Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

 CẢNH GIÁC, VẠCH TRẦN NHỮNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” HIỆN NAY

                                                                                                              Mặt Trời

          Chiến lược diễn biến hòa bình được các thế lực thù địch thực hiện từ thời chiến tranh lạnh nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa với phương châm  chiến thắng không cần chiến tranh. Quá trình thực hiện chúng hết sức coi trọng tác động, lôi kéo, phân hóa, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ đối phương. Âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa ngày càng tinh vi, phức tạp, đồng thời những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa được chúng ta nhận diện rõ hơn.

          Trên thực tế, các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong các Đảng Cộng sản cầm quyền và các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX và đó là nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ. Hội nghị Trung ương 8 (khóa VI - 3/1990) Đảng ta đã phân tích sâu sắc nguyên nhân sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Đến năm 1994, tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ, Đảng ta đã nêu rõ 4 nguy cơ thách thức đối với công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có nguy cơ diễn biến hòa bình. Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, tháng 10/2016, tại hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Trung ương đã nêu rõ 9 biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa, đó là:

          Một là, phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng.

          Hai là, phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế tam quyền phân lập, phát triển xã hội dân sự; phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

          Ba là, nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ, tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

          Bốn là, lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

          Năm là, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đòi phi chính trị hóa quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ Nhân dân với quân đội và công an.

          Sáu là, móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập, vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

          Bảy là, đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

          Tám là, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật; tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội; sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

          Chín là, có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

          Những biểu hiện nêu trên đòi hỏi chúng ta phải kiên trì với những nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết đề ra. Cần phải có những giải pháp rất cụ thể cả về giáo dục chính trị tư tưởng, công tác lý luận, về bảo vệ chính trị nội bộ, thực thi pháp luật... Trong đó, phải tập trung chống suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Bởi vì sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sớm muộn gì cũng dẫn tới suy nghĩ, hành động tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Đây là một bước rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới việc tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực  thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tiến hành phòng, chống, ngăn chặn các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa phải tiến hành đồng bộ từ trên xuống dưới và trong mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị. Luôn nhận thức sâu sắc âm mưu thủ đoạn diễn biến hòa bình thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ chúng ta. Nhất là gần đây nhiều học giả liên tục tuyên bố “diễn biến hòa bình” đã kết thúc “sứ mạng”, đã “hoàn thành nhiệm vụ” do lực lượng thù địch với ta nay đã chuyển thành đối tác trong bối cảnh quốc tế mới. Như thế có nghĩa là ta không cần phải phòng, chống “diễn biến hòa bình” nữa. Và chúng còn cho rằng hoàn toàn không có “diễn biến hòa bình”; chẳng qua Đảng Cộng sản Việt Nam tự vẽ ra và coi nó là “con ngáo ộp”, là cái không có thật để hù dọa Nhân dân, “lên gân” cán bộ, đảng viên mà thôi. Hơn lúc nào hết, phải tỉnh táo, vạch rõ bộ mặt thật và luận điệu đó chúng ta mới đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa có hiệu quả./.                                                                

 

KHÔNG THỂ DÙNG CHIÊU BÀI  “DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN” 

ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

                                                                                                         Mặt Trời

          Từ lâu nay, nhiều người vẫn thường “nhai đi, nhai lại” và lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để chống phá cách mạng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Và đây không phải dân chủ, nhân quyền theo đúng nội hàm của nó mà đó là những mưu toan, chiêu bài mà họ tuyên truyền, xuyên tạc, lừa bịp, bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế, gây rối, chia rẽ, tạo ra tình trạng mất đoàn kết trong nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, con bài “dân chủ, nhân quyền” còn được họ sử dụng như một công cụ trong chính sách đối ngoại, thông qua đó lấy cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia Việt Nam.

          Không ai có thể phủ nhận quyền con người là một giá trị tiến bộ, phổ biến, có tính toàn cầu. Song, quyền đó có tính lịch sử và phải gắn với điều kiện,  hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc. Quan niệm của phương Tây về lợi ích cá nhân và quan niệm của phương Đông về lợi ích của dân tộc là những quan niệm rất khác nhau, không thể áp đặt cho nhau. Thế nhưng một số nước phương Tây đã và đang dùng chiêu bài quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Họ tự cho mình có quyền “can thiệp nhân đạo” và quảng bá quan niệm “quyền con người không có biên giới”, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để phủ nhận quyền của các dân tộc khác, nhất là quyền tự quyết định vận mệnh hay tự lựa chọn con đường phát triển của mình. Mỗi quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền và công việc nội bộ của mỗi quốc gia phải do chính quốc gia ấy tự quyết định. Không thể có quốc gia nào đó tự coi mô hình phát triển của mình là khuôn mẫu rồi đem áp đặt “khuôn mẫu” này cho quốc gia khác. Chủ quyền của mỗi quốc gia dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt Nam hiểu rất rõ giá trị đích thực của chủ quyền, độc lập và tự do của quốc gia dân tộc. Cách mạng Việt Nam không ngoài mục đích đem lại độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân và đương nhiên là cho mỗi con người với giá trị cao nhất là quyền con người.

          Trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy cũng có trong Tuyên ngôn năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Con người không thể có quyền tự do, sung sướng, không thể được bảo đảm nhân quyền theo nghĩa đích thực nếu như họ sống trong một đất nước chưa giành được độc lập, tự do. Nước không được độc lập, tất yếu dân không thể có tự do. Một dân tộc còn nằm dưới ách thống trị của ngoại bang thì tự do, hạnh phúc đối với dân tộc ấy chỉ là ước mơ mà thôi. Độc lập dân tộc là điều kiện, cơ sở cho việc bảo đảm quyền con người. Rõ ràng, quan niệm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là chiêu bài mà một số người thường dùng làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước có chủ quyền.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam đã tiến hành trường kỳ kháng chiến, đã hy sinh biết bao xương máu để giành lại độc lập, tự do, dân chủ cho chính mình từ tay những kẻ xâm lược. Không lẽ ngày nay chúng ta trao lại quyền tự do, dân chủ ấy cho chính những kẻ chiến bại và vẫn còn đang ôm hận thất bại để chúng quay trở lại tước quyền sống, quyền tự do, dân chủ của ta một lần nữa. Đây là những kẻ đã trắng trợn, ngạo mạn chà đạp lên nhân quyền của nhân dân Việt Nam và nhân dân nhiều quốc gia khác. Họ đâu có đủ tư cách để phán xét về nhân quyền. Họ nói rằng mình là người tôn trọng độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền nhưng thực tế không phải. Chính họ đã và đang nhúng tay vào việc lật đổ những chính quyền được Nhân dân ta trực tiếp bầu ra một cách hợp hiến; chính họ đã và đang dùng vũ lực để tấn công vào các quốc gia độc lập, có chủ quyền, tàn sát những người dân vô tội chỉ vì chính quyền của các quốc gia ấy không phù hợp với họ. Tất cả những điều đó đang phơi bày trước nhân dân thế giới. Vì vậy, những luận điệu của họ không lừa bịp được ai, trừ một số kẻ vì tâm địa, mưu đồ đen tối mà không dám nhìn thẳng vào sự thật, không muốn thấy đúng sự thật mà thôi.

          Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” mà những người này cố bám lấy để chống phá cách mạng Việt Nam giờ đây đã trở nên quá lỗi thời, lạc lõng. Nhân dân Việt Nam đang được sống trong độc lập, tự do, dân chủ với tất cả quyền con người của mình. Nền dân chủ của Việt Nam đang được thực hiện thông qua pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bảo đảm quyền làm chủ thật sự của Nhân dân. Nhà nước Việt Nam luôn quán triệt, thực hiện quan điểm “dân là gốc” với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và Nhân dân là người quyết định thành quả lao động của mình. Nhân dân Việt Nam đã và đang phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng phát triển”. Bộ máy, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị đang được đổi mới gắn liền với cải cách hành chính, nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, phiền hà, nhũng nhiễu Nhân dân; đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Tuy hiện nay còn có những mặt hạn chế, còn nhiều thách thức mà nhân dân Việt Nam đang phải đối mặt và phấn đấu để vượt qua nhưng những thành tựu mà chúng ta đạt được vẫn là cơ bản, quan trọng./.

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CỦA                                      CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

                                                                                                             Mặt Trời

Những năm gần đây, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tập trung chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Chúng tìm mọi cách gây ra “sự hỗn loạn về lý luận”, “sự mơ hồ về chính trị”, “những khoảng trống về tư tưởng” và tâm lý hoài nghi, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu trên, chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó đặc biệt coi trọng thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ và bóp méo lịch sử; triệt để lợi dụng những khúc quanh, “khoảng trống” của lịch sử, sự thiếu hiểu biết về lịch sử… để xuyên tạc những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thủ đoạn trên của các thế lực thù địch là cực kỳ nguy hiểm vì nó tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang và làm cho quần chúng mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, để nhận diện đúng bản chất và vạch trần âm mưu thâm độc, thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực thù địch trong việc xuyên tạc, bóp méo lịch sử là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch hiện nay nhằm chống phá cách mạng nước ta thể hiện chủ yếu trên một số vấn đề sau:

Một là, các thế lực thù địch lợi dụng sự khủng hoảng, thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội để phủ nhận lịch sử, phủ nhận giá trị của học thuyết Mác - Lênin, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đã khẳng định lịch sử diễn ra không phải bằng con đường trơn tru và thẳng tắp; cái mới, cái tiến bộ ra đời là đúng quy luật nhưng khó tránh khỏi những khúc quanh, những bước thăng trầm, thậm chí thất bại cục bộ, tụt lùi tạm thời trên con đường hoàn thiện. Đặc biệt với sự ra đời một hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa chưa từng có trong lịch sử thì sự tồn tại những khúc quanh đó là điều dễ hiểu. Chính sự thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX là một trong những khúc quanh đó trong quá trình trưởng thành, phát triển của lịch sử xã hội loài người. Lợi dụng sự thoái trào đó, hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục lớn tiếng rêu rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã “lỗi thời”, chủ nghĩa xã hội hiện thực là “quái thai” của lịch sử; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường “phi lịch sử” không có cơ sở hiện thực. Dựa vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô chúng cho rằng chủ nghĩa xã hội đã hết sức sống, Đảng Cộng sản đã bất lực không còn nắm được vai trò lãnh đạo xã hội. Từ đó chúng “khuyên” chúng ta nên từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để đi theo “con đường thứ ba” chẳng phải chủ nghĩa xã hội mà cũng không phải tư bản chủ nghĩa, bởi vì chúng cho rằng thực tế chưa có một nước nào quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa thành công. Luận điệu xuyên tạc đó của các thế lực thù địch đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hoang mang, dao động, nghi ngờ về tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Và đó chính là “khoảng trống tư tưởng” mà chúng cố tình tạo ra nhằm chuyển hoá dần dần hệ tư tưởng vô sản sang hệ tư tưởng tư sản. Sự nguy hiểm của luận điệu này ở chỗ các thế lực thù địch lợi dụng khúc quanh, sự thoái trào cục bộ để phủ nhận toàn bộ lịch sử, đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; đồng nhất sự sụp đổ của một bộ phận chủ nghĩa xã hội hiện thực với sự sụp đổ của cả học thuyết dẫn đường là chủ nghĩa Mác - Lênin, và từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận sự tồn tại của hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Hai là, các thế lực thù địch lợi dụng những “khoảng trống” của lịch sử để xuyên tạc, bóp méo sự thật. Những “khoảng trống” của lịch sử là có thực và sự tái hiện, giải thích nó đúng như nó đã tồn tại là việc làm khá khó khăn. Điều này đặt ra cho các nhà khoa học phải nghiên cứu, tìm tòi, hiểu đúng tiến trình lịch sử trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học, khách quan, trung thực và sự vững vàng về chính trị. Đồng thời để tái hiện, giải thích đúng những “khoảng trống” này liên quan đến rất nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là những tư liệu và nhân chứng lịch sử. Trên thực tế, các thế lực thù địch thường lợi dụng chính những “khoảng trống” đó, tuyệt đối hóa và lấy đó làm “căn cứ” để giải thích hay chứng minh cho kết quả của cả tiến trình lịch sử. Đó là cách nhìn nhận, đánh giá phiến diện, cố tình làm sai lệch tiến trình, xuyên tạc, bóp méo lịch sử để chống phá cách mạng Việt Nam.

Ba là, các thế lực thù địch lợi dụng những sai lầm của Đảng Cộng sản trong quá trình vận dụng và phát triển học thuyết Mác - Lênin để bới móc, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử. Trên thực tế, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, các Đảng Cộng sản cầm quyền luôn luôn vận dụng linh hoạt và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước mình. Trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân được kết tinh trong đường lối chính trị của Đảng. Để biến đường lối thành hiện thực phải thông qua quá trình vận động cách mạng và tổ chức thực hiện. Tổng kết thực tiễn quá trình đó khó có thể tránh khỏi những hạn chế hoặc sai lầm ở một khâu, một bước nào đó và các thế lực thù địch thường triệt để bới móc và lợi dụng những thiếu sót đó để tiến công Đảng Cộng sản theo thể thức tuyệt đối hoá sai lầm, thổi phồng khuyết điểm. Chúng cố tình thổi phồng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, một tổ chức đảng thành khuyết điểm của toàn Đảng; sai lầm ở một khâu, một bước nào đó trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối thành sai lầm của toàn bộ đường lối của Đảng, thậm chí có kẻ còn lớn tiếng cho rằng đó là sai lầm của cả học thuyết, sai lầm thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội và của Đảng Cộng sản. Đồng thời, chúng còn lợi dụng lỗ hổng trong việc sửa chữa khuyết điểm, thiếu sót để phủ định sạch trơn quá khứ, phủ định những thành tựu vĩ đại của lịch sử nhằm gây tâm lý hoang mang, gieo rắc hoài nghi trong nhân dân, lôi kéo những cán bộ, đảng viên bất mãn, thoái hoá, biến chất bổ sung vào đội ngũ phản động hòng chống Đảng, chống nhân dân.

Bốn là, các thế lực thù địch luôn lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ về lịch sử, xem nhẹ truyền thống và chạy đua theo lối sống thực dụng của một bộ phận nhân dân trong đó chủ yếu là thanh niên để xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Trong bối cảnh quốc tế mới, với sự bùng nổ thông tin và sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các thế lực thù địch với âm mưu “diễn biến hoà bình”, không bỏ lỡ cơ hội ra sức tuyên truyền tác động vào thế hệ trẻ tư tưởng sống gấp, chạy theo đồng tiền, xem thường quá khứ… Sự nguy hiểm của âm mưu thủ đoạn này là ở chỗ chúng gieo rắc tư tưởng hoài nghi, phủ định quá khứ; lịch sử là cái để phê phán, còn hiện tại chỉ đơn thuần là lối sống hưởng thụ, thực dụng theo cơ chế thị trường tự do… Chúng ta nhận thức rằng, đất nước ta có được như ngày nay là sự phát triển liên tục của hàng ngàn năm lịch sử được Đảng ta nâng lên một tầm cao mới. Trách nhiệm của chúng ta là phải giáo dục thế hệ trẻ phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng trong chiến đấu và xây dựng, nhân nghĩa, thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống; không ngừng chăm lo giáo dục ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho thanh niên, tạo công ăn việc làm, lôi cuốn họ đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó chính là những biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn có hiệu quả ảnh hưởng tiêu cực của các luận điệu tuyên truyền tư sản tới thế hệ trẻ, xây dựng những người kế tục sự nghiệp của ông cha, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước./.

 

VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ CHẤP NHẬN “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ”, “ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP”

                                                                                                                         Mặt Trời

          “Đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là nội dung xuyên suốt trong luận điệu chống phá các nước xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch hiện nay mà bản chất thực sự của nó được che đậy khá tinh vi bằng những lời lẽ mỹ miều, giả danh khoa học, tiến bộ, nhân văn. Bởi vì các nước xã hội chủ nghĩa là các nước nhất nguyên về chính trị và một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản cầm quyền. Đối với Việt Nam, chúng ra sức tung hô, cổ súy cho quan điểm trên như một kiểu văn minh phương Tây; một kiểu tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Song chúng ta kiên quyết không chấp nhận đa nguyên về chính trị; chỉ có duy nhất một con đường đã lựa chọn là đi lên chủ nghĩa xã hội; không chấp nhận đa đảng đối lập mà chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Đồng thời mọi người cần nhận diện rõ bản chất, tính chất vô căn cứ cả về lý luận, thực tiễn để chủ động đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa sự xâm nhập của luận điểm này là rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

          Thực chất của quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là các thế lực thù địch tác động làm cho trong đất nước, trong xã hội xuất hiện nhiều khuynh hướng chính trị, nhiều đường lối phát triển khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Và đại diện cho mỗi khuynh hướng phát triển khác nhau ấy là các đảng phái chính trị. Nếu các khuynh hướng chính trị phát triển trái ngược nhau thì các đảng chính trị sẽ đối lập nhau. Trên thực tế hiện nay, ở một số nước tư bản chủ nghĩa đang thực hiện “đa nguyên chính trị” và “đa đảng đối lập” nhưng không hoàn toàn theo đúng nghĩa của nó. Mà thực chất là nhất nguyên chính trị tư sản, đa đảng nhưng không đối lập nhau. Dù đảng này hay đảng khác nắm chính quyền cũng đều thực hiện một mục đích chính trị duy nhất là phục lợi ích của giai cấp tư sản. Các đảng phái chính trị thuộc chế độ đa đảng ở những nước này thường có những mâu thuẫn và bản chất mâu thuẫn đó không có gì khác là sự “ăn chia” lợi ích trên lưng người lao động. Các đảng ấy vẫn một mực trung thành với hệ tư tưởng tư sản, cho nên vẫn là nhất nguyên về chính trị. Và cũng có nước xã hội chủ nghĩa thực hiện nhất nguyên (một con đường đi lên chủ nghĩa xã hội) nhưng đa đảng và các đảng phái chính trị hoàn toàn không đối lập nhau mà luôn thừa nhận quyền độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

          Về mặt hình thức, quan điểm trên rất dễ làm cho những người thiếu hiểu biết ngộ nhận rằng: “Đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” tức là khuynh hướng chính trị nào đúng sẽ được lựa chọn, đảng phái nào tiến bộ sẽ được cầm quyền và như thế mới có tự do, dân chủ, tiến bộ và “cạnh tranh bình đẳng”. Song ở các nước thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” luôn mất ổn định chính trị, xung đột phe cánh, suy đồi đạo đức, lối sống... Ngay cả nước Mỹ nhiều năm liền là quốc gia dẫn đầu thế giới về kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự; có trình độ phát triển nhất, văn minh nhất thì cũng là một quốc gia tồn tại đầy rẫy những bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc, nhiều bạo lực, đầy bất ổn.

          Xét đến cùng, quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là giả tạo để “trang điểm” cho cái gọi là tự do, dân chủ, tiến bộ kiểu phương Tây. Thế nhưng các lực lượng cơ hội chính trị lại tiếp nhận và thêu dệt về cái hay, cái tiến bộ của quan điểm trên như là nhìn vào bức tranh mờ ảo, không có tính hiện thực. Bởi xét từ tầng sâu bản chất, quan điểm trên như một loại “vi rút độc hại” luôn rình rập, xâm nhập vào bên trong phá hoại cơ thể của những quốc gia nhất nguyên chính trị và duy nhất một đảng cầm quyền. Con đường xâm nhập từ nhận thức đến tình cảm, quan điểm, thái độ, động cơ và cuối cùng là hành vi chống phá. Nó làm chệch hướng nhận thức, dẫn đến nghi ngờ, tán dương và cuối cùng là từ “diễn biến” đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

          Sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam là tinh thần và truyền thống đoàn kết, đồng lòng, đồng tâm, đồng sức trong đấu tranh với thiên nhiên cũng như chống giặc ngoại xâm bảo vệ non sông, gấm vóc với tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Nhờ truyền thống ấy, dân tộc ta đã vượt qua những bước thăng trầm, cam go nhất của lịch sử; đánh thắng các thế lực ngoại xâm để tồn tại, phát triển. Có nghĩa là tinh thần “nhất nguyên”, tinh thần đoàn kết luôn là chìa khóa thành công của dân tộc Việt Nam. Vì vậy chúng ta kiên quyết không chấp nhận “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và chỉ có một con đường duy nhất đúng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội - đó là sự lựa chọn của lịch sử, sự lựa chọn của Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta và chúng ta đang đồng thuận đi trên con đường ấy; sẽ không có con đường thứ hai và cũng không có đảng nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Đi ngược lại quy luật đó, trái với chân lý ấy sẽ là hành động chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam./.

 

KHÔNG LIÊN MINH QUÂN SỰ - CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG

HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN CỦA VIỆT NAM

 

Về chính sách không liên minh, trong Sách trắng quốc phòng Việt Nam năm 2019, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã khẳng định: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác”. Thực tế cho thấy sống cạnh những người “khổng lồ” là không hề dễ và các quốc gia cũng không thể thay đổi được vị trí địa lý của mình. Khi lợi ích an ninh bị đe dọa, các nước lớn sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp để bảo vệ lợi ích của mình và trong bối cảnh khi luật pháp quốc tế chưa có một chế tài đủ mạnh để ngăn chặn chiến tranh thì các nước vừa và nhỏ phải tự bảo vệ lợi ích của mình bằng cách cân bằng quan hệ với các nước lớn thay vì liên minh quân sự.

Trong quan hệ với các nước lớn, không được nghiêng về phía bất kỳ nước lớn nào và cũng không nên ảo tưởng là có thể dựa vào các nước lớn để bảo vệ lợi ích của mình. Trên thực tế, Tổng thống Ucraina - Volodymyr Oleksandrovych Zelensky đã sai lầm khi tin tưởng vào sự can dự của Mỹ và phương Tây để bảo vệ Ucraina. Khi ông Zelensky kêu gọi Mỹ và phương Tây ủng hộ thì điều mà Mỹ và phương Tây đã làm là viện trợ vũ khí, khí tài để Ucraina chống Nga và tuyên bố không can dự sâu hơn. Xung đột ở Ucraina hiện nay là bằng chứng rõ ràng và mạnh mẽ để chúng ta bác bỏ những luận điệu kêu gọi Việt Nam liên minh quân sự.

Có thể nói cuộc khủng hoảng tại Ucraina hiện nay càng củng cố thêm niềm tin vững chắc của nhân dân ta vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và chính sách không liên minh. Đường lối này không chỉ phù hợp với truyền thống ngoại giao của Việt Nam mà còn phù hợp với thực tiễn chính trị thế giới hiện nay. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của các nước lớn ở nhiều khu vực trong đó có Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, thì việc chúng ta cần làm là đoàn kết, thống nhất và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia hiện nay.

 

 

XUNG ĐỘT Ở UCRAINA VÀ BÀI HỌC VỀ ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

                                                                                                        HƯỚNG DƯƠNG

Thời gian gần đây, cả thế giới tập trung sự chú ý vào “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại Ucraina. Với ưu thế về truyền thông, phương Tây ra sức chỉ trích hành động của Nga và cho rằng Tổng thống Vladimir Putin hành động quá khó lường. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế chúng ta thấy hành động của Tổng thống V. Putin không quá bất ngờ bởi Nga đã cảnh báo Mỹ và phương Tây về “lằn ranh đỏ” an ninh của Nga mà Nga không cho phép Mỹ và phương Tây bước qua nhưng phương Tây đã phớt lờ và không coi trọng tiếng nói của Nga.

Nhìn vào cuộc xung đột hiện nay ở Ucraina, mỗi người sẽ có một suy nghĩ và cảm nhận khác nhau. Tuy nhiên, điều mà tất cả mọi người đều thấy đó là hậu quả của chiến tranh, thương vong của các bên tham gia và sự lo lắng, bất an về an ninh và phát triển của thế giới trong những năm tới.

Về bản chất, xung đột ở Ucraina hiện nay không phải là cuộc chiến giữa Nga và Ucraina mà đây là cuộc chiến của các nước lớn. Với vị trí địa - chính trị, địa - quân sự đặc biệt quan trọng ở châu Âu, Ucraina đã rơi vào vòng xoáy của cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Nga với Mỹ và NATO. Và sự tính toán của Ucraina đã khiến lãnh thổ của nước này trở thành nơi diễn ra cuộc chiến ủy nhiệm giữa Nga với Mỹ và phương Tây. Việc Ucraina chủ trương gia nhập NATO cho thấy Ucraina có lẽ đã bị lôi kéo bởi của Mỹ và phương Tây nhằm thực hiện âm mưu bao vây và kiềm chế Nga. Hành động quân sự của Nga cho thấy đối với các nước vừa và nhỏ thì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ là điều đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh quốc gia. Với vị trí địa - chiến lược quan trọng của mình, Việt Nam cũng đã từng là địa bàn cạnh tranh quyết liệt của các nước lớn và hiện nay vẫn tiếp tục nằm ở khu vực cạnh tranh chiến lược của các nước lớn, Việt Nam cần phải kiên trì, nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tránh để bị lôi kéo vào các cuộc cạnh tranh quyền lực của các nước lớn.

 

QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XIII VỀ “CHỦ ĐỘNG NGĂN NGỪA CÁC NGUY CƠ CHIẾN TRANH, XUNG ĐỘT TỪ SỚM, TỪ XA”

                                                                                                    Nhân Trần

“Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” là một phương thức bảo vệ Tổ quốc đã trở thành truyền thống của dân tộc, nhằm “giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Tinh thần đó tiếp tục được Đại hội XIII của Đảng kế thừa, vận dụng với nhiều giải pháp chiến lược đồng bộ và toàn diện. Vấn đề này lần đầu tiên được Đảng ta đưa vào Văn kiện chính thức của Đại hội XII: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định tinh thần đó không chỉ một lần, mà còn nhấn mạnh: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến” và “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Việc nhấn mạnh đến hai lần tinh thần đó đã khẳng định quyết tâm và chủ trương nhất quán của Đảng là kiên quyết và kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa một cách chủ động, nhưng không nhất thiết phải tiến hành chiến tranh, xem đó là “thượng sách” để giữ nước.

Điểm mới so với Đại hội XII là Đại hội XIII không đơn thuần khẳng định lại quan điểm của Đại hội XII, mà còn diễn giải quan điểm đó qua những luận điểm cụ thể, với sự nhấn mạnh tinh thần “chủ động”. Đó là “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; “phải chuyển mạnh sang việc “chủ động phòng ngừa” là chính; phải “nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”; phải “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”5. Nếu Đại hội XII nhấn mạnh đến “các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”6, thì Đại hội XIII không loại trừ “nhân tố bên ngoài”, khi nhấn mạnh “nhất là các nhân tố có thể gây đột biến” bao gồm cả “nhân tố bên trong” và “nhân tố bên ngoài”. Điều này cho thấy sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về sự chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình quốc tế có nhiều biến động, khó dự báo; đất nước đã hội nhập quốc tế sâu, rộng, nên đứng trước không chỉ những vận hội lớn để phát triển, mà sẽ còn phải đương đầu với các thách thức gay gắt, những “nhân tố bên ngoài” có thể gây đột biến, dẫn đến nguy cơ bùng nổ xung đột, chiến tranh.

Việc Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, gửi đi thông điệp hòa bình, thể hiện khát vọng mong muốn hòa bình của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã phải trải qua các cuộc chiến tranh với nhiều đau thương, mất mát để có được nền độc lập như ngày nay. Dân tộc đó không cần chiến tranh, mà cần một môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, có ý nghĩa chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nỗ lực phấn đấu hiện thực hóa chủ trương “giữ cho trong ấm, ngoài yên” để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc đất nước còn chưa nguy, bằng những giải pháp đồng bộ, toàn diện:

Thứ nhất, tập trung xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, theo tinh thần “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối thống nhất”. Đó chính là xây dựng yếu tố nội lực, bên trong đủ khả năng ngăn ngừa, đẩy lùi các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Thực hiện yêu cầu đó, Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh: “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”; phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2025: đưa nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045: trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực quốc phòng và an ninh đủ mạnh, thế trận quốc phòng và an ninh vững chắc ngay từ thời bình để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huốngVề tiềm lực, Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh việc “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Điểm mới so với Đại hội XII ở chỗ: Đại hội XIII cụ thể hóa phương châm “từng bước hiện đại” bằng chủ trương xây dựng “một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại” trong giai đoạn 2021 - 2030, phấn đấu từ năm 2030 sẽ “xây dựng quân đội hiện đại”, chứ không còn là “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” như trước. Bước đi đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư và phù hợp với tiềm lực kinh tế của đất nước trong giai đoạn mới. Cùng với đó, Đại hội XIII chủ trương “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội” nhằm tự đảm bảo một phần quan trọng vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân đội và Công an thực hiện nhiệm vụ. Về thế trận, Đại hội XIII yêu cầu tập trung xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, coi trọng việc phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Đồng thời, cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả sự kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực, các vùng, miền, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch. Theo đó, phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại trong quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân; chăm lo “xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo”.

Thứ ba, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, nhằm tăng đối tác, giảm đối tượng, thêm bạn, bớt thù đối với cách mạng Việt Nam. Đây cũng là một phương thức chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa có hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, công tác đối ngoại, hoạt động ngoại giao có vai trò ngày càng lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thông qua các hoạt động đối ngoại, chúng ta có thể làm cho bạn bè trên thế giới hiểu rõ khát vọng hòa bình của dân tộc ta, hiểu rõ chủ trương, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của nhân dân ta là nền quốc phòng với mục đích tự vệ. Qua đó, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta liên quan đến hoạt động đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Việc thực hiện tốt công tác đối ngoại sẽ kịp thời tháo gỡ những căng thẳng có nguy cơ dẫn đến xung đột, chiến tranh. Mặt khác, thông qua hoạt động đối ngoại với phương châm “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”, còn giúp chúng ta tạo thế đan cài lợi ích, tăng độ tin cậy với các nước; qua đó, có thể sớm nắm bắt được tình hình liên quan đến quốc phòng, an ninh của đất nước để chủ động dự báo, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước có đối sách và biện pháp xử lý các tình huống một cách phù hợp, hiệu quả. Trong thời gian tới, để chủ động phòng ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, Đại hội XIII chủ trương “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương”; coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh, “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.

Thứ tư, nâng cao năng lực dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại để tham mưu chính xác cho Đảng, Nhà nước sớm có đối sách chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Việc dự báo chính xác tình hình sẽ góp phần quan trọng để các cơ quan chiến lược tham mưu với Đảng, Nhà nước có các biện pháp giữ thế chủ động chiến lược, hóa giải những nguy cơ bùng nổ thành xung đột, chiến tranh. Đây là một biện pháp cực kỳ quan trọng, nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế hiện nay có nhiều biến động, bất trắc, khó dự báo. Điều đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chiến lược của Quân đội, Công an và Ngoại giao trong nghiên cứu, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các tình huống chiến lược có thể xảy ra để tham mưu chính xác cho Đảng, Nhà nước có đối sách thích hợp, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo; nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, chủ động thích ứng trước tình hình biến động trên thế giới và trong nước của đội ngũ cán bộ làm công tác dự báo chiến lược. Đồng thời, có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các kênh ngoại giao và cơ quan đối ngoại của cả ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân./.                                                                                            

 

MỤC TIÊU BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THEO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Nhân Trần

Kế thừa tư duy của Đảng từ các kỳ đại hội trước và bám sát đòi hỏi từ thực tiễn tình hình thế giới, khu vực, trong nước, Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ mục tiêu tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, mục tiêu của tăng cường quốc phòng, an ninh là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội XIII, tư duy của Đảng về xác định nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc tiếp tục có sự bổ sung, phát triển toàn diện, cụ thể và sâu sắc hơn. Đó là đã tiếp tục khẳng định và đặt việc bảo vệ các phương diện tự nhiên - lịch sử với bảo vệ về chính trị, văn hóa, xã hội và lợi ích quốc gia - dân tộc, môi trường hòa bình, ổn định… trong một chỉnh thể thống nhất biện chứng không tách rời nhau. Bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mà phải gắn với bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; phải bảo vệ nền văn hoá và lợi ích quốc gia - dân tộc; phải tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị để phát triển bền vững đất nước; phải bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người; phải xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa… không được cứng nhắc, tuyệt đối hóa bất kỳ nội dung nào; thực hiện nội dung này là cơ sở, điều kiện, tiền đề, kết quả để thực hiện nội dung khác và ngược lại.

Tuy nhiên, trong tình hình mới, nhằm chủ động ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống đang nổi lên ngày càng gay gắt, nhất là nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và bảo đảm xã hội ổn định; Đại hội XIII đã coi trọng và nhấn mạnh đến vấn đề bảo đảm an ninh, an toàn của đất nước và người dân. Đó là: “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng chống thiên tai, dịch bệnh”. Do đó, Đại hội XIII đã bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc; trong đó gồm cả bảo vệ “an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh”. Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển; con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn trong những năm qua, nhất là trong ứng phó với thảm họa, thiên tai, lũ lụt; trong phòng, chống đại dịch Covid - 19 trên khắp mọi miền đất nước với tinh thần “không để ai tụt lại phía sau” là những minh chứng rõ nét cho sự bổ sung, phát triển này.

Cùng với sự xuất hiện của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống và có những diễn biến ngày càng phức tạp, vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, chủ quyền số quốc gia cũng đang nổi lên, là mối quan tâm chung của nhân loại và toàn xã hội khi mà cách mạng công nghiệp lần thứ Tư phát triển mạnh; nhất là sự phát triển của công nghệ thông tin làm cho môi trường điện từ ngày càng trở nên phổ biến. Theo đó, không gian mạng, môi trường điện từ là không gian chiến lược mới của Tổ quốc cần phải được quản lý, bảo vệ và bảo đảm vững chắc. Do đó, Văn kiện Đại hội XIII còn bổ sung “giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống”. Bởi vì độc lập, chủ quyền của quốc gia không chỉ là vấn đề về lãnh thổ với không gian, địa lý đã xác định mà cần nhấn mạnh đến độc lập chủ quyền trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, không gian mạng... Vì vậy, nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xác định phải giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống là nhận thức mới, sự bổ sung phù hợp với thực tiễn tình hình đang vận động, phát triển./.

 

PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN THEO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Nhân Trần

          Lực lượng vũ trang nhân dân (bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ) là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Để giữ vững và phát huy vai trò là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; Văn kiện Đại hội XIII xác định phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Tập trung xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội và công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Trên thực tiễn, từ Đại hội VII (năm 1991), Đảng xác định phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Quán triệt và thực hiện phương hướng đó, trong công cuộc đổi mới, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam đã có sự trưởng thành khá vững chắc, được xây dựng vững mạnh toàn diện theo đúng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến lên hiện đại. Trước sự tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới tăng cường đầu tư cho quốc phòng, an ninh và những diễn biến mới của tình hình đã tạo áp lực không nhỏ đối với nước ta về tăng cường quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa  vũ khí trang bị cho Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, Đại hội XIII xác định phương hướng nêu trên là đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và trình độ khoa học - công nghệ của đất nước; vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia cả trước mắt và lâu dài; đồng thời, đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an Nhân dân ta.

Tập trung thực hiện có hiệu quả đề án điều chỉnh cơ cấu, tổ chức Quân đội nhân dân phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với nghệ thuật quân sự và vũ khí trang bị; bảo đảm cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu; cân đối giữa các quân chủng, binh chủng; tổ chức hợp lý, chất lượng cao. Kiên quyết giảm đầu mối trung gian; phân định rõ vị trí, chức năng của các cơ quan, đơn vị; khắc phục sự chồng chéo về nhiệm vụ. Ưu tiên, bảo đảm đủ quân số cho các đơn vị cơ sở trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, tuyến biên giới, biển, đảo. Tập trung xây dựng lực lượng dự bị chiến lược thuộc một số binh chủng. Với lực lượng bộ binh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh tác chiến và khả năng cơ động cao, sẵn sàng xử lý các tình huống xảy ra. Coi trọng xây dựng, củng cố các lực lượng đặc thù đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới. Tổ chức quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống các học viện, nhà trường quân đội theo hướng rút gọn đầu mối; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao chất lượng kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với hoạt động thực tiễn chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Sắp xếp lại các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế các đơn vị kinh tế - quốc phòng cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội cụ Hồ” thời kỳ mới bằng những hình thức, biện pháp, cách làm sáng tạo, phù hợp; tạo động lực tinh thần mạnh mẽ trong toàn quân.

Đối với Công an nhân dân phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với xây dựng lực lượng công an vững mạnh. Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15/3/2018 “Về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; bảo đảm “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, gần dân, sát dân, sâu sát cơ sở, tăng cường cho cơ sở, cho lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Tích cực thực hiện phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”, phong trào thi đua “vì an ninh Tổ quốc” gắn với Cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” theo đúng phương châm “chủ động, nêu gương, kỷ cương, trách nhiệm, hiệu quả”, sẵn sàng “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Cùng với xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Văn kiện Đại hội XIII còn nhấn mạnh: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội cơ sở là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân gắn chặt với nền an ninh nhân dân mà Việt Nam xây dựng; đồng thời, thể hiện sự tư duy sáng tạo, bước đột phá của Đảng, đáp ứng yêu cầu khách quan về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

 

TIẾP TỤC QUÁN TRIỆT VÀ THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM BẢO VỆ   TỔ QUỐC “TỪ SỚM, TỪ XA” CỦA ĐẢNG                                                                                                      

                                                                                              Nhân Trần

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” là tổng thể các tư tưởng, hành động của Đảng, Nhà nước và Nhân dân diễn ra từ trước, nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này thể hiện tầm nhìn chiến lược, tính chủ động, sáng tạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là sự kế thừa bài học, kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của tổ tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Hiện nay, cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

 Thứ nhất, chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu, cơ sở khoa học để Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc. Trước bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn, khó dự báo, thì việc nâng cao năng lực xử lý thông tin, dự báo, tham mưu chiến lược, chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động là hết sức cần thiết, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tạo môi trường, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước. Quan điểm này, không chỉ thể hiện trí tuệ, tầm nhìn chiến lược, sắc sảo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, mà còn là một trong những đột phá tư duy, nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng. Theo đó, các cơ quan tham mưu chiến lược Bộ Quốc phòng phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, lực lượng liên quan thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao chất lượng nắm, nghiên cứu, dự báo tình hình chiến lược; tập trung vào những động thái, chuyển dịch các chiến lược an ninh, quốc phòng, đối ngoại,… của các nước lớn, các nước láng giềng; kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại mọi mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch cả bên trong và bên ngoài biên giới, lãnh thổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; tích cực tham gia bảo vệ nền hòa bình khu vực và thế giới.

Thứ hai, xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Tập trung “xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao; xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp có số lượng phù hợp, coi trọng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ các địa bàn trọng điểm”. Đồng thời, “tổ chức, triển khai đồng bộ, thống nhất việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh”. Thực hiện tốt nội dung này, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị cần tiếp tục xây dựng các tiềm lực: chính trị - tinh thần, kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ và đối ngoại vững mạnh, phục vụ đầy đủ, kịp thời nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình và sẵn sàng huy động cho chiến tranh. Kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với tăng cường quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại; xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế, quốc phòng, kỹ thuật,… vững chắc, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế - quốc phòng, tập trung vào địa bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng, an ninh, biên giới, biển, đảo. Thường xuyên củng cố, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn và cả nước.

Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tư duy về phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc của Đảng được Đại hội XIII nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Đây là nét đặc trưng trong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, là quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta, nhằm động viên, quy tụ, phát huy cao độ sức mạnh của các nhân tố chính trị - tinh thần, tư tưởng, văn hóa, quốc phòng, an ninh, kinh tế, đối ngoại; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và cả hệ thống chính trị, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Đó còn là sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông tuyên truyền sâu rộng, liên tục để nhân dân thế giới và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu đủ về Việt Nam, từ đó ủng hộ, chia sẻ, giúp đỡ, tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, phương thức bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc phải được chủ động tiến hành, lấy phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, xung đột là chính; phương thức bảo vệ Tổ quốc là kiên quyết, kiên trì đấu tranh, không chỉ ngăn chặn chiến tranh xâm lược từ bên ngoài mà phải: “phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nước, mục tiêu cao nhất là phải bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc, giữ cho được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang và cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tập trung hoàn thiện, phát huy hiệu quả hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh. Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược An ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành. Chủ động nghiên cứu, xây dựng chương trình, kế hoạch, biên soạn hệ thống tài liệu tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nội dung các chiến lược và các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, bảo đảm phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng đối tượng, quyết tâm đưa nghị quyết vào thực tiễn.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, phát huy tối đa nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước”. Lần đầu tiên, Đảng ta cũng nêu rất rõ đối ngoại gồm ba trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân. Đây là ba kênh đối ngoại Trung ương - lực lượng nòng cốt đấu tranh ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế cả về vật chất, tinh thần trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước. Đối ngoại quốc phòng là bộ phận quan trọng của đối ngoại quốc gia, Đảng ta xác định: Lấy đối ngoại quốc phòng làm công cụ quan trọng giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực. Mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là, thiết lập và phát triển quan hệ về quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, nhằm huy động các nguồn lực bên ngoài vào củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang, giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Điểm mới về nhiệm vụ của đối ngoại quốc phòng của Đại hội XIII “đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”./.