CHIẾN THẮNG TÂY NGUYÊN - THẮNG LỢI CỦA THẾ TRẬN
CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
Nhân Trần
Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta, lật đổ chế độ ngụy quân, ngụy quyền,
giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào kỷ
nguyên độc lập dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên đã làm cho quân địch bị tê liệt và rối
loạn hoàn toàn, tạo ra tình thế chiến lược và thời cơ thuận lợi để quân và dân
ta làm nên chiến công thần tốc, táo bạo, quyết thắng mùa Xuân 1975. Thắng
lợi này có sự kết tinh nhiều yếu tố; trong đó, thế trận chiến tranh nhân dân
đóng vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp
của quân và dân ta; thể hiện trên một số nội dung cơ bản là:
Một là, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng là nhân tố quyết định việc
huy động sức mạnh tổng hợp hình thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trong
kháng chiến chống Mỹ nói chung và Chiến dịch Tây Nguyên nói riêng. Sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc chọn hướng tiến công chiến
lược. Ngay từ đầu tháng 01/1975,
Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã họp, hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong
hai năm (1975 - 1976) và nếu có thời cơ thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong
năm 1975. Khi xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược mở đầu cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh
quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu. Ban đầu ta lựa chọn đánh
Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Pleiku) là trận mở đầu nhưng sau nhiều cân nhắc, tính
toán, cuối cùng chúng ta thay đổi chọn đánh Nam Tây Nguyên (Buôn Ma Thuột) là
trận then chốt mở đầu và đây là một quyết định đúng đắn, sáng suốt. Sự lựa chọn
này như đòn điểm huyệt đánh “gãy sống lưng” kẻ thù làm cho chúng rối loạn, mất
thế, suy sụp và xuất hiện thời cơ chiến lược để giải phóng hoàn toàn miền Nam;
trái lại thế, lực, sức mạnh chiến đấu của ta được nhân lên gấp bội.
Sau khi quyết định hướng tiến công chiến lược, sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng thể hiện ở việc đánh giá đúng tương quan so sánh lực
lượng để chủ động chuẩn bị lực lượng bao gồm cả lực lượng vũ trang và nhân dân,
đồng bào các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên; chỉ đạo vận dụng sáng tạo nghệ
thuật quân sự, kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, đấu
tranh chính trị với đấu tranh quân sự; coi trọng xây dựng hậu phương chiến dịch
vững mạnh; phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả quân và dân để hình thành thế
trận chiến tranh nhân dân vững mạnh. Do có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn đó nên Chiến dịch
Tây Nguyên diễn ra thuận lợi, giành thắng lợi giòn giã, quân địch hoàn toàn bị
bất ngờ, lúng túng cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; tạo ra sự chấn
động mạnh và ta đã phá vỡ một mảng lớn quân địch, đảo lộn thế bố trí của chúng,
tác động dây truyền đến toàn bộ chiến trường, đẩy chúng đến chỗ cùng quẫn,
hoảng loạn. Chớp thời cơ thuận lợi đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tiếp
tục chỉ đạo quân và dân ta mở tiếp đòn tiến công chiến lược vào Huế - Đà Nẵng
thông qua các Chiến dịch Nam Ngãi, Chiến dịch Bình Trị Thiên, Chiến dịch Đà
Nẵng để chuẩn bị cho đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn -
Gia Định, thống nhất đất nước.
Ngoài ra, để thực hiện quyết tâm tác
chiến chiến lược, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo và quyết định tăng cường cho Tây
Nguyên một số lượng lớn về lực lượng, vũ khí, trang bị. Bộ Tư lệnh Chiến dịch
Tây Nguyên đã tiến hành công tác chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, chu đáo; chỉ đạo các
đơn vị tham gia Chiến dịch tuyệt đối giữ bí mật, không để địch phát hiện ý định
tác chiến và lực lượng của ta trên các hướng, nhất là hướng tiến công chủ yếu vào
Buôn Ma Thuột; tích cực hoạt động nghi binh, lừa dụ và đánh lạc hướng chú ý của
địch ở Kon Tum, Pleiku.
Hai là, chủ động xây dựng lực
lượng, chuẩn bị chiến trường chu đáo, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân vững
mạnh. Xác định Tây Nguyên là địa bàn có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nên ngay từ năm
1964 Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã đưa một số đơn vị chủ lực vào chiến đấu
tại đây. Đặc biệt, trước khi tiến hành Chiến dịch Tây Nguyên, Quân ủy Trung
ương, Bộ Quốc phòng đã điều Sư đoàn 968, Sư đoàn 316 và 03 trung đoàn (95B,
232, 575) cùng nhiều tiểu đoàn tăng cường cho chiến trường Tây Nguyên, tạo ra
ưu thế vượt trội về cả số lượng và chất lượng so với quân địch. Các đơn vị này cơ
động và bố trí bí mật, có khả năng giáng những đòn quyết định, bất ngờ ở những
hướng then chốt, tiêu diệt lớn quân địch, giành thắng lợi lớn xoay chuyển cục
diện chiến trường. Do đó, đây là trụ cột vững chắc của thế trận chiến tranh
nhân dân; đồng thời là chỗ dựa để chúng ta thực hiện phối hợp tác chiến giữa lực
lượng cơ động của bộ đội chủ lực với lực lượng tại chỗ của địa phương và đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên; kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du
kích; kết hợp đánh lớn, đánh tập trung với đánh vừa, đánh nhỏ, đánh phân tán của
chiến tranh nhân dân địa phương.
Cùng với tăng cường lực lượng chủ lực, Bộ
Chính trị, Quân ủy Trung ương còn coi trọng xây dựng lực lượng tại chỗ ở Tây
Nguyên vững mạnh, rộng khắp và đây là lực lượng quan trọng của thế trận chiến
tranh nhân dân. Nhờ được tăng cường chủ lực, xây dựng lực lượng tại chỗ đủ mạnh,
quân và dân ta ở Tây Nguyên đã triển khai cả hai lực lượng (chính trị và quân sự),
cả ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) hình thành
thế trận chiến tranh nhân dân linh hoạt, đa dạng trên toàn chiến trường; tạo thế
cài xen giữa ta và địch trên một không gian tác chiến rộng; vừa thực hiện chia
cắt, vây hãm, vừa tạo ra thế chủ động tiến công địch.
Đồng thời, phát
huy sức mạnh toàn dân đánh giặc, chúng ta đã huy động, tổ chức đông đảo đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên cùng dân công, thanh niên xung phong, bộ đội ngày
đêm làm đường giao thông, vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm… tiếp tế cho
Chiến dịch. Nhờ đó, một khối lượng khổng lồ công việc chuẩn bị chiến trường đã
được hoàn thành chu đáo, đúng kế hoạch, bảo đảm cho Chiến dịch giành thắng lợi.
Trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân, lợi dụng triệt để yếu tố địa hình,
địa thế, ta đã bố trí, triển khai lực lượng tác chiến trên các hướng, các mũi
tiến công và các thiết bị chiến trường một cách thích hợp, bảo đảm yếu tố bí mật,
bất ngờ, hình thành thế trận liên hoàn, vững chắc. Đây là cơ sở bảo đảm cho ta
thực hành các trận đột phá tại Buôn Ma Thuột, phản đột kích chiến dịch của sư
đoàn 23 ngụy và truy kích thần tốc trên đường số 7, tiêu diệt gọn quân đoàn 2 địch,
hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch.
Ba là, phát huy cao độ nhân tố con người, nhất là về chính trị tinh thần
của các lực lượng tham gia Chiến dịch là nền tảng của thế trận chiến tranh nhân
dân. Chiến dịch Tây Nguyên là một ví dụ và minh chứng sống động về phát huy cao độ nhân tố con người, nhất là về chính trị tinh thần của
quân và dân ta trên nền tảng là
lòng yêu nước, ý thức tự tôn, tự hào dân tộc và tinh thần quyết chiến, quyết thắng.
Trước khi thực hành Chiến dịch Tây Nguyên, Việt Nam là một đất nước nghèo nàn,
lạc hậu, phải trải qua những năm tháng bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhưng đã
chiến đấu và chiến thắng kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ
vượt trội. Cho nên thắng lợi của Chiến dịch là một thắng lợi vĩ đại, thần
kỳ, khiến cả nhân loại và chính kẻ thù phải ngỡ ngàng, khâm phục quân và dân Việt
Nam. Xuyên suốt cuộc chiến, kẻ thù không hiểu ra điều đó mà phải mất nhiều năm
sau này họ mới nhận ra nhân tố chính trị tinh thần là thứ đã biến quân và dân
Việt Nam trở nên mạnh hơn họ. Cựu bộ trưởng quốc phòng Mc Namara đã phải thừa
nhận rằng Mỹ đã thất bại vì không hiểu gì về lịch sử, truyền thống và văn hóa
Việt Nam, thất bại vì chưa đánh giá đúng vai trò nhân tố chính trị tinh thần của
quân dân đất Việt.
