Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

KHẲNG ĐỊNH TÍNH HỢP HIẾN, HỢP PHÁP CỦA
 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI
Các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tìm mọi cách phủ nhận Điều 4 Hiến Pháp, phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đòi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng. Chúng đưa ra các luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ lãnh đạo được cách mạng dân tộc dân chủ, dành độc lập dân tộc, còn xây dựng đất nước thì không đủ khả năng cần phải chia quyền các đảng phái khác; rằng thực hiện chế độ đa đảng sẽ dân chủ hơn. Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái. Bởi lẽ:
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội là hợp hiến, hợp pháp. 
Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Trước khi Quốc hội thông qua, Hiến pháp năm 2013 đã được Nhà nước tổ chức lấy ý kiến tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân và tuyệt đại đa số nhân dân đồng tình. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo quy định của Hiến pháp. Do vậy, chúng ta hoàn toàn bác bỏ luận điệu sai trái cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam tự cho mình cái quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, duy nhất, vì luận điệu ấy hoàn toàn sai lầm
Thứ hai, sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam vào Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước và xã hội. 
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đã có thời điểm xuất hiện đa nguyên, đa đảng, song lịch sử cũng đã phủ nhận đa nguyên, đa đảng, xác định vị trí độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng chứng là, trước năm 1930, ở Việt Nam đã tồn tại nhiều đảng phái chính trị, ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay), còn có một số tổ chức, đảng phái chính trị khác theo đường lối cách mạng tư sản, song thực tiễn lịch sử đã cho thấy chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945.
Sau 1954, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà. Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân. Ngược lại, ở miền Nam, với sự tiếp sức của đế quốc Mỹ xâm lược, các thế lực phản động, tay sai đã lập nên một chính thể đa nguyên có sự tham gia của nhiều đảng phái chính trị, nhưng mục đích của các đảng phái đó không vì quyền lợi của nhân dân, đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Do vậy, nên nhân dân Việt Nam đã phản đối, đứng lên lật đổ thể chế chính trị đó.
Sau 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước Việt Nam thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, và cho đến nay, nền chính trị nhất nguyên được thiết lập, một lần nữa nhân dân Việt Nam tiếp tục lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, người đại đại diện duy nhất cho mình.
Qua hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng nước nghèo kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, kinh tế vĩ mô từng bước được ổn định, lạm phát được kiềm chế.
Đời sống nhân dân được nâng cao; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng. Bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh trạnh lành mạnh. Chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được tăng cường.
Luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái ngược với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của chúng ta./.


                                                                                 H.A
KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch một cách có hiệu quả, trước hết cần phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là đòi hỏi khách quan, yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, đối với việc hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định cụ thể: “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới” . Đồng thời, Văn kiện cũng xác định tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đồng thời, chúng ta phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng và bản chất chính trị của Đảng; nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của cán bộ, đảng viên; tập trung nghiên cứu, giải quyết triệt để nguồn gốc và những nguyên nhân dẫn đến suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ nội bộ các tổ chức đảng; chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, đặc biệt là việc nắm, quản lý và giải quyết tư tưởng ở các tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ, chi bộ cơ sở, chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy; đổi mới công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên của các tổ chức cơ sở đảng; đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh; tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực lý luận, lĩnh vực tư tưởng – văn hóa; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên một cách chặt chẽ, đúng nguyên tắc.
Đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Các quan điểm sai trái, thù địch sẽ gây tác hại trong môi trường xã hội có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng phải gắn với việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” . Đồng thời, Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, đấu tranh ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm.
Như vậy, đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân và xã hội ta đặc biệt quan tâm. Đại hội XII của Đảng xác định đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận trong nhiệm kỳ tới. Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch.
                                                                                              

                                                                                                                    H.A
PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI HIỆN NAY
Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là tư tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam hiện nay...
Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là tư tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam hiện nay. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”[1] và được hiến định trong Hiến pháp, ở chương đầu tiên nói về chế độ chính trị Việt Nam, Điều 4 Hiến pháp năm 2013, ghi rõ: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”.
