KHÔNG CHẤP NHẬN “PHI CHÍNH TRỊ HOÁ QUÂN ĐỘI”
Mặt Trời
Thời gian
vừa qua, nhiều người công khai đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”,
yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”. Họ cho rằng “Quân đội nhân dân Việt
Nam từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, cán bộ chiến sĩ quân đội đều
là con em của Nhân dân, là để bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy quân đội
không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái hay một thể chế chính trị nào. Và quân
đội ấy phải là của Nhân dân, của toàn dân, không thể do Đảng cộng sản lãnh đạo,
phải mang bản chất của toàn dân chứ không phải mang bản chất giai cấp công nhân
của Đảng - một kiểu quân đội phúc lợi xã hội chung”. Thực chất của quan điểm đó
là gì và vì sao chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó?
Có thể
nói, người đưa ra quan điểm trên chưa nghiên cứu kỹ về lý luận cũng như thực
tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội; chưa am hiểu sâu sắc về bản chất quân
đội kiểu mới - Quân đội nhân dân Việt
Về bản
chất nói chung quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà
nước, đảng chính trị nhất định để tiến hành đấu tranh vũ trang bảo vệ lợi ích của
chính giai cấp, nhà nước, đảng chính trị đó. Về bản chất chính trị xã hội (bản
chất giai cấp) của quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào bản chất giai cấp của
giai cấp, nhà nước, đảng chính trị đã tổ chức ra, nuôi dưỡng và sử dụng quân
đội ấy. Không có quân đội siêu giai cấp (mang nhiều bản chất giai cấp) hay phi
giai cấp (không mang bản chất giai cấp). Quân đội có bổn phận bảo vệ lợi ích
của giai cấp, nhà nước, đảng và thể chế chính trị đã tổ chức ra, nuôi dưỡng và sử
dụng quân đội ấy. Không bao giờ có quân đội của giai cấp này, nhà nước này lại
đi bảo vệ lợi ích của giai cấp khác, nhà nước khác. Khi lợi ích của giai cấp, nhà
nước, đảng chính trị thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động (như ở Việt
Nam) thì quân đội đồng thời bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân. Khi quan hệ lợi
ích đó mâu thuẫn gay gắt và không thể điều hòa, nhà nước của các giai cấp thống
trị sử dụng quân đội để trấn áp sự phản kháng của nhân dân, đàn áp phong trào
yêu nước.
Quan điểm
“phi chính trị hóa quân đội” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc
đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính
trị diễn ra gay gắt. Ban đầu những người đưa ra quan điểm trên muốn quân đội
đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm
soát các cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng thực tiễn không có quân đội đứng
ngoài chính trị. Trong cuốn “Đảng phái và chính trị ở Hoa Kỳ”, nhà nghiên cứu chính
trị Mỹ Clinton Rossiter đã phân tích sâu sắc sự chia rẽ, tranh giành quyền lực
dẫn đến những xung đột chính trị giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, coi đó là
một đặc trưng của chính trường Mỹ. Dấu ấn trong nhiệm kỳ đầu của Tổng
thống B.Ôbama chính là những đối đầu giữa hai đảng ở quốc hội hơn là những đạo
luật và quyết sách được thông qua. Có thời điểm chính quyền gần như tê liệt bởi
Đảng Cộng hòa nắm đa số ở Hạ viện đã phủ quyết hầu hết các quyết sách của Tổng
thống. Trong bối cảnh đó, nhiều tướng lĩnh và chính khách đã kêu gọi “quân đội
đứng ngoài chính trị”, nhưng trong thực tế cả hai đảng đều ra sức tranh giành
sự ủng hộ về chính trị của quân đội.
Ở Thái
Lan, nhiều chính khách yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng từng cam kết “quân đội không can dự vào chính trường”, thậm chí Hiến
pháp năm 1997 của Thái Lan tuyên bố loại quân đội khỏi chính trị nhưng trong thực
tế không có điều đó. Ngày 19/9/2006, tướng Sonthi cùng một số tướng lĩnh quân
đội làm đảo chính lật đổ chính phủ của Thủ tướng Thaksin. Trong 5 năm (2006 - 2011)
các cuộc biểu tình, xung đột của các phe “Áo vàng” (PAD) và “Áo đỏ” (UDD) làm
cho Thái Lan lâm vào khủng hoảng chính trị, bốn lần thay đổi chính phủ; quân
đội đã tham gia trấn áp những người biểu tình ủng hộ Thaksin. Trong bầu cử
tháng 7/2011, tướng Prayut Chanocha - Tổng Tham mưu trưởng liên quân tuyên bố
quân đội không can thiệp vào chính trị, song lại hậu thuẫn đắc lực cho Đảng Dân
chủ của cựu Thủ tướng Abhisit.
Trong
chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, nhiều
người ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”. Sẽ là sai lầm
nghiêm trọng và phải trả giá rất đắt nếu ngộ nhận, mất cảnh giác trước âm mưu,
thủ đoạn trên. Lịch sử thế giới đã cho chúng ta bài học xương máu về vấn đề
này. Đó là vào những năm thập niên 90 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng,
Nhà nước Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo Hồng quân trong xây
dựng quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho Hồng quân bị “phi
chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa. Đó là nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ
và tan rã của Liên bang Xô viết. Mặc dù lúc đó Hồng quân còn 3,9 triệu quân
thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến
đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược nhưng “đứng ngoài” chính trị
nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Nhà nước Xô viết.
Quân đội
nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức,
lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân
Việt Nam đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là lực lượng chính
trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và Nhân
dân. Bản chất của Quân đội ta thể hiện rõ nét ở sự thống nhất hữu cơ giữa tính
đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc; được biểu hiện sinh động ở mục
tiêu lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và
chức năng, nhiệm vụ của mình. Lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân. Đó là lý tưởng chính
trị, đạo đức mang tính cách mạng, khoa học, thấm đượm tính nhân văn sâu sắc;
không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam
đương đại mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền độc
lập - tự do - hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên
suốt hành trình lịch sử dân tộc. Đồng thời lý tưởng đó thể hiện tình cảm sâu
nặng và trách nhiệm chính trị cao cả của Quân đội đối với Đảng, với Tổ quốc và
Nhân dân. Quân đội ta được xây dựng trên nền tảng vũ trang toàn dân và làm nòng
cốt cùng toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, thực sự là Quân đội của Nhân
dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ đều từ nhân dân mà ra,
được tuyển chọn từ con em các tầng lớp nhân dân lao động. Quá trình trưởng thành
của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội có những đặc điểm riêng, song đều có cái
chung là sự lãnh đạo và giáo dục của Đảng, sự tôi luyện trong tổ chức quân sự
và hoạt động quân sự, được Nhân dân hết lòng nuôi dưỡng, đùm bọc.
Quân đội
ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; Nhà nước
thống nhất quản lý đối theo quy định của pháp luật. Các tổ chức đảng trong Quân
đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá
nhân phụ trách theo chức trách, nhiệm vụ. Trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo vững
chắc, toàn diện, xuyên suốt của các tổ chức đảng thực hiện chế độ một người chỉ
huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội. Chức
năng, nhiệm vụ của Quân đội ta có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Trong
chiến đấu, Quân đội ta thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân đánh
giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần
chúng, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, xả thân
hy sinh để bảo vệ Nhân dân. Trong lao động sản xuất, Quân đội ta tích cực tham
gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng và an
ninh, xung kích đến những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn gian khổ để xây
dựng những khu kinh tế - quốc phòng, những công trình có ý nghĩa chiến lược của
đất nước. Trong thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội ta luôn đồng
cam cộng khổ cùng Nhân dân, tích cực vận động và giúp đỡ Nhân dân xóa đói giảm
nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống
chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và
cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân; luôn đi đầu trong phòng, chống cứu
hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để
cứu tính mạng và tài sản của Nhân dân. Có thể nói, tính chính trị và tính nhân
văn gắn kết thống nhất trong bản chất và truyền thống của Quân đội ta và điều đó
là không thể phủ nhận.
Thực tiễn
cho thấy quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” nêu trên đưa ra xuất phát từ
những mưu đồ, toan tính cơ hội, thực dụng. Thực chất đó là tuyệt đối hóa chức
năng xã hội để cố tình phủ nhận chức năng thống trị giai cấp của quân đội; là
lôi kéo Quân đội ta xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và mục tiêu lý tưởng
chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tách Quân đội ra
khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị và bị vô
hiệu hóa; đồng thời làm cho Đảng, Nhà nước không còn nắm vững công cụ bạo lực
trong tay. Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó, bởi đó sẽ là nguyên nhân
làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của Quân đội, dẫn đến mất ổn định chính trị - xã
hội và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét