NÉT ĐẶC SẮC CỦA SỰ LỰA CHỌN THỜI CƠ
TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Mặt Trời
Sự thành công của Cách
mạng tháng Tám là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc anh
hùng, bất khuất có lịch sử hàng nghìn năm chống xâm lược phong kiến và ngót một
trăm năm chống ách thống trị của bọn đế quốc thực dân. Đó cũng là kết quả của
15 năm đấu tranh (1930 - 1945) của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc Việt
Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh. Có
thể thấy rằng sự thành công của Cách mạng tháng Tám là nhờ sự hội tụ những điều
kiện khách quan và chủ quan khác nhau. Và một trong những vấn đề đó chính là
việc Đảng ta đã biết nhận định về thời cơ và chớp lấy thời cơ. Thời cơ là một
hoàn cảnh thuận lợi đến trong một thời gian ngắn, đảm bảo một việc nào đó có
thể tiến hành có kết quả. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hợp thành
tình thế cách mạng có ba nhân tố chủ yếu sau:
Thứ nhất, giai cấp và tầng lớp
thống trị bên trên đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, không thể kiểm
soát nổi tình hình, trở nên bất lực, không còn có chế độ thống trị như cũ được
nữa.
Thứ hai, các giai cấp và tầng
lớp bị trị bên dưới cũng rơi vào tình trạng cơ cực, bị bần cùng không thể chịu
đựng được nữa, không thể sống nổi nữa. Mâu thuẩn đã gay gắt đến cực độ và quần
chúng đã sẵn sàng đi tới một hành động giải phóng.
Thứ ba, tầng lớp, bộ phận
trung gian, những người trí thức yêu nước, có tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những
người có tinh thần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sản nhưng gần
với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngã về phía cách mạng. Tương quan
lực lượng có lợi cho phía cách mạng.
Hội đủ những điều kiện
đó, về cơ bản, tình thế cách mạng đã chín muồi. Như vậy, một cuộc khởi nghĩa
diễn ra thành công không phải dựa vào một âm mưu, một đảng phái mà phải dựa vào
cao trào cách mạng của nhân dân, dựa vào một chuyển hướng lịch sử quyết định.
Xét trên bình diện đó,
chúng ta có thể nhận thấy ở Việt Nam vào đầu những năm 1940, đặc biệt sau khi
cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra thất bại thì vấn đề thời cơ được bàn luận đến rất
nhiều. Vào tháng 5 năm 1941, trong Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương lần thứ Tám tại Pắc Bó, Cao Bằng dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc và quyền Tổng Bí thư Trường Chinh. Nghị quyết đã dự báo một cách chính xác
về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và hệ lụy của nó: “Nếu cuộc đế quốc chiến
tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến
tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó cách mạng nhiều nước
thành công”. Như vậy, thời cơ sẽ đến với nhiều nước trên thế giới khi chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc, phần thắng nghiêng về Liên Xô và phe dân chủ.
Đó là một khả năng làm xuất hiện thời cơ có lợi cho cách mạng nhiều nước, trong
đó có cách mạng nước ta. Hội nghị còn nhận định rằng cuộc cách mạng Đông Dương
là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới và lúc đó là một bộ phận của
phong trào dân chủ chống phát - xít. Vận mệnh của dân tộc Đông Dương gắn liền
với vận mệnh của Liên xô; đồng thời, cũng gắn liền với cách mạng Trung Quốc.
Bước sang cuối năm
1941, đầu năm 1942, khi chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra, Nhật tràn vào Đông
Dương thì lúc này khả năng đội quân kháng Nhật của Trung Quốc sẽ tràn vào đánh
Nhật ở trên đất nước ta. Lúc này, vấn đề thời cơ lại được nêu ra. Tuy nhiên,
theo nhận định của Trung ương Đảng thì: “Có nhiều đồng chí tưởng chiến tranh ở
Thái Bình Dương nổ ra và Hoa quân nhập Việt thì lập tức ta có đủ điều kiện khởi
nghĩa”; “sự thực, nói chung toàn quốc, ta chưa vào một tình thế cách mạng.
Những điều kiện khởi nghĩa của Đông Dương chưa chín muồi. Vì sao? Vì một là
quân thù chưa có sự hoang mang đến cực điểm, chiến tranh chưa đẩy chúng đến một
tình thế khủng hoảng phổ thông; hai là tầng lớp nhân dân ngoài vô sản tuy đã
ghét Pháp và bắt đầu chán Nhật, nhưng chưa ngã hẳn về phía cách mạng, họ còn
chịu ảnh hưởng của bọn Việt gian một phần nào”.
Gần ba năm sau, tháng
10 năm 1944, cục diện chiến tranh thế giới thứ hai đã bắt đầu đi đến hồi kết,
Hồng quân Liên Xô đã đánh lùi quân Đức ra khỏi biên giới Liên Xô và đang tiến
qua Trung Âu, quân Nhật thất bại thảm hại ở chiến trường Thái Bình Dương. Trong
thư gửi cán bộ và đồng bào, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh: “Phe xâm lược gần đến
ngày bị tiêu diệt. Các nước đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối
cùng”.Từ sự phân tích trên, Người khẳng định: “cơ hội cho dân tộc ta giải phóng
chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”.
Tuy nhiên, “nhanh” nhưng không nóng vội, vì vậy, Người đã chỉ thị thành lập đội
“Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” vào ngày 22 tháng 12 năm 1944.
Trong suốt đầu năm
1945, Trung ương Đảng luôn chú ý đến vấn đề “cuộc đảo chính của phát - xít
Nhật” nhằm hướng công tác chuẩn bị của Đảng và phong trào cách mạng của quần
chúng chủ động đón nhận nó. Vì vậy, ngày 9 tháng 3 năm 1945, nhận thấy Nhật sắp
lật Pháp đến nơi, đồng chí Trường Chinh đã triệu tập Hội nghị Ban thường vụ
Trung ương mở rộng ngay trong tối 9 tháng 3 năm 1945. Hội nghị bắt đầu họp ở
làng Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh) thì phát-xít Nhật nổ súng đánh Pháp ở Hà Nội
và trên toàn Đông Dương. Hội nghị đoán trước sự thất bại của Pháp, thắng lợi
tạm thời của quân đội Nhật và cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình hình khủng
hoảng chính trị sâu sắc, làm cho những điều kiện khởi nghĩa của Đông Dương chưa
chín muồi đang đi tới chín muồi nhanh chóng. Vì vậy, Hội nghị đã ra Chỉ thị
“Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12 tháng 3 năm 1945.
Ðảng quyết định phát động cao trào chống Nhật cứu nước.
Giữa trưa ngày 13
tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh trên
sóng phát thanh của Nhật Bản. Người nhận thấy thời cơ có một không hai đã đến
với dân tộc chúng ta, bởi vậy, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải
giành cho được tự do độc lập!”. Lập tức, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh
thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và lệnh khởi nghĩa được ban ra kịp thời:
“Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành
lấy quyền độc lập cho nước nhà!… Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh
thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định
sẽ về ta!”.
Nghe theo tiếng gọi
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 triệu đồng bào trong cả nước nhất tề
đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng. Trong vòng chưa đầy nửa tháng,
các địa phương trên cả nước đã giành thắng lợi.
Như đã giới thiệu ở trên, thời cơ cách mạng chỉ xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Đối với Cách mạng tháng Tám, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng khoảng 20 ngày, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 13-8) và kết thúc khi quân Đồng Minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pôt-xđam (ngày 5 tháng 9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 13 tháng 8 và sau ngày 5 tháng 9 đều không có khả năng thành công, bởi trước ngày 13 tháng 8, quân Nhật còn mạnh, nhân dân ta sẽ tổn hại nhiều xương máu, còn sau ngày 5 tháng 9, trên đất nước có nhiều kẻ thù (từ vĩ tuyến 16 trở ra là quân Tưởng - Mỹ, từ vĩ tuyến 16 trở vào là quân Anh và sau nó là quân Pháp trở lại xâm lược), cuộc cách mạng Việt nam sẽ mất đi thế chủ động và sẽ gặp nhiều khó khăn khác. Vì vậy, chỉ có thể giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó. Gần 80 năm năm đã trôi qua, nhưng bài học về nhận định thời cơ và chớp thời cơ cách mạng của Ðảng trong Cách mạng Tháng Tám 1945, vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Qua đó chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn về hai câu thơ của Bác ở bài thơ “Học đánh cờ” trong tác phẩm Nhật ký trong tù: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét