KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Hướng tới kỷ niệm 87 năm thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam, bọn phản động trong và ngoài nước đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc,
nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng
và nhân dân ta đã đạt được, nhưng thực tiễn 87 năm qua đã khẳng định vai trò
lãnh đạo của Đảng là không thể bác bỏ. Trong chiến lược “diễn biến
hòa bình”, mục tiêu nhất quán của các thế lực thù địch là xóa bỏ sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản (ĐCS) đối với cách mạng Việt Nam, với hy vọng: “Kịch bản này
đã thành công ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, ắt sẽ thắng lợi ở Việt Nam”.
Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn thâm hiểm.
Về lý luận,
chúng tung ra luận thuyết “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tốt hơn chế độ
một đảng lãnh đạo”, “chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là đối lập với dân chủ,
đồng nhất với độc tài, cản trở sự phát triển”, còn “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi
dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội” (?) Chúng
cố tình lờ đi một thực tế là dân chủ không phụ thuộc vào số lượng các đảng
chính trị, mà phụ thuộc vào bản chất chính trị của đảng cầm quyền, như: ở
Inđônêxia thời chính quyền Xuhactô; Philíppin thời chính quyền Fecdinan Maccot;
Chilê thời chính quyền Pinôchê,.. Tuy nhiên, luận thuyết ấy được áp dụng vào
Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, nó đã mê hoặc được không ít đảng viên cộng
sản và quần chúng nhân dân, nhất là khi nhân dân hoang mang, dao động trước
những khó khăn của đất nước; bức xúc trước những khuyết điểm trong lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước. Luận thuyết ấy đã góp phần gạt bỏ vai trò lãnh đạo
nhà nước và xã hội của các ĐCS và công nhân ở những nước này, là nhân tố quyết
định dẫn đến sự tan rã chế độ XHCN nơi đây. Chính vì thế, các thế lực thù địch
hy vọng luận thuyết trên sẽ phát huy tác dụng ở Việt Nam.
Về thực tiễn, các
thế lực thù địch xuyên tạc sự thật lịch sử để cố chứng minh chế độ một đảng
lãnh đạo là “sai lầm”. Chúng cho rằng, nếu không có ĐCS Việt Nam trên chính
trường thì dân tộc ta không phải tiến hành mấy cuộc chiến tranh lâu dài và đau
thương như thế; nếu ĐCS Việt Nam không “độc quyền” thì Việt Nam đã đứng trong
hàng ngũ các nước phát triển từ lâu… Những năm gần đây, chúng cường điệu một số
hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước,
nhất là một số hiện tượng đơn lẻ, biến nó thành bản chất, tất yếu của chế độ
một đảng lãnh đạo, rồi quy kết vào cái gọi là “lỗi hệ thống” - do một đảng lãnh
đạo. Vì vậy, chúng yêu cầu Đảng tự nguyện rời bỏ vai trò lãnh đạo, theo Chúng:
“Đảng chỉ giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, còn trong xây dựng kinh tế nên trao
quyền cho lực lượng chính trị khác”. Hiện nay, chúng công khai đòi bỏ Điều 4
quy định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, những
thủ đoạn của chúng bị thất bại. Bởi đại đa số nhân dân tin tưởng vào sự lãnh
đạo của ĐCS là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Điểm lại lịch sử cách mạng
nước ta từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy rõ: trước khi ĐCS Việt
Nam ra đời, không cam chịu ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân cả nước đã
liên tục vùng lên đấu tranh dưới các ngọn cờ lãnh đạo theo hệ tư tưởng phong
kiến, hay lập trường nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Đó là các phong
trào: Cần Vương, khởi nghĩa nông dân Yên Thế, cuộc vận động Duy Tân, Đông Kinh
nghĩa thục, các phong trào Đông Du, Tây Du, cuộc khởi nghĩa Yên Bái, v.v. Mặc
dù các phong trào đó sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, nhưng đều lâm vào
bế tắc và cuối cùng thất bại. Cũng chính thời gian này, hàng loạt tổ chức đảng
phái chính trị ra đời, như: Hội Phục Việt (năm 1925), Việt Nam Quốc dân
đảng (năm 1927),... với nhiều cương lĩnh chính trị khác nhau, nhằm chiếm lĩnh
vũ đài lịch sử, nhưng tất cả đều thất bại. Bởi, các ngọn cờ không phù hợp với
xu thế thời đại, không thỏa mãn được lợi ích và nguyện vọng chính đáng của cả
dân tộc.
Chỉ đến khi ĐCS Việt Nam ra
đời, với đường lối cứu nước đúng đắn, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và
CNXH, Đảng đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước, đánh dấu sự
kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Vậy là,
lịch sử cách mạng Việt Nam đã trao trọng trách lãnh đạo đất nước cho Đảng ta,
sau khi đã khảo nghiệm một cách khắt khe những phương án chính trị của các giai
cấp đương thời, chứ đâu phải là “độc quyền” như sự xuyên tạc của những kẻ cơ
hội. Đảng ta xứng đáng được lịch sử giao trọng trách vinh quang đó, bởi Đảng ta
là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Thực tiễn 87 năm qua minh chứng
rằng, dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, “Nước ta từ một
xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát
triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người
làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo,
kém phát triển, đang đẩy mạnh CNH,HĐH. Việc nước ta trở thành thành viên chính
thức của WTO; là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm
kỳ 2008 - 2009; Ủy viên Hội đồng Nhân quyền thế giới hiện nay; Tổng thư ký
ASEAN nhiệm kỳ 2013 - 2017; hàng loạt chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp
cao Đảng, Nhà nước đến một số nước Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga,
Va-ti-can,… theo lời mời của nguyên thủ các nước này với những nghi thức chào
đón trọng thị, đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam và ĐCS
Việt Nam trên trường quốc tế. Mấy năm gần đây, trước tác động của tình trạng
suy thoái kinh tế thế giới, trong khi nhiều nước không giữ được sự ổn định, thì
tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam vẫn là một điểm sáng của khu vực và thế
giới, hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối
ngoại vẫn đạt được những kết quả tích cực.
Vì vậy, để giữ vững và tăng
cường khi uy tín, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đưa sự
nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta thành công, Đảng đẩy mạnh thực hiện có
hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Tăng cường xây dựng chỉnh đốn
Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong nội bộ; cùng thực hiện Chỉ
thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với một hệ thống giải pháp
quyết liệt. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh mới đòi hỏi Đảng ta
phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà vấn đề cấp bách
biến tinh thần Nghị quyết Đại hội XII thành
hiện thực hiện. Tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của
Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới hoạt động của tổ chức cơ
sở đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; tăng cường quan hệ gắn
bó giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra,
giám sát; đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, v.v. Cùng với đó, phải
tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và các tổ chức
chính trị - xã hội, xây dựng được một Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của dân,
do dân, vì dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ cách
mạng là vấn đề then chốt để Đảng ta giữ vững vai trò lãnh đạo đối với xã hội.
Đó là cách làm hiệu quả nhất để bác bỏ những mưu toan và hành động phủ nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng.
Chân Lý
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét