Thứ Tư, 12 tháng 2, 2025

 

NÉT ĐỘC ĐÁO VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ

TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

Hoằng Tháo

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị về giải phóng miền Nam trong năm 1975, tháng 01/1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp quán triệt và quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên (mang mật danh A275), nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh Nam Tây Nguyên (Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức), thực hiện chia cắt chiến lược và tạo thế chiến lược mới trên chiến trường toàn miền Nam. Bộ Tư lệnh chiến dịch do Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch có 05 sư đoàn bộ binh (10, 320, 316, 3 và 968), 04 trung đoàn pháo binh độc lập (25, 95B, 271, 95), Trung đoàn 198 và hai tiểu đoàn đặc công (14, 27), 02 trung đoàn pháo binh (40, 675), 03 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), Trung đoàn Tăng-Thiết giáp 273, 02 trung đoàn công binh (7, 575), Trung đoàn thông tin 29 và lực lượng vũ trang các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Đức. Qua 20 ngày đêm chiến đấu, đến ngày 24/3/1975, Chiến dịch Tây Nguyên đã giành thắng lợi hoàn toàn. Quân, dân miền Nam đánh bại cuộc phản kích của Sư đoàn 23 Việt Nam cộng hòa, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng rút chạy trên đường số 7, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu II, giải phóng Tây Nguyên, nhanh chóng phát triển xuống các tỉnh ven biển miền Trung. Từ thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 rút ra một số nét độc đáo về nghệ thuật quân sự đó là:

Một là, nghệ thuật tạo và nắm thời cơ trong thực hành chiến dịch

Tích cực, chủ động tạo thời cơ có lợi. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, trên cơ sở nắm chắc quyền chủ động về chiến lược, ta “luôn luôn chủ động tạo ra tình huống tốt và chín muồi, tạo ra thế có lợi và thời cơ có lợi”[1], được cụ thể hóa bằng những hoạt động, như: xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang đủ sức hành động khi thời cơ đến, đi đôi với dùng mọi biện pháp để tiêu hao, làm suy yếu lực lượng địch; xây dựng, bố trí, điều chỉnh thế trận, tiến hành các hoạt động tác chiến tạo thế khi cần thiết và hạn chế các lợi thế của địch; cải tạo môi trường tác chiến và bố trí thiết bị chiến trường phù hợp với yêu cầu của tác chiến khi có thời cơ. Trong những yếu tố trên, việc phát triển thế và lực của ta, làm suy yếu thế và lực của địch là nội dung chủ yếu, quan trọng nhất của quá trình tạo ra thời cơ có lợi của Chiến dịch.

Cũng từ cơ sở phân tích, đánh giá đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị xác định thời cơ chiến lược đã đến, trong đó chỉ rõ: “Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn”[2]. Do vậy, nhiệm vụ cấp bách lúc này được xác định là tăng cường lực lượng, bảo đảm đầy đủ nhu cầu về vật chất, kỹ thuật cho chiến trường, coi đó là điều kiện cơ bản để giành thắng lợi. Thực hiện chủ trương đó, Bộ Tổng Tư lệnh đã tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên cả về lực lượng, vũ khí, trang bị, bảo đảm khối chủ lực ở đây đủ khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và có sức cơ động cao. Theo đó, các sư đoàn bộ binh được bổ sung thêm quân số và được tăng cường thêm trung đoàn pháo binh; đồng thời, ta kiện toàn tổ chức, biên chế, xây dựng lực lượng binh chủng mạnh của Mặt trận gồm: 02 trung đoàn pháo binh hoàn chỉnh, các trung đoàn xe tăng, phòng không, thông tin, đặc công gấp rút được kiện toàn, bổ sung kịp thời vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại, sẵn sàng sử dụng tập trung lực lượng, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng khi thời cơ đến.

Để tạo thế vững chắc cho các đơn vị chủ lực đứng chân ở những vị trí hiểm yếu, quan trọng, ngay từ năm 1974, ta sử dụng Sư đoàn 320 tiến công căn cứ địch ở Lệ Ngọc và các điểm cao: 711, 601; Trung đoàn 25 đánh chiếm Ea Súp, đẩy đối phương vào sát các thị trấn, thị xã, giải phóng vùng đất đai rộng lớn phía Tây nằm giữa hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk; Sư đoàn 10 đánh chiếm Kon Rốc, quận lỵ Măng Đen và Đắc Pét, dồn ép địch co cụm ở thị xã Kon Tum, tạo lập được thế trận ban đầu hiểm chắc, có thế đánh, thế giữ. Cùng với đó, nhằm phát triển thế và lực của ta, làm suy yếu thế và lực của địch, tạo thời cơ thuận lợi bảo đảm chắc thắng cho trận then chốt mở đầu ở Buôn Ma Thuột, ta tích cực đẩy mạnh hoạt động nghi binh lừa dụ địch về hướng Trị - Thiên và thu hút, kìm giữ chủ lực địch ở Bắc Tây Nguyên, khiến chúng phán đoán và hành động sai lầm, tạo điều kiện thuận lợi cho ta giữ bí mật, bất ngờ về ý định Chiến dịch. Sử dụng Sư đoàn 968 bí mật thay thế vị trí Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320, tiếp tục duy trì hoạt động mạnh trên hướng Pleiku (mở đường ở Tây Pleiku, đánh cắt Đường số 19,... ) và Kon Tum (tổ chức các trận tiến công nhỏ, đánh cắt Đường số 14 đoạn giữa Kon Tum và Pleiku, huy động dân công rầm rộ làm đường,... ). Khi Sư đoàn 10 và 320 cùng các đơn vị binh chủng cơ động vào Nam Tây Nguyên, đã để lại toàn bộ điện đài và nhân viên báo vụ ở vị trí cũ, phát sóng như thường lệ, truyền đi những báo cáo, mệnh lệnh giả khiến địch tin rằng hai Sư đoàn vẫn còn ở Bắc Tây Nguyên. Những hoạt động nghi binh hiệu quả đó khiến cho địch nhận định hướng tiến công chủ yếu của ta sẽ là Kon Tum và Pleiku, buộc chúng phải giữ khối chủ lực cơ động ở Bắc Tây Nguyên. Để có thời cơ chín muồi hơn, ta thực hiện các đòn chia cắt chiến dịch và chiến lược: cắt Đường số 19, 21, 14; tiến công Đức Lập, tạo thành thế bao vây, cô lập hoàn toàn mục tiêu chủ yếu Buôn Ma Thuột và vây chặt chủ lực của địch ở Bắc Tây Nguyên, không cho chúng tăng viện, ứng cứu Buôn Ma Thuột một cách dễ dàng; chia cắt Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải miền Trung, cắt đứt tuyến đường tiếp tế của địch từ các căn cứ liên hợp quân sự, hậu cần ở Cam Ranh, Quy Nhơn, Chu Lai, Đà Nẵng. Nhờ đó, ta “trói chặt” địch, tạo thời cơ thuận lợi để bí mật cơ động, triển khai lực lượng, phương tiện, tiến hành trận then chốt mở đầu Chiến dịch giành thắng lợi.

Bám sát tình hình, nắm và chớp thời cơ đúng lúc, thực hành tiến công giành thắng lợi. Trong tác chiến, thời cơ xuất hiện và qua đi rất nhanh, nên nắm và chớp thời cơ đúng thời điểm chín muồi để hành động kịp thời, chính xác là vấn đề hệ trọng, liên quan đến thành, bại của chiến dịch, giữ vững và phát triển những thành quả đạt được để giành thắng lợi. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải luôn chủ động nắm chắc địch, đặc biệt là thế bố trí, khả năng chi viện, ứng cứu, giải tỏa của chúng, tính biến động và dự kiến sự phát triển của tình huống; chuẩn bị chu đáo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống xảy ra. Khi thời cơ đến, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, nhanh chóng, kịp thời tiến công tiêu diệt địch, kết thúc chiến dịch, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Để nắm chắc thời cơ, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch phân tích tình hình mọi mặt, nêu rõ những điều kiện tiến công địch giành thắng lợi - các dấu hiệu của thời cơ. Đó là khi địch bộc lộ sơ hở, phân tán đối phó theo ý định, nghi binh, lừa dụ của ta. Đối với ta, tạo được thế trận có lợi, các lực lượng sẵn sàng, giữ được bí mật ý định tác chiến và tiến hành chu đáo mọi công tác bảo đảm; đặc biệt, khi Mặt trận Tây Nguyên được tăng cường thêm 02 sư đoàn, một số trung đoàn độc lập, pháo binh, xe tăng và có sự phối hợp của một sư đoàn thuộc Quân khu 5 cùng sự hỗ trợ trực tiếp của Binh đoàn 559. Nhờ phân tích, đánh giá chính xác tình hình, ta đã nắm chắc thời cơ, tập trung lực lượng lớn hơn địch nhiều lần, bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, thực hiện trận then chốt mở đầu Chiến dịch, tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, giành thắng lợi to lớn. Đòn “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột làm đảo lộn hoàn toàn thế phòng ngự của địch ở Tây Nguyên, làm rung chuyển toàn chiến trường miền Nam, buộc địch phải tổ chức lực lượng ứng cứu, giải tỏa, tạo ra thời cơ mới cho Chiến dịch. Tiếp tục nắm và tận dụng thời cơ, ta nhanh chóng cơ động lực lượng bao vây tiêu diệt lực lượng phản kích chủ yếu của địch khi chúng vừa đổ bộ, đứng chân chưa vững, tiêu diệt gọn Sư đoàn bộ binh 23 (thiếu) và Liên đoàn Biệt động 21, đập tan mưu đồ giành lại Buôn Ma Thuột, đẩy địch vào những sai lầm nghiêm trọng hơn về mặt chiến lược, đó là rút bỏ Tây Nguyên. Trước tình thế không thể chống đỡ, lực lượng địch với khoảng 15 nghìn quân tạo nên một cuộc tháo chạy hỗn loạn của một đoàn quân bại trận thảm hại theo Đường số 7 về hướng Phú Bổn. Sai lầm về chiến lược của địch dẫn đến hàng loạt sai lầm về chiến dịch và chiến thuật tiếp theo và đây là thời cơ thuận lợi để ta tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trong trạng thái tinh thần hoang mang, rối loạn chỉ huy, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, lộ rõ nhiều sơ hở. Nắm chắc thời cơ xuất hiện đột biến đó, không để cho địch kịp ổn định đội hình, ta sử dụng Sư đoàn 320 được tăng cường Trung đoàn 95B, cụm pháo binh Chiến dịch, tiểu đoàn thiết giáp, mở cuộc truy kích thần tốc tiêu diệt và bắt sống gần như toàn bộ quân địch rút chạy trên Đường số 7. Đây là trận then chốt thứ ba và là trận then chốt kết thúc thắng lợi Chiến dịch.

Hai là, nghệ thuật nghi binh hoàn hảo

Thực hiện “Tương kế tựu kế”, ta xây dựng kế hoạch nghi binh đánh lừa, làm cho địch lầm tưởng ta chuẩn bị đánh Kon Tum, Gia Lai, nhưng thực tế là ta lại điều Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 xuống phía Nam Tây Nguyên, chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột.

 Thực hiện kế hoạch nghi binh, ta gấp rút triển khai hàng loạt nhiệm vụ ở phía bắc Tây Nguyên: Ngay đầu năm 1975, Trung đoàn 7 công binh - Đoàn 559 mở thông đường 220, nối đường 14 ở Bắc Võ Định với đường 19 gần đèo Mang Yang, vòng qua Đông Bắc thị xã Kon Tum. Hai trận địa pháo binh 130 mm giả được triển khai ở phía Bắc Kon Tum (thực ra chỉ có súng cối 120 mm). Xây dựng một số trận địa giả, đồng thời cho di chuyển quân vận, khí tài nghi binh để cho địch phát hiện… các đơn vị thông tin ở lại giữ nguyên vị trí và liên tục phát đi các bức điện giả, báo cáo giả, mệnh lệnh giả với tần suất ngày càng cao.

Để đánh lừa địch, Bộ chỉ huy Mặt trận đã khẩn trương điều Sư đoàn 968 (thiếu) từ Lào về Bắc Tây Nguyên, thế chân Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320. Tiếp quản và sử dụng hệ thống liên lạc vô tuyến của 02 sư đoàn để lại. Ta còn cho người vào phao tin Quân giải phóng sắp đánh lớn và Kon Tum và Pleiku. Dân chúng trong các vùng tự do làm nhiều cờ, hoa, biểu ngữ chào mừng Pleiku và Kon Tum được giải phóng.

Từ ngày 28/02 đến những ngày đầu tháng 3/1975, Sư đoàn 968 mở nhiều trận đánh nghi binh, mở màn Chiến dịch Tây Nguyên. Ta tiến công thị xã Pleiku, sân bay Cù Hanh, căn cứ Hàm Rồng, thị xã Kon Tum, Đồn Tầm, Tây Thanh An, cắt Đường 14 Kon Tum – Pleiku làm cho địch càng tin chiến dịch của ta vào Bắc Tây Nguyên đã bắt đầu.

Còn lực lượng hành quân xuống phía Nam, được lệnh không sử dụng hệ thống thông tin hiện đại, chỉ sử dụng thông tin hữu tuyến và thông tin chạy chân. Và đảm bảo ngụy trang kỹ lưỡng, ngày vào rừng, tối hành quân, đi đến đâu ngụy trang, xóa dấu vết đến đó. Đầu tháng 02/1975, hơn 4 vạn quân thuộc 3 Sư đoàn bộ binh, các binh chủng xe tăng thiết giáp, pháo cao xạ... đã tập kết an toàn ở phía Đông Buôn Ma Thuột mà địch không hề phát hiện. Ta tăng cường thêm Sư đoàn 316, cấp tốc hành quân bằng 500 xe ô tô từ Nghệ An vào. Ta tập kết xong Sư đoàn 320 phía Bắc Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 10 ở Tây Buôn Ma Thuột chuẩn bị đánh Đức Lập, Sư đoàn 316 tập kết ở khu vực Đăk Đoa, do chủ quan mà địch vẫn chưa biết gì.

Cùng lúc đó, tại Đắk Lắk, khi Trung đoàn 45 (Sư đoàn 23) của địch tổ chức các cuộc hành quân lùng sục xung quanh khu vực Buôn Ma Thuột, Thuần Mẫn và Đức Lập để tìm Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 của ta. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã lệnh cho các đơn vị của Sư đoàn 320A tạm lùi về phía Tây ém lực lượng, tránh giao chiến.  

Từ những thông tin trên, Tư lệnh Quân đoàn II của địch - Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã có một quyết định sai lầm: Điều Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 từ Ea H’leo tức tốc về lại Tây thị xã Pleiku, mặc dù trước đó đã phê chuẩn kế hoạch chuyển sư đoàn này về Buôn Ma Thuột. Đến cuối tháng 02, CIA tại Sài Gòn vẫn phán đoán mục tiêu tấn công chủ yếu của ta sẽ là Pleiku và Kon Tum.

Kế hoạch nghi binh của ta hoàn hảo tới mức, ngày 08 và 09/3/1975, khi ta nổ súng đánh vào quận lỵ Thuần Mẫn và quận lỵ Đức Lập, uy hiếp Buôn Ma Thuột mà Phạm Văn Phú vẫn không đoán được ý đồ tác chiến của ta.

Hai giờ sáng ngày 10/3/1975, cuộc tiến công của Quân Giải phóng vào Buôn Ma Thuột bắt đầu, với các trận đột kích sâu của Trung đoàn 198 đặc công vào các mục tiêu: Sân bay Hòa Bình, khu kho Mai Hắc Đế, khu hậu cứ của Trung đoàn 53 ngụy. Đúng 04 giờ sáng ngày 10/3, khi xe tăng của Quân giải phóng tiến vào nội đô Buôn Ma Thuột, Đại tá Lê Khắc Hy, Tham mưu trưởng Quân khu 2 - Quân đoàn 2 ngụy vào phòng ngủ đánh thức Phạm Văn Phú, lúc đó Phú mới biết Buôn Ma Thuột là mục tiêu chính của ta. Nhưng tất cả đã quá muộn, Buôn Ma Thuột thất thủ ngay trong ngày 10/3/1975. Các đơn vị còn sống sót của quân đội Ngụy Sài Gòn cố gắng chống cự chờ viện binh nhưng đến 11 giờ ngày 11/3, các đơn vị của Sư đoàn 316 đã hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột.

Trong các ngày từ 12/3 đến 17/3/1975, địch ra sức phản kích nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuột. Chúng sử dụng Liên đoàn 21 biệt động quân (thiếu) phối hợp với 2 trung đoàn còn lại của Sư đoàn 23 dùng trực thăng đổ bộ xuống Phước An (phía Đông Buôn Ma Thuột), hình thành cánh quân phản kích đánh thẳng vào thị xã; điều 3 sư đoàn không quân tới yểm trợ. Tuy nhiên, ta đã dự tính trước nên tổ chức phản kích hết sức hiệu quả, đập tan toàn bộ lực lượng địch tham gia tái chiếm Buôn Ma Thuật, tiêu diệt địch tại quận lỵ Phước An và khu vực Nông Trại. Đến 8 giờ 15 phút ngày 16/3, Tiểu đoàn 3, đơn vị cuối cùng của Trung đoàn 45 (Sư đoàn 23 Ngụy Sài Gòn) bị đánh tan, Trung tá Phùng Văn Quang và toàn bộ Ban chỉ huy Trung đoàn bị bắt làm tù binh cùng với chiếc trực thăng đã nổ máy định bốc họ lên không.

 Đến 11 giờ 30 ngày 17/3, ta đánh chiếm sân bay Hòa Bình, Trung đoàn 53 của địch bị xóa sổ, trận phản kích của địch tái chiếm Buôn Ma Thuột thất bại. Ngày 18/3, toàn bộ quân địch rút chạy khỏi Gia Lai và Kon Tum. Các tỉnh Tây Nguyên được giải phóng.

Nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên là “cuộc nghi binh hoàn hảo” trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã giữ được bí mật đến phút chót, khiến quân đội chính quyền Sài Gòn bất ngờ, không kịp trở tay. Việc ta đánh Buôn Ma Thuột là đòn điểm huyệt, làm rung động thế bố trí của toàn quân đội Sài Gòn ở Tây Nguyên. Bởi Nguyễn Văn Thiệu và tướng lĩnh ngụy quyền Sài Gòn đã phạm sai lầm lớn về chiến lược, đó là rút khỏi Tây Nguyên để lui về cố thủ giữ Sài Gòn và các tỉnh duyên hải miền Trung. Sai lầm này của Nguyễn Văn Thiệu đã dẫn đến sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn, đồng thời tạo ra thời cơ chiến lược rất lớn cho ta tiến vào Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Ba là, nghệ thuật tập trung lực lượng tạo ưu thế hơn hẳn địch trên hướng, mục tiêu chủ yếu và vận dụng linh hoạt cách đánh chiến dịch

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, ta huy động lực lượng chủ lực của Bộ tăng cường (14 tiểu đoàn bộ binh) cùng với chủ lực Quân khu 5 và Đông Nam Bộ (10 tiểu đoàn) đến phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương (28 tiểu đoàn bộ binh). Với lực lượng lớn đó, trên hướng chủ yếu của chiến dịch (Nam Tây Nguyên), ta đã tạo được ưu thế về binh lực hơn hẳn địch. Đối với mục tiêu chủ yếu (Buôn Ma Thuột), cũng là trận then chốt mở màn chiến dịch, ta tập trung lực lượng tăng gấp năm lần quân địch, tạo thế bao vây, chia cắt, cô lập chúng để tiêu diệt từng cứ điểm địch. Đến trận then chốt thứ hai (đánh Sư đoàn 23 địch phản đột kích), lực lượng ta chỉ gần bằng và trận then chốt thứ ba (đánh địch rút chạy trên đường số 7), ta ít hơn địch, nhưng thế ta lại hơn hẳn thế địch, nên đã đánh thắng chúng.

Thành công nổi bật của ta trong Chiến dịch Tây Nguyên là vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức tác chiến, đánh cắt giao thông, đánh thị xã, căn cứ, đánh địch phản đột kích và đánh chúng rút chạy. Nhìn chung, cách đánh toàn Chiến dịch Tây Nguyên cũng như trong từng trận đánh, ta tổ chức nghi binh tạo thế, thu hút, giam chân chủ lực địch trên hướng thứ yếu (Bắc Tây Nguyên), còn ta tập trung tạo ưu thế binh lực trên hướng chủ yếu (Nam Tây Nguyên) và mục tiêu chủ yếu (Buôn Ma Thuột) địch không ngờ tới, thực hiện bao vậy, chia cắt từng cụm cứ điểm, kết hợp đột phá với luồn sâu, thọc sâu, hiệp đồng binh chủng, trong ngoài cùng đánh, phá vỡ hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện kéo quân địch còn lại ra ngoài công sự kiên cố để tiếp tục tiêu diệt Sư đoàn 23 địch và cuối cùng vận động tiến công tiêu diệt quân địch còn lại rút chạy trên Đường số 7, giành thắng lợi. Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên đã tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh lực lượng và thế chiến lược có lợi cho ta, còn địch bị động, bị suy sụp và tan rã về chiến lược, dẫn đến co cụm và bị động đối phó trên các chiến trường. Chiến thắng Tây Nguyên đã mở ra thời cơ tổng tiến công chiến lược trên toàn miền nam để quân và dân ta tiếp tục thực hiện các đòn tiến công quân sự lớn, phát triển cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đi đến thắng lợi hoàn toàn./.

 

 



[1] Hoàng Minh Thảo, Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, Nxb QĐND, H. 2004, tr. 178.

[2] Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 35, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2004, tr. 177.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét