Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

                        VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

 

Nhân Trần

Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm tư tưởng quyền con người được Đảng và Nhà nước ta xác định là hệ tư tưởng chính thống, là kim chỉ nam cho mọi hành động và thắng lợi của cách mạng Việt Nam và được chính thức đưa ra từ Đại hội VII của Đảng và tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo. Đặt con người vào vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi chính sách, hành động, Đảng khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước ta đang hướng tới xây dựng là một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ”. Điều này được thể hiện rõ tại các văn kiện trọng tâm của Đảng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011), nghị quyết các Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ IX, X, XI, XII, XIII; các Chỉ thị của Bộ Chính trị cũng như các văn kiện khác của Đảng. 

Quan điểm của Đảng về quyền lực nhân dân và cách thức Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình; đồng thời khẳng định: Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Trên cơ sở đó, Đại hội XII xác định “tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, được Nhân dân tham gia ý kiến”, đồng thời đề ra nhiệm vụ “thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”. Theo đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân cần được thực hiện dưới một số góc độ: Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử lý oan, sai; khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước; xây dựng các đạo luật về lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ quyền, trách nhiệm của công dân trong việc thực thi quyền dân chủ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng; hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước; ban hành Luật về trưng cầu ý dân. 

Trên cơ sở vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bám sát các chủ trương, quan điểm của Đảng về quyền con người qua các thời kỳ, nước ta đã đạt được thành tựu to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về quyền con người; hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về quyền con người thống nhất, đồng bộ với hàng trăm đạo luật; chất lượng của các văn bản pháp luật ngày càng được cải thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm, bảo vệ, thực thi quyền con người trong mọi lĩnh vực. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở kế thừa, phát triển các bản Hiến pháp trước đó tiếp tục đề cao việc thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong tình hình mới, tạo bước chuyển quan trọng trong nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về tư duy lập hiến, lập pháp theo hướng công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân là trách nhiệm của Nhà nước. Những kết quả cụ thể được thể hiện: 

Thứ nhất, trên cơ sở các giá trị về dân chủ - pháp quyền nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên lập nên một chính thể dân chủ với bản Hiến pháp năm 1946 lịch sử, trải qua bao nhiêu thử thách cam go của chiến tranh và hậu chiến tranh, của 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng đã bổ sung, phát triển quan điểm: “Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”. Điều đó có nghĩa là tất cả quyền lực nhà nước, quyền lực của hệ thống chính trị trong đó có quyền lực của Đảng- nhân tố lãnh đạo hệ thống chính trị, đều bắt nguồn từ quyền lực Nhân dân, đều là quyền lực do Nhân dân giao phó để thực hiện dân chủ, vì lợi ích của Nhân dân. Thể chế hóa quan điểm đó, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Cùng với việc hiến định nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước với đủ 3 yếu tố phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên kể từ sau Hiến pháp năm 1946, đã xác định (phân công) rành mạch: Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp; và cũng lần đầu tiên khẳng định sứ mệnh cao quý, riêng có của Tòa án - cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, đó là “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân...”. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, các đạo luật về tổ chức bộ máy như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức chính quyền địa phương… đã được ban hành trên tinh thần đổi mới cơ chế hoạt động, phân công, phối hợp và kiểm soát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền, ủy quyền rành mạch, rõ ràng hơn nhằm hướng tới xây dựng một bộ máy nhà nước gọn về tổ chức và hiệu quả trong hoạt động, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức. 

Thứ hai, với quan điểm các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp, pháp luật, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định “quyền con người, quyền cơ bản của công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14). Quy định này của Hiến pháp nhằm khắc phục tình trạng hạn chế quyền con người bằng các văn bản dưới luật, đồng thời tạo cơ chế xem xét thận trọng các chính sách có khả năng ảnh hưởng đến quyền, tự do của con người; các chính sách này phải do Quốc hội quyết định. Hiến pháp cũng phân biệt rõ quyền con người và quyền công dân; làm sâu sắc hơn những quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các bản Hiến pháp trước đây; mở rộng, phát triển bổ sung các quyền khác, nhất là các nhóm quyền dân sự, chính trị được bổ sung, phát triển sâu rộng, phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế. Các quyền con người, quyền công dân thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị như quyền ứng cử, bầu cử; quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân… đã được quan tâm cụ thể hóa thông qua việc ban hành mới Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Trưng cầu ý dân. Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng đã được ban hành để bảo đảm hệ thống pháp luật về các quyền con người, quyền công dân ngày càng hoàn thiện, đủ cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện và bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Các quyền con người, quyền công dân trong nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội đã được cụ thể hóa trong các đạo luật thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hộ tịch, Luật Căn cước công dân, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình… đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung kịp thời để bảo đảm ghi nhận và quy định cụ thể cơ chế tổ chức thực hiện, bảo vệ tốt hơn nữa các quyền con người trong lĩnh vực dân sự, lao động, hôn nhân, gia đình. Trong đó, phải kể tới các quyền về nhân thân, quyền tài sản, quyền về an sinh xã hội, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế; quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa. Đối với nhóm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, quyền bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc suy đoán vô tội… cũng đã được cụ thể hóa trong các đạo luật quan trọng như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành án hình sự... Đặc biệt, việc ban hành Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự đã giúp cho Nhà nước và nhân dân ta có thêm công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong phòng, chống tội phạm, thể hiện tính nhân đạo, hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời đề cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới, góp phần bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đối với nhóm thuộc đối tượng yếu thế, việc bảo đảm thực hiện tốt quyền của các đối tượng này cũng được quan tâm. Nhiều đạo luật mới được ban hành như Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Trẻ em, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Phòng, chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, Luật Bình đẳng giới… Trong quá trình soạn thảo, ban hành các luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật, các nguyên tắc về hạn chế quyền con người, quyền công dân đã được quán triệt đầy đủ để bảo đảm việc hạn chế quyền chỉ trong các trường hợp đã được Hiến pháp quy định và chỉ bằng luật. Các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng được quy định cụ thể trong các đạo luật thông qua việc trực tiếp quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân khác có liên quan; quy định việc tăng cường trách nhiệm, bảo đảm sự đúng đắn, nghiêm minh, công bằng trong các hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua việc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của mọi chủ thể; trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi vi phạm để xảy ra thiệt hại cho công dân; có cơ chế bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo nhằm bảo vệ các quyền con người nói chung. Nhiều đạo luật quy định khá cụ thể, toàn diện các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, nhất là các đạo luật có nhiệm vụ cụ thể hóa trực tiếp các quyền mà Hiến pháp giao, hạn chế tối đa các điều khoản ủy quyền quy định chi tiết thi hành luật. 

Bên cạnh đó, kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo đảm dân chủ trong công tác xây dựng pháp luật, pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện theo hướng mở rộng dân chủ, tăng cường công khai hóa trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã bổ sung quy định tạo cơ chế thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc nghiên cứu, đề xuất và phản biện chính sách pháp luật và các công đoạn trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời tiếp tục quy định các cơ quan có thẩm quyền phải bảo đảm sự phù hợp của dự thảo văn bản với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật cũng như phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó bao gồm các chủ trương, chính sách, pháp luật và điều ước quốc tế về quyền con người. Những cải cách về quy trình xây dựng pháp luật như đã nêu trên cũng đã góp phần thực hiện quyền tham gia hoạch định chính sách, pháp luật của người dân; đồng thời, tăng cường chất lượng của văn bản được ban hành, bảo đảm khả thi, hợp hiến, hợp pháp, phù hợp với điều kiện thực tiễn. 

Thứ ba, cùng với những nỗ lực trong việc hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật quốc gia về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, trong 75 năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền, đặc biệt việc tham gia thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người. Cho đến nay, Việt Nam đã là thành viên của 7/9 Công ước cơ bản của Liên Hợp quốc và nhiều điều ước quốc tế khác về quyền con người. Việc tích cực tham gia các điều ước quốc tế về nhân quyền thể hiện quyết tâm, nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm các chuẩn mực chung về quyền con người cho người dân Việt Nam, mặc dù điều kiện về phát triển kinh tế của Việt Nam còn hạn chế so với nhiều nước trên thế giới. 

Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương từng bước chuyển hướng chiến lược từ tập trung xây dựng pháp luật sang hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác thi hành pháp luật, Quốc hội, Chính phủ cũng đã xây dựng, ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/03/2020); sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo… Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã và sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống, bảo đảm việc áp dụng pháp luật nói chung, pháp luật về quyền con người nói riêng của các cấp từ trung ương đến địa phương được thống nhất, công khai, minh bạch; bảo đảm các hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người được phát hiện và xử lý kịp thời, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Qua công tác theo dõi thi hành pháp luật cũng cho thấy, trình độ pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người dân ngày càng được nâng cao, người dân ngày càng hiểu rõ các quyền của bản thân cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội, cộng đồng. Vai trò của pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật ngày càng được đề cao. 

35 năm đổi mới, 15 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW, 7 năm triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều thách thức, tồn tại cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người phù hợp với tình hình mới, trong đó nổi lên là: Tại Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới nêu rõ chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa cao; tri thức kinh điển chưa được coi trọng đúng mức; chậm được nghiên cứu, nhận thức một cách đầy đủ; chậm được bổ sung, phát triển để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về quyền con người trong hoạt động xây dựng pháp luật nói riêng để “cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…”. Trong công tác xây dựng pháp luật, một số quyền con người trong một số lĩnh vực đã được quy định tại Hiến pháp năm 2013 nhưng chưa có luật để điều chỉnh như quyền biểu tình, quyền lập hội... Các quy định về quyền của các đối tượng yếu thế, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp (như quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật; quyền của phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của bạo lực...) chưa đầy đủ. Các quy định làm cơ sở pháp lý cho việc hạn chế quyền con người trong một số trường hợp khẩn cấp như tình hình dịch bệnh Covid-19 vừa qua cũng chưa thực sự bảo đảm. Tính khả thi của một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người chưa cao; một số vi phạm pháp luật về quyền con người chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý.    

Công tác tổ chức thi hành pháp luật còn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa đủ mạnh và đồng bộ để thực thi hiệu quả quyền con người trong tất cả các lĩnh vực. Ý thức thượng tôn pháp luật nói chung, nhận thức pháp luật về bảo vệ, bảo đảm quyền con người của một bộ phận trong xã hội còn chưa cao; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người cho nhân dân còn hạn chế, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa. Các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác còn chiếm tỉ lệ cao. Đặc biệt, trước sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều hành vi vi phạm nhân quyền như đánh cắp thông tin, định danh cá nhân, xâm phạm bí mật đời tư, trộm cắp tài sản, xâm hại tình dục, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ... xảy ra trên môi trường mạng có chiều hướng gia tăng, đặt ra những thách thức, yêu cầu mới và đòi hỏi phải có tư duy tiếp cận mới đối với công tác xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người trên môi trường mạng./. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét