BẢN CHẤT ƯU
VIỆT, TỐT ĐẸP CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thứ nhất, Nhân dân là chủ
thể tối cao của quyền lực nhà nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh cách mạng,
trải qua bao hy sinh gian khổ làm nên cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhân dân tự
mình lập nên nhà nước. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay là
sự tiếp nối sự nghiệp của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là nhà nước do
Nhân dân mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí thức, tự mình định đoạt
quyền lực nhà nước. Nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà
nước, thực hiện quyền lực nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ
bản nhất là Nhân dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của
mình. Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng
nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.
Thứ hai, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập
trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam là vấn đề có truyền thống lâu dài, là
nguồn gốc sức mạnh của nhà nước. Ngày nay, tính dân tộc ấy lại được tăng cường
và nâng cao nhờ khả năng kết hợp giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân
tộc và tính thời đại. Điều 5 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống
trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau
cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc
gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản
sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của
mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để
các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.
Thứ ba, Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình
đẳng trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Trước đây, trong các kiểu nhà nước cũ, quan hệ giữa nhà nước và công dân
là mối quan hệ lệ thuộc, người dân bị lệ thuộc vào nhà nước, các quyền tự do
dân chủ bị hạn chế. Ngày nay, khi quyền lực thuộc về Nhân dân thì quan hệ giữa
nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân có quyền tự do dân chủ trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời làm tròn nghĩa vụ trước nhà nước.
Pháp luật bảo đảm thực hiện trách nhiệm hai chiều giữa nhà nước và công dân;
quyền của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nước, nghĩa vụ của công dân
là quyền của nhà nước.
Thứ tư, Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ và pháp quyền. Dân chủ hóa đời sống nhà nước và xã hội không chỉ là nhu cầu bức thiết
của thời đại mà còn là một đòi hỏi có tính nguyên tắc, nảy sinh từ bản chất dân
chủ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất của dân chủ xã
hội chủ nghĩa là thu hút người lao động tham gia một cách bình đẳng và ngày
càng rộng rãi vào quản lý công việc của nhà nước và của xã hội. Vì vậy, quá
trình xây dựng nhà nước phải là quá trình dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, đồng thời phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành các quyền của
công dân, quyền dân sự, chính trị cũng như quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Phát
huy được quyền dân chủ của Nhân dân ngày càng rộng rãi là nguồn sức mạnh vô hạn
của nhà nước. Dân chủ bao giờ cũng gắn với pháp luật. Đó là bản chất của nhà
nước pháp quyền. Vì vậy, toàn bộ cơ quan nhà nước từ cơ quan lập pháp, hành
pháp, tư pháp đều phải được tổ chức và hoạt động theo pháp luật, bằng pháp
luật. Nhà nước ban hành pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng nhà
nước và cơ quan nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật. Cơ quan nhà nước “chỉ
được làm những điều pháp luật cho phép”; bảo đảm và phát triển quyền tự do dân
chủ của Nhân dân, còn Nhân dân “được làm tất cả những gì pháp luật không cấm”.
NHÂN TRẦN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét