CHIẾN DỊCH HUẾ - ĐÀ NẴNG (21-3 ĐẾN 29-3-1975)
Sau khi mất Tây Nguyên, thế phòng thủ chiến
lược của địch bị rung chuyển nghiêm trọng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương
quyết định mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng lấy tên là "Mặt trận 475".
Chiến trường được phân thành hai khu vực: Trị
Thiên - Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng, trong đó mục tiêu chủ yếu là Huế - Đà Nẵng.
Ngày 15-3, Bộ Tổng tham mưu ngụy Sài Gòn quyết
định đưa Liên đoàn 14 biệt động quân từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị thay thế Lữ
đoàn 369 và đưa Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ vào bảo vệ Quảng Nam - Đà Nẵng để
rút Sư đoàn dù về bảo vệ Sài Gòn. Cuộc điều quân bố trí lại lực lượng này càng
làm cho địch lâm vào thế dễ bị tan vỡ nếu bị tấn công. Ngày 18-3, Bộ Chính trị
họp nhận định: Thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của chiến dịch Tây Nguyên
đánh dấu một bước rất mới trong cục diện chung, một bước suy sụp của Mỹ - ngụy.
Địch đang thực hiện co cụm chiến lược, có thể co cụm ở Đà Nẵng
và Cam Ranh… Bộ Chính trị hạ quyết tâm hoàn thành giải phóng
miền Nam trong năm 1975; nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng tiêu diệt
Quân đoàn I của địch, không cho chúng rút về Sài Gòn, giải phóng Huế, Đà Nẵng
và các tỉnh Trung Bộ.
Ngày 21-3, chiến dịch Huế - Đà Nẵng được mở
ra, nhằm tiêu diệt tập đoàn quân phòng ngự mạnh của quân ngụy ở Trị - Thiên,
Huế, Đà Nẵng, giải phóng các tỉnh miền Trung; Bộ Quốc phòng mở chiến dịch tiến
công các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Lực lượng địch
trên địa bàn chiến dịch có Quân đoàn I - Quân khu 1; có 6 sư đoàn (2 sư đoàn
thuộc lực lượng tổng dự bị, 4 sư đoàn biệt động quân); 24 tiểu đoàn và l0 đại
đội bảo an, 21 tiểu đoàn pháo binh (418 khẩu), 4 thiết đoàn và 10 chi đoàn tăng
- thiết giáp (trên 400 xe), 165 tàu hải quân, 1 sư đoàn không quân (96 máy bay
chiến đấu) được bố trí thành 2 khu vực phòng ngự vững chắc: Bắc đèo Hải Vân
(Quảng Trị - Thừa Thiên) và Nam đèo Hải Vân (Đà Nẵng - Quảng Ngãi).
Chiến dịch này do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp
chỉ huy. Đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh; Thượng tướng Chu Huy
Mân làm Chính ủy. Chiến dịch thực hiện làm 2 đợt. Đợt 1, tác chiến từ ngày 21
đến 25-3 tiến công bao vây, chia cắt chiến lược, giải phóng Huế và toàn tỉnh
Thừa Thiên, Quảng Ngãi. Đợt 2, tác chiến từ ngày 26 đến 29-3, ta tiến hành tổng
công kích vào Đà Nẵng. Ngày 21-3-1975, từ các hướng Bắc, Tây, Nam,
quân ta đồng loạt tiến công, hình thành nhiều mũi bao vây địch, mở màn cuộc
tiến công Huế. Đến ngày 24-3, quân ta đã bao vây chặt toàn bộ tập đoàn phòng
ngự của địch ở Huế; cũng trong ngày 24-3, quân ta đập tan tuyến phòng thủ của
địch ở Tam Kỳ (Quảng Ngãi), xoá sổ Sư đoàn 2, Liên đoàn 12 biệt động quân nguỵ,
giải phóng hoàn toàn thị xã Tam Kỳ.
Sáng ngày 25-3-1975, Trung đoàn 101 Sư đoàn
325, Trung đoàn 3 Sư đoàn 324, các đơn vị của quân khu Trị-Thiên và các cánh
quân của Quân đoàn 2 từ các hướng tiến về Huế. Quân ta vây kín cả 4 phía và
thần tốc tiến vào trung tâm thành phố Huế. Đến 10 giờ 30 phút ngày 25-3-1975,
quân giải phóng cắm cờ chiến thắng trên đỉnh Phu Văn Lâu, thành phố Huế được
giải phóng. Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp hải, lục, không quân hiện
đại và mạnh vào bậc nhất ở miền Nam, mặc dù lực lượng còn rất lớn nhưng đã hoàn
toàn bị cô lập. Sau khi mất Huế, lại mất Tam Kỳ (Quảng Nam), Nguyễn Văn Thiệu
tuyên bố "tử thủ" Đà Nẵng bằng mọi giá. Bộ Tổng tư lệnh với phương
châm "nhanh nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất, nhưng chắc thắng"
quyết định tập trung lực lượng tiến công vào Đà Nẵng. Sáng 29-3, các cánh quân
đồng loạt tiến đánh Đà Nẵng. Đến 15 giờ ngày 29-3, quân ta chiếm lĩnh toàn bộ
căn cứ liên hợp Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà; 17 giờ giải phóng hoàn toàn thành phố
Đà Nẵng. Chiến thắng Đà Nẵng đã kết thúc thắng lợi chiến dịch Huế - Đà Nẵng.
Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 120.000 tên địch, làm tan rã
130.000 phòng vệ dân sự, tiêu diệt và làm tan rã 3 sư đoàn bộ binh (Quân đoàn
1), sư đoàn thủy quân lục chiến (tổng dự bị), 4 liên đoàn biệt động quân, 4
thiết đoàn, 1 sư đoàn không quân; thu 129 máy bay, 179 xe tăng, 327 khẩu pháo,
hơn 1.100 xe quân sự và tàu, xuồng; giải phóng 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên,
Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi. Thắng lợi của chiến dịch này có ý nghĩa chiến
lược quan trọng làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng về mặt chiến lược hoàn toàn
có lợi cho ta; đập tan ý đồ co cụm chiến lược của địch, tạo điều kiện cho quân
ta đẩy mạnh tốc độ tiến công giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét