảo, bỏ phiếu online. Họ tung hô, ủng hộ cho các đối tượng lợi dụng tự do dân chủ, chống phá Nhà nước, đăng ký tự ứng cử nhằm gây nhiễu loạn, phá hoại an ninh, trật tự kỳ bầu cử. Để thực hiện âm mưu, ý đồ lợi dụng quyền tự ứng cử, thủ đoạn của họ là: Xây dựng trang mạng (facebook, fanpage, blog…) công khai vận động ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp, đưa tin, hình ảnh, bài viết về những người “tự ứng cử” nhằm tô vẽ, cổ vũ tinh thần, khuếch trương thanh thế, thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận xã hội. Thành lập nhóm facebook, zalo kín để tập hợp số “tự ứng cử” cùng số đối tượng chống đối để bàn bạc thực hiện ý đồ. Trong đó, họ thành lập “tổ chuyên gia tư vấn” với số đối tượng cầm đầu, cốt cán nhằm xây dựng phương hướng, thẩm định chương trình hành động của các ứng viên; tư vấn, hỗ trợ ứng cử viên các hoạt động liên quan tự ứng cử; bàn bạc thành lập “ban hỗ trợ bầu cử” có nhiệm vụ hỗ trợ những người tự ứng cử về hồ sơ, quay phim, chụp ảnh, đưa tin, vận động xin kinh phí, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các ứng viên; thống nhất kế hoạch hành động như sẽ bố trí người đến ủng hộ, cổ vũ, động viên, gây sức ép đòi vào tham dự hội nghị cử tri, quay phim, chụp ảnh đưa lên mạng Internet. Sau khi nộp hồ sơ tự ứng cử, các đối tượng trực tiếp đi vận động quần chúng nhân dân nơi cư trú ủng hộ khi tổ chức hội nghị cử tri, tìm cách gặp gỡ nhân viên ngoại giao các nước để tìm kiếm sự ủng hộ, hậu thuẫn. Phát động các chiến dịch truyền thông trên mạng xã hội để kêu gọi ký tên ảo, bỏ phiếu online nhằm tung hô, ủng hộ cho các đối tượng chống đối tự ứng cử. Để phát động các chiến dịch truyền thông, họ triệt để khai thác các trang mạng sẵn có, đồng thời thông qua các trang mạng của các đài phát thanh nước ngoài phỏng vấn, tung hô số đối tượng tự ứng cử, vu cáo Nhà nước ta tổ chức bầu cử không dân chủ, thiếu minh bạch… Đặc biệt, các đối tượng còn lập ra các kênh truyền thông trên nền tảng của mạng xã hội, nhất là kênh You Tube, hoạt động như một kênh truyền hình để tuyên truyền ca ngợi, cổ vũ, kêu gọi ký tên ảo, bỏ phiếu online cho các “nhà dân chủ” tự ứng cử. Đưa tin, bài viết phê phán, xuyên tạc, vu cáo chính quyền, cho rằng Đảng phân biệt đối xử với những người tự ứng cử; những người “đấu tranh dân chủ” bị đưa ra “đấu tố”, “chỉ trích”, “hội nghị cử tri mất dân chủ, vi phạm pháp luật”… khi các đối tượng tự ứng cử mà không nhận được tín nhiệm của nhân dân tại hội nghị cử tri nơi cư trú.

Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật. Điều 27, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Thực tế cho thấy, trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIV năm 2016 đã có 162 hồ sơ tự ứng cử đại biểu Quốc hội, trong đó đã có những người tự ứng cử trúng cử đại biểu Quốc hội như trường hợp đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội), đại biểu Phạm Quang Dũng (Nam Định). Trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XV năm 2021, theo báo cáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cả nước có 77 người tự ứng cử đại biểu Quốc hội tại 24 tỉnh, thành phố. Trong đó Hà Nội có 30 người, TP Hồ Chí Minh có 16 người. Những con số trên cho thấy, Nhà nước ta luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự ứng cử trong bầu cử, không có phân biệt giữa người được đề cử và tự ứng cử. 

Vấn đề là người tự ứng cử phải đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, về năng lực, trình độ và uy tín trong quần chúng. Dù là đề cử hay tự ứng cử thì yêu cầu hiển nhiên khi tham gia Quốc hội, HĐND là để phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Sự thực, các kỳ bầu cử vừa qua là minh chứng bác bỏ những nhận định cho rằng, bầu cử đại biểu Quốc hội ở Việt Nam là “mất dân chủ”, “không công bằng”, là sân chơi “độc diễn” của Đảng, không có “cửa” cho những người tự ứng cử. Chúng ta cần thấy rằng, lịch sử các cuộc bầu cử cho thấy, có những người tự nộp hồ sơ ứng cử với động cơ rất trong sáng, muốn đóng góp sức mình vào cơ quan của Quốc hội và HĐND các cấp. Và thực tế đã có những người tự ứng cử có đủ phẩm chất, năng lực, được cử tri tín nhiệm bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp.

Tuy nhiên, ở đây cần phân biệt việc tự ứng cử với mục đích, động cơ trong sáng, tinh thần xây dựng với việc lợi dụng quyền tự ứng cử để phá rối, gây hại. Thời gian qua, việc một số người tự xưng là các “nhà đấu tranh cho dân chủ” hô hào, phát động phong trào tự ứng cử, nộp hồ sơ tự ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp thực chất chỉ là chiêu trò phá rối, vì động cơ xấu. Những người này biết rằng, cơ hội trúng cử đối với họ là không có bởi với bản “lý lịch đen” chống phá Đảng, Nhà nước, hồ sơ đó đương nhiên không nhận được sự ủng hộ của người dân ngay tại nơi họ sinh sống chứ chưa nói tới được cử tri bỏ phiếu. Thế nhưng, họ vẫn đăng ký tự ứng cử, vẫn hô hào ký tên ảo, bỏ phiếu online bởi mục đích thực là để đánh bóng tên tuổi với mong muốn sẽ trở thành “ngọn cờ” của “phong trào đấu tranh dân chủ” trong nước, qua đó khuếch trương hình ảnh, để được nhiều người biết đến. Khi những người này không được đưa vào danh sách bầu cử hoặc khi được đưa vào danh sách bầu cử nhưng không trúng cử, họ sẽ xem đó là cơ hội để xuyên tạc, vu cáo chính quyền, vu cáo Đảng, Nhà nước với luận điệu kiểu như: “Người tự ứng cử gần như không có cơ hội trở thành đại biểu Quốc hội”, “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, giả hiệu trong việc tổ chức bầu cử”… Mặt khác, họ sẽ xem đây là “bằng chứng” về sự vi phạm dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, từ đó kêu gọi quốc tế, Liên hợp quốc lên tiếng can thiệp, giám sát quá trình bầu cử tại Việt Nam. Bởi vậy, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện và đấu tranh kịp thời.