Khẳng định và làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong Hiến pháp, là sự thể hiện nguyện vọng chính đáng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng Cộng sản, đồng thời là một bước tiến trong xây dựng luật pháp và lập hiến trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, làm sáng tỏ mối quan hệ chi phối, chế ước lẫn nhau giữa chính trị và pháp luật, thể hiện ở vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm giữa các chủ thể: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp cũng như các vấn đề về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về cơ cấu tổ chức quyền lực Nhà nước… là xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, là thực hiện dân chủ, đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng lãnh đạo và cầm quyền để nhân dân làm chủ bằng Nhà nước và các thiết chế xã hội ngoài Nhà nước. Đảng lãnh đạo, cầm quyền là chính đáng, hợp hiến, hợp pháp.
Trong những năm đổi mới, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ,” “nhân quyền,” “dân tộc,” “tôn giáo” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhằm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. 
Chúng tung ra các quan điểm sai trái, thù địch hòng đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bác bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ca ngợi, cổ súy cho chủ nghĩa tư bản, bôi đen chủ nghĩa xã hội, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội cả trên lý luận lẫn thực tiễn.
Chúng phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, hoặc cùng lắm chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp của thế kỷ XX, còn bây giờ sang thế kỷ XXI, thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, nên đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua không phù hợp với thế kỷ này, từ đó cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin lỗi thời ở Việt Nam, hoặc cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm ngoại nhập của phương Tây, không thích hợp với các nước kinh tế lạc hậu như Việt Nam, cho rằng việc du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc.
Đồng thời chúng còn xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người, chúng muốn “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh.” Chúng phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tán dương chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho tự do tư sản, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, vị kỷ, coi trọng đồng tiền. 
Gần đây xuất hiện một số ấn phẩm có nội dung phê phán, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Ở nước ngoài, các nhóm phản động người Việt lưu vong như Diễn đàn, Thông luận cùng với "12 điều kiến nghị của một công dân" của Bùi Tín, đã truyền qua đài BBC, RFI, chuyển về nước đòi "đổi mới triệt để," "cải tổ Đảng," "xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng."
Nhân dịp Quốc hội phát động toàn dân góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp, chúng đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, đổ lỗi tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở nước ta là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Các thế lực chống cộng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ. 
Bằng việc vu cáo Đảng Cộng sản chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị," thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân. Từ đó đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng luận điệu: "từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ." Bên cạnh vấn đề “dân chủ”, chiêu bài “nhân quyền” cũng được các thế lực phản động sử dụng để tấn công vào Đảng ta. Theo số liệu báo cáo của Tổng cục An ninh - Bộ Công an, hiện nay ở bên ngoài có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, mạng Internet, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản bên ngoài tập trung tuyên truyền chống phá ta. Hàng năm có hơn 3.000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng, 28.000 thư ân xá quốc tế xâm nhập, tán phát qua con đường bưu điện quốc tế dưới dạng quà cáp, và gần 11.000 ấn phẩm được đưa vào bằng nhiều con đường khác. 
Đặc biệt, thời gian gần đây, trước thềm Đại hội Đảng các cấp, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, trá hình. Cùng với các hoạt động phá hoại vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên các phương diện khác, chúng ra sức sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, các blog để chuyển tải thông tin, tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc thực tế Việt Nam, kích động để đòi đa nguyên, đa đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Các đài phát thanh RFI, VOA, BBC liên tục phát những tài liệu, các cuộc phỏng vấn những phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài để cắt xén, thổi phồng, xuyên tạc một số tài liệu ở trong nước, dựng chuyện, nói xấu, tung tin sai lệch về một số cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước, đưa lên mạng, để phát tán rộng rãi trong xã hội ta nhằm gây khó khăn cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, chúng tiếp tục phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước là phủ nhận bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tất cả các quan điểm trên, dù trực tiếp hay gián tiếp, chúng đều là những quan điểm phản động nhằm xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội, các quan điểm đó do các thế lực thù địch muốn chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm cho niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa suy giảm…
Trước tình hình đó, Đảng ta xác định, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng hiện nay của Đảng, nhằm làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cũng như bản lĩnh cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong điều kiện hiện nay, từ thực tiễn trong nước và tình hình quốc tế việc đấu tranh, phê phán các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về mặt tư tưởng, lý luận, cần tăng cường giáo dục về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân, để củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời cần nhận thức rõ sự khó khăn, phức tạp của công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong tình hình mới. “Đảng ta phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về Đảng cầm quyền; về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả công tác tư tưởng, đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị trong Đảng, nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp”[2].
Thứ hai, về mặt thực tiễn, Đảng ta phải thật sự coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thật sự là đạo đức, thật sự là văn minh. Phải làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ, phải ra sức nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cũng như bản lĩnh cầm quyền. Đảng phải khẳng định được vai trò lãnh đạo của mình thông qua sự phát triển của đất nước, mà cụ thể là thông qua hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… mà Nhà nước đang triển khai thực hiện.
Thực tế đó cho thấy, những khi Đảng và đất nước gặp khó khăn và suy yếu thì đó là lúc xuất hiện những luồng dư luận, ý kiến hoặc hoài nghi, hoặc công kích, phê phán Đảng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, việc Đảng ra sức xây dựng chỉnh đốn đội ngũ của mình, làm cho Đảng trong sạch vững mạnh là hết sức quan trọng và trở nên cấp bách, là câu trả lời xác đáng nhất để bác bỏ những quan niệm sai lầm về vai trò lãnh đạo của Đảng. Nếu Đảng mạnh và có uy tín rộng lớn trong dân, trong xã hội, nội bộ Đảng đoàn kết thống nhất, lãnh đạo cấp cao của Đảng vững vàng, sáng suốt về phương hướng và bản lĩnh, quan hệ giữa Đảng với dân gắn bó mật thiết thì vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ giữ vững được. Điều quan trọng, cốt tử nhất là ý Đảng thuận với lòng dân. Có sự ủng hộ, giúp đỡ của dân, của toàn dân tộc thì không khó khăn nào không thể vượt qua.
Ngày nay, các thế lực thù địch vẫn không từ một thủ đoạn nào để chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta, chống phá Đảng, chống phá Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh chống quan điểm sai trái là một nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta cần làm và nhất định phải làm thật tốt trong giai đoạn hiện nay. 
Đấu tranh chống quan điểm sai trái phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội, cũng chính là sự khẳng định lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, niềm tin, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb. Chính trị Quốc gia,H.2011,t.12, tr370
[2]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011


                                                                                                               H.A
KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH BẢO VỆ LÝ LUẬN KHOA HỌC, CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Kinh tế phát triển năng động, mức tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua liên tục được giữ vững. Môi trường chính trị, văn hoá, xã hội ổn định và phát triển. An ninh, quốc phòng được giữ vững và tăng cường. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, khẳng định vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận không hề thay đổi, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với những âm mưu, thủ đoạn mới nhằm xoá bỏ ảnh hưởng to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Truyền bá hệ tư tưởng tư sản phản động, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận để đi tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, trong những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới, nhất là khi chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV… thì các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng để đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam.
Để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực lý luận, các thế lực thù địch sẽ  tập trung chống phá trên các các vấn đề chủ yếu sau đây: Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: lý luận về hình thái kinh tế – xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.
Xuyên tạc, phá hoại cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội lần thứ XII, các nghị quyết, kết luận của Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, các nghị quyết của Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, của Nhà nước; các quyết sách của Chỉnh phủ khi xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phát triển…
Các thế lực thù địch sẽ tập trung chống phá trên những vấn đề lý luận cơ bản như: về thời đại ngày nay; về chủ nghĩa xã hội; về chủ nghiã tư bản hiện đại; về giai cấp, dân tộc và đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; về kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế; về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về bảo vệ Tổ quốc; về hội nhập quốc tế về quốc phòng; về “phi chính trị hóa” quân đội.
Để đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”. Vừa kiên định, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vừa tích cực, chủ động đấu tranh với các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lói đổi mới của Đảng là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết, một yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta, đòi hỏi Đảng phải trung thành, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, tình hình cụ thể của cách mạng Việt Nam, không máy móc, giáo điều.
Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận để tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước, trên cơ sở đó đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử. Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nắm vững mối quan hệ giữa kiên định và phát triển, tức là phát triển trên cơ sở kiên định nguyên tắc cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, với xu thế thời đại. Thực tiễn luôn biến đổi, phát triển nên lý luận Mác – Lênin cũng cần được bổ sung, đổi mới, phát triển nếu chúng ta không muốn lạc hậu so với cuộc sống. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống mở, không thể coi những nhận thức đạt được cho đến ngày nay là những chân lý tuyệt đích cuối cùng.
Không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vừa là yêu cầu của thực tiễn xã hội vừa là yêu cầu nội tại của học thuyết Mác – Lênin. Có phát triển và thông qua phát triển, chủ nghĩa Mác – Lênin mới tự bảo vệ được mình, mới phát huy được sức mạnh, sức sống của mình đối với thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Vì vậy bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là phát huy sức mạnh, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta.
Đi đôi với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cần tổ chức nghiên cứu, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái, bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao.
Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí…tiến công chống các quan điểm thù địch, sai trái nhất là phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học trong đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái theo hướng tăng hàm lượng khoa học, tăng độ sâu lý luận, cập nhật thông tin, luận cứ, luận chứng sắc bén, có lý, có tình, có sức thuyết phục cao. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức để kịp thời định hướng đấu tranh. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận.
Trước sự vận động, biến đổi không ngừng của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng khó khăn, phức tạp hơn. Việc bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải có cơ sở lý luận, thực tiễn và bằng hành động cách mạng thiết thực cụ thể. Phải từng bước hiện thực hoá mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Phải chứng minh trên thực tế tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng kết quả hiện thực, bằng những thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Điều đó là một minh chứng sinh động, khẳng định Đảng ta đã tuyệt đối trung thành và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng nước ta; khẳng định sự sai lầm, thiếu căn cứ khoa học của các quan điểm thù địch, sai trái đối với cách mạng Việt Nam. Song, chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường mà chúng ta đang đi tới là không dễ dàng, bằng phẳng mà phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ. Nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, nhất định sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước sẽ thu được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực, các quan điểm thù địch, sai trái trong chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực lý luận sẽ càng sớm bị vạch trần bởi tính chất phản khoa học của chúng. Điều đó khẳng định rằng, chẳng có thế lực nào có thể ngăn đường, cản lối quân và dân ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. /.
                                              
                                                                                    Công Bằng                 
KHẲNG ĐỊNH TÍNH ƯU VIỆT CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
 ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
Chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là tổn thất vô cùng to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, nhưng một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng,kiên trì tiến hành cải cách, đổi mới và đã giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển. Sau 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa thông qua sử dụng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thế nhưng, hiện nay các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để phủ nhận những thành quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã nỗ lực, phấn đấu xây dựng nên. Gần đây, các thế lực thù địch tiếp tục phát tán một số bài viết nhằm xuyên tạc, đả kích mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, rằng: Kinh tế thị trường và xã hội chủ nghĩa khác nhau như nước với lửa, như ngày với đêm, hoàn toàn đối lập nhau, kinh tế thị trường là phủ định của xã hội chủ nghĩa và ngược lại, vì thế giữa kinh tế thị trường và xã hội chủ nghĩa làm sao có thể gói chung chúng với nhau được. Thực chất đó là cách nói, cách nhận xét phiến diện, phi lý, hoàn toàn không có cơ sở lý luận và thực tiễn, nhằm mục đích phủ nhận những giá trị tốt đẹp mà kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang hiện hữu ở Việt Nam, tiến tới đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Lý luận và thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho thấy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những giá trị mới, rất ưu việt mà không một chế độ nào trước đó ở Việt Nam có được. Những thành quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng tạo nên những giá trị tiến bộ mới, có sức sống bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đặc biệt những thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Sau 30 năm đổi mới, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì Việt Nam đã rất nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và tình trạng kém phát triển, kinh tế tăng trưởng khá, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chính sự lựa chọn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc hơn; cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư từng ngày được thay da, đổi thịt, từ thiếu thốn trăm bề, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, đến nay mọi người dân đang được thụ hưởng đầy đủ các dịch vụ phục vụ cho sự phát triển một cách toàn diện. Chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội… tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về mọi mặt. Nhờ đó mà vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Trong khi xã hội tư bản vẫn đang tồn tại nhiều khuyết tật và mâu thuẫn không thể giải quyết như: thất nghiệp, đói nghèo, bất bình đẳng… Đặc biệt, tình trạng khủng bố, bạo lực, tội phạm, an ninh, phân biệt chủng tộc diễn ra triền miên, điển hình là phương Tây, Mỹ, khu vực Trung Đông.
Vì vậy, những luận điệu phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một thủ đoạn nham hiểm được các thế lực thù địch sử dụng với mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Song, đó chỉ là sự ảo tưởng của những kẻ ngông cuồng; bởi những thành quả to lớn từ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang hiện hữu ở Việt Nam. Đó là điều không thể phủ nhận./.


                                                                            Công Bằng
NHỮNG KIẾN NGHỊ THIẾU THỰC TẾ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH THƯƠNG BINH, LIỆT SỸ, NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Trong thời gian gần đây, lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề xã hội khác, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng nước ta. Những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước cấu kết cùng với các thế lực thù địch ở nước ngoài đưa ra những luận điểm, kiến nghị, đòi hỏi sai trái, phản động, cực đoan. Hàng ngày chúng phát tán trên mạng Internet hàng trăm tài liệu, từ xuyên tạc Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, phủ nhận thành quả sau 30 năm đổi mới đất nước… nhằm làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó, đáng quan tâm là luận điệu kiến nghị đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta cần phải “Khôi phục danh dự và quyền lợi của các của các liệt sĩ và thương binh đã hy sinh trong chiến tranh biên giới phía Bắc và biển đảo”.
Kiến nghị trên đã không phản ánh đúng thực tế là Đảng ta, Nhà nước ta, Nhân dân ta và Quân đội ta luôn ghi nhớ và biết ơn sự cống hiến, hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ, của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã bỏ mình vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã huy động mọi nguồi lực xã hội cùng Nhân dân chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho những người có công với cách mạng, cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo đảm các gia đình người có công có mức sống tối thiểu bằng mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Dù đó là người tham gia kháng Nhật, chống Pháp, chống Mỹ, đi B, C, K; bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới tây Nam hay bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.
          Hiện nay, cả nước có trên 8.8 triệu người có công, trong đó có 1.5 triệu người được hưởng trợ cấp thường xuyên, chiếm gần 10% dân số, trong đó có hơn 8.8 nghìn người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945, hơn 16 nghìn người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước ngày 19 tháng 8 năm 1945, hơn 1.146 triệu liệt sĩ, hơn 49.600 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 1.253 Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân, Anh hùng lao động trong kháng chiến, hơn 781 nghìn thương binh, người hưởng chính sách như thương binh và thương binh loại B, gần 185 nghìn bệnh binh, hơn 236 nghìn người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học, gần 109.5 nghìn người hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày, hơn 1.8 triệu người có công giúp đỡ cách mạng, trên 4.1 triệu người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế,… đang được hưởng các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Mức trợ cấp, phụ cấp khác nhau tuỳ thuộc vào đối tượng người có công.
          Từ năm 2013, Nhà nước thực hiện trợ cấp hàng tháng đối với người hoạt động cách mạng, hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày; bổ sung trợ cấp người phục vụ Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; trợ cấp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học được chia làm 4 mức, thay vì 2 mức như trước đây; bổ sung chế độ trợ cấp thờ cúng liệt sĩ, điều chỉnh thời gian điều dưỡng từ 5 năm một lần xuống 2 năm một lần đối với các đối tượng còn lại…
          Như vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta đã, sẽ không quên một ai đã cống hiến, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân và từng ngày, từng giờ đang nỗ lực, cố gắng cao nhất chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho họ và gia đình người thân của họ ngày một đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn./.

Hoa rừng
NHỮNG KIẾN NGHỊ PHI LÝ, THỂ HIỆN NHÂN THỨC CHƯA ĐẦY ĐỦ, CỰC ĐOAN VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐỐI TÁC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.
          Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, phản động, cực đoan của những phần tử cơ hội, thế lực thù địch góp phần phòng chống có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; tăng cường sự thống nhất tư tưởng và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay.
Đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ chống phá Việt Nam, trong thời gian gần đây, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề xã hội khác, những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước cấu kết cùng với các thế lực thù địch ở nước ngoài tiếp tục đưa ra những luận điệu tuyên truyền, kiến nghị, đòi hỏi sai trái, phản động, cực đoan. Hàng ngày chúng phát tán trên mạng Internet hàng trăm tài liệu, từ xuyên tạc, lật ngược, bác bỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong lịch sử và thành quả trong 30 năm đổi mới đất nước… nhằm làm cho mọi người nhầm lẫn, dao động hoài nghi, xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, đáng quan tâm là luận điệu kiến nghị đòi hỏi Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang ta cần phải “xác định rõ ràng và chính xác đối thủ, không biến thù thành bạn hoặc coi bạn là thù” từ đó “phải liên minh với các nước cho phù hợp với xu thế của thời cuộc”.
Luận điệu kiến nghị, đòi hỏi trên thể hiện nhận thức họ về tư duy mới của Đảng trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay chưa đầy đủ và có phần cực đoan. Đảng ta, Nhà nước ta hoàn toàn không “mơ hồ biến thù thành bạn hoặc coi bạn là thù”. Điều này được thể hiện trên một số vấn đề cơ bản sau:
Xác định đúng đối tượng, đối tác của Việt Nam là vấn đề quan trọng, căn cứ chủ yếu để đề ra chính sách đối nội, đối ngoại cùng với kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là một vấn đề tương đối “nhạy cảm” trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta né tránh, để rồi rơi vào trạng thái mơ hồ, mất cảnh giác, mất tính chiến đấu và khó có thể vạch ra chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
Về vấn đề này Đảng ta khẳng định rõ: “Vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối tượng: Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Mặt khác, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”[1].
Quan điểm của Đảng ta nêu trên vừa có tính khái quát cao, vừa đầy đủ, làm cơ sở để nhận thức và xử lý quan hệ đối tác, đối tượng một cách bình tĩnh, sáng suốt, hiệu quả trong bối cảnh tình hình chính trị - an ninh thế giới hiện nay đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường, xong hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn.
Về đối tác của Việt Nam, Đảng ta khẳng định: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác”. Căn cứ xác định đối tác được Đảng ta đặt lên trước – điều này vừa bảo đảm sự phù hợp với các nguyên tắc trong quan hệ quốc tế vừa phù hợp với quan điểm của Đảng ta lấy đối tác làm cơ sở thiết lập quan hệ quốc tế: “Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế[2]; “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”[3]Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, uy tín, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, trách nhiệm quốc tế của Việt Nam cũng ngày càng lớn và được các đối tác tin cậy. Do đó, Đảng ta đã khẳng định rõ ràng chúng ta sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với những đối tác nào tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với chúng ta; chứ không phải chỉ dừng lại ở mức độ “chủ trương” như trước đây. Mặc dù vậy, để bảo đảm tính khách quan, toàn diện thì khi nhận thức về vấn đề đối tác cần phải đặt nó trong mối quan hệ với vấn đề đối tượng ngày nay.
Về đối tượng đấu tranh của Việt Nam, Đảng ta khẳng định:“... bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”. Đây là một sự khẳng định khôn khéo, mềm dẻo của chúng ta trong quyết tâm bảo vệ các lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam và mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đối tượng đấu tranh của Việt Nam được hiểu không chỉ là thế lực có âm mưu, hành động gây chiến tranh, bạo loạn lật đổ, mà còn là những kẻ xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam; chống lại sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn bằng phương thức vũ trang và phi vũ trang, cả từ bên ngoài và bên trong. Ai là đối tượng không phải tự chúng ta áp đặt mà do chính âm mưu và hành động của họ quyết định. Như vậy, mặc dù Đảng ta không vạch tên, chỉ mặt cụ thể ai là đối tượng, không tạo ấn tượng hiềm khích với ai, nhưng sự khẳng định trên cũng đủ để vừa quy tụ ý chí, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, vừa đề cao được lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc.
Về tính biện chứng giữa đối tượng - đối tác,  Đảng ta chỉ rõ “... trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”. Như vậy Đảng ta đã quan niệm một cách khái quát, khách quan, toàn diện và đầy đủ hơn về tính biện chứng trong mỗi đối tượng, mỗi đối tác, chứ không chỉ dừng lại ở mỗi đối tượng, một số đối tác như trước đây. Thực tế đã khẳng định về tính đúng đắn của quan điểm này, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và tính cạnh tranh song hành cùng tính lệ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia đang ngày càng gia tăng. Như vậy, đối tượng và đối tác luôn tồn tại trong một thể thống nhất. Do đó, sẽ có những đối tác rất đáng tin cậy, rất khó có khả năng chuyển hóa thành đối tượng, nhưng cũng có những đối tác có thể bị chuyển hóa thành đối tượng trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn cảnh giác. Thậm chí có đối tác bản thân đã, đang là đối tượng, buộc chúng ta phải vừa hợp tác, vừa phải đấu tranh. Bên cạnh đó, trong các loại đối tượng sẽ có những đối tượng mâu thuẫn, khác biệt ở mức độ nhất định, trong khoảng thời gian nhất định với chúng ta về ý thức hệ, hoặc về lợi ích chủ quyền, lãnh thổ hoặc về lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội,... Tuy nhiên, xét trong tổng thể thì vẫn còn có mặt có thể hợp tác được, mà không phải là đối tượng hoàn toàn hay đối tượng vĩnh viễn.
Về chủ trương ứng xử đối với những mặt mâu thuẫn, khác biệt về lợi ích ở đối tác với chúng ta. Quan điểm về vấn đề đối tượng, đối tác của Đảng thể hiện tính cách mạng sâu sắc, đó là trong thực tiễn vấn đề tồn tại những điểm mâu thuẫn, khác biệt về lợi ích giữa nước ta với mỗi đối tác là tất yếu. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta chấp nhận, chúng ta“cần phải đấu tranh”. Bằng sự mưu trí, sáng tạo để “đấu tranh”nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng tin, tăng cường tính đồng thuận, mở ra các thời cơ thuận lợi, tranh thủ tận dụng được những ưu điểm của mỗi đối tác để giúp chúng ta phát triển nhanh và bền vững. Mặt khác, hạn chế tiến tới triệt tiêu các mâu thuẫn, lực cản phát sinh ở mỗi đối tác, mà không phải là nhằm mục tiêu triệt tiêu đối tác.
Như vậy, Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm về đối tác, đối tượng của Việt Nam, quan điểm cũng chỉ rõ sự đan xen, chuyển hoá phức tạp giữa đối tác và đối tượng, ngay trong từng đối tượng vẫn có mặt đối tác, cần tranh thủ hợp tác; sự chuyển hoá giữa đối tượng, đối tác phụ thuộc rất lớn phương thức ứng xử của chúng ta. Quan điểm của Đảng đã quán triệt tư tưởng đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia dân tộc với mục tiêu xuyên suốt là giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, kết hợp chặt chẽ với tạo dựng môi trường thuận lợi cho xây dựng đất nước. Nhận thức và xử lý quan hệ đối tác, đối tượng theo quan điểm của Đảng không phải là sách lược nhất thời mà là chủ trương cơ bản, nhất quán, lâu dài. Lịch sử dân tộc cũng như thực tiễn hoạt động của Đảng đã chứng tỏ điều đó và được thế giới thừa nhận.
Bằng quan điểm, đường lối lãnh đạo đúng đắn đó, đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187 trong số 193 quốc gia là thành viên của Liên Hợp Quốc (trong đó, quan hệ đối tác chiến lược với 15 quốc gia và quan hệ đối tác toàn diện với 11 đối quốc gia), tham gia hơn 70 tổ chức quốc tế và đóng vai trò là thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của các tổ chức này; thiết lập quan hệ kinh tế thương mại với 245 quốc gia và vùng lãnh thổ; thiết lập quan hệ quốc phòng với 80 quốc gia. Với những nỗ lực của Việt Nam và các đối tác, chiều sâu và mức độ thực chất trong quan hệ với các quốc gia được nâng lên một tầm vóc mới… góp phần tạo thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước ngày một tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao, tạo ra môi trường và những tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. 
Nhận thức sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng nói chung và quan điểm của Đảng về đối tác, đối tượng của Việt Nam nói riêng là cơ sở để củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, góp phần phòng chống có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” làm thất bại âm mư mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ THAM
NHŨNG, LÃNG PHÍ ĐỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang là một vấn đề phức tạp, nhức nhối trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam hiện nay. Lợi dụng vấn đề này các thế lực thù địch kích động phê phán, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, tham nhũng, lãng phí hiện nay có nguồn gốc từ tình trạng “độc quyền” lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thuộc về bản chất của chế độ ta. Do vậy, chúng cho rằng muốn xoá bỏ tận gốc tình trạng tham nhũng, lãng phí là phải xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đổi đối lập, đây là mưu đồ thâm độc và tinh vi của các thế lực thù địch. Cho nên chúng ta trả lời rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với sự nghiệp cách mạng nước ta là một nguyên tắc, là sứ mệnh lịch sử của Đảng được nhân dân thừa nhận và đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua đã chứng minh rõ điều này. Do vậy, những lý do phủ nhận, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam là không chấp nhận, là đi ngược lại với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Tham nhũng không phải là hiện tượng mới xuất hiện, nó ra đời và gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nước, là một căn bệnh cố hữu của nhà nước. Đây là căn bệnh “tứ chứng nan y” của mọi nhà nước. Dù nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản hay nhà nước XHCN. Chỉ khi nào xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu, xoá bỏ áp bức bóc lột, xây dựng một xã hội không còn giai cấp, không có “nhà nước” thì mới có cơ sở KT - XH để xoá bỏ triệt để tham nhũng.
Nhận thức rất rõ vấn đề này, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao đạo đức cách mạng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, chống bệnh quan liêu. Theo Người, tham nhũng, lãng phí, quan liêu là “tội ác”, là những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tha hoá Đảng. Đây là sự nguy hiểm tiềm tàng làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tính trí tuệ, tính đạo đức, tính nhân dân,.. chừng nào còn những hiện tượng trên thì cách mạng còn gặp rất nhiều khó khăn. Người chỉ rõ tham ô, tham nhũng, lãng phí là “địch nội xâm”, một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng. “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”[1]. Vì vậy, “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị”[2]. Cuộc đấu tranh chống coi tham ô, tham nhũng, lãng phí trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ bằng nhiều hình thức phong phú gắn với những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.
Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đó có những chủ trương, phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo và ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định cụ thể về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, diễn đàn của Quốc hội, các kỳ đại hội Đảng các cấp, nhiều người đã phê phán gay gắt tệ nạn này, gọi đó là “quốc nạn”. Nghị quyết Trung Ương 4 Khóa XII của Đảng chỉ rõ: Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và coi phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng hiện nay. Khẳng định đây là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Các cấp uỷ và tổ chức đảng phải nhận thức sâu sắc tính cấp thiết, lâu dài, phức tạp của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; từ đó, đề ra biện pháp có tính đột phá, khả thi cao, đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên tục, có hiệu quả với thứ giặc nội xâm này. Những chủ trương, biện pháp kiên quyết và đồng bộ đó đã thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước ta, nhằm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, lãng phí, xây dựng bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ. Để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá cách mạng nước ta, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng của các thế lực thù địch, chúng ta cần phải thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
Một là, tăng cường giáo dục về chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên nhận thức tác hại của tham nhũng và tác hại của những quan điểm lợi dụng chống tham nhũng để bôi nhọ chế độ và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Các cấp uỷ đảng cần tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên về biểu hiện và tác hại của tham nhũng lãng phí, làm cho mỗi tổ chức, cá nhân nhận thức không những gây tổn hại về kinh tế, mà còn là nguy cơ về chính trị; trái với văn hoá, đạo đạo đức cách mạng; phản bội lý tưởng của Đảng, phản bội Tổ quốc và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức có quyền phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện, kiên quyết đấu tranh phòng ngừa tham nhũng, trước hết là đối với chính mình. Trong điều kiện hiện nay, mỗi tổ chức, mỗi đơn vị, cán bộ, đảng viên phải lấy kết quả đấu tranh phòng chống tham nhũng làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, làm thước đo bản lĩnh chính trị, đạo đức của cán bộ, đảng viên, đồng thời cần nhận thức sâu sắc rằng, nếu không khắc phục được tệ tham nhũng, kẻ thù sẽ lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước gây mất lòng tin của nhân dân vào chế độ.
Hai là, nhanh chóng bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách để  phòng chống tham nhũng có hiệu quả.
Xây dựng, hoàn thiện bộ máy Nhà nước tinh gọn, hiệu quả, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật, nhất là về thể chế về kinh tế, tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch; coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức công khai tài sản một số chức danh chủ chốt, cao cấp của Đảng, Nhà nước; công khai tài sản của cán bộ, công chức khi được đề bạt, bổ nhiệm và ứng cử; có cơ chế để thẩm định, xác minh tài sản, thu nhập. Có quy chế về trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng khi để ra tham nhũng nơi mình được giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý. Thực hiện tốt giải pháp trên sẽ làm giảm bớt những “kẽ hở” trong quản lý tài sản của Nhà nước và nhân dân, là cơ sở để phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả.
Ba là, phát hiện và xử lý nghiêm minh, khắc phục triệt để tham nhũng, xây dựng củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.
Phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, tham ô, tham nhũng, lãng phí gây nguy hại cho Đảng, cho Nhà nước, cho nhân dân, dù ở cương vị, chức trách nào. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, góp phần đấu tranh, phòng ngừa những hành vi tham nhũng, lãng phí, vi phạm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Làm tốt giải pháp trên góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ, đập tan các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù.
Bốn là, đấu tranh, phê phán các quan điểm lợi dụng tham nhũng để nhằm bôi nhọ chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Các tổ chức đảng, hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước, kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội xét lại lợi dụng phòng chống tham nhũng chống phá cách mạng nước ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, đặc biệt là thông qua các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” nhằm che đậy bản chất xấu xa, phản động; gieo rắc sự nghi ngờ, gây chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của nhân dân./.
                                                                                       Chân lý



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.238-239.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.490.