Chiến
dịch Tây Nguyên chúng ta có quá trình chuẩn bị một cách toàn diện, tạo sức mạnh
chính trị tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng vượt trội so với kẻ thù. Chúng
ta bước vào Chiến dịch với tâm thế của những người đang trên đường đi tới ngày
thắng lợi cuối cùng, từng bước và liên tục đánh bại quân xâm lược; là trạng
thái tâm lý tinh thần tốt nhất, ý chí quyết tâm cao nhất, tin tưởng nhất.
Vì thế, trong từng tình huống của chiến dịch, bộ đội, nhân dân, đồng bào các
dân tộc Tây Nguyên luôn giữ vững ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất. Khi xây
dựng trận địa tiến công dù gặp khó khăn nhưng các bộ phận luôn nỗ lực và quyết
tâm vượt qua, bảo đảm được tuyệt đối bí mật, đưa một lực lượng lớn từ xa và từ
nhiều hướng vào chiếm lĩnh trận địa theo đúng ý định tác chiến. Khi nổ súng tiến
công thì kiên quyết, mưu trí, dũng cảm. Khi địch đổ quân, tăng viện hòng chiếm
lại những địa điểm bị ta đánh chiếm, chiến dịch diễn ra ác liệt hơn, song ta vẫn
liên tiếp tiến công, đập tan sự phản kích của chúng; tổ chức truy kích quân địch
co cụm và rút chạy trên đường số 7 từ Cheo Reo đến Củng Sơn. Sau 20 ngày đêm (từ
04 đến 24/3/1975) chiến đấu dũng cảm quân ta đã giải phóng hoàn toàn Tây
Nguyên. Tiếp đó, từ ngày 25/3 đến ngày 03/4/1975, quân và dân ta tiến công,
tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân đoàn 2 - quân khu 2 của địch,
giải phóng các tỉnh Nam Trung bộ, tạo bước ngoặt đưa cuộc Tổng tiến công chiến
lược trên toàn chiến trường miền Nam nhanh chóng giành thắng lợi.
Bên cạnh đó, chúng
ta đã tiến hành tốt công tác tư tưởng, nâng cao
nhân tố chính trị tinh thần của chiến dịch. Trước chiến dịch tập trung vào
quán triệt nhiệm vụ, giáo dục chính trị, tư tưởng, khơi sâu lòng căm thù giặc
và xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho các lực lượng tham gia; phát động thi
đua giết giặc lập công, làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu. Khi thực hành
chiến dịch liên tục giữ vững ý chí quyết tâm, phát triển chiến đấu; tuyên truyền,
cổ vũ chiến trường; động viên quân và dân tiến lên; làm tốt công tác binh vận,
địch vận. Sau chiến đấu tiếp tục củng cố quyết tâm, làm tốt chính sách đối với
thương binh, tử sĩ, ổn định nhân dân và đồng bào khu vực giải phóng... Tất cả
những hoạt động đó đã trực tiếp góp phần cổ vũ, động viên bộ đội, dân
công, du kích, thanh niên xung phong, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vượt qua mọi gian khổ hy sinh, hoàn thành thắng lợi
nhiệm vụ của chiến dịch.
Bốn
là, kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, đấu tranh chính
trị và đấu tranh quân sự. Với đường lối và phương
pháp cách mạng đúng đắn, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đã chỉ đạo
kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại
giao; kết hợp khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng; đánh địch bằng ba
mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận); trên cả ba vùng chiến lược (rừng
núi, nông thôn đồng bằng và thành thị); kết hợp chiến tranh du kích với chiến
tranh chính quy; thực hiện đánh địch trên mọi quy mô là đánh lớn, đánh vừa,
đánh nhỏ của lực lượng vũ trang ba thứ quân. Những nội dung này được vận dụng
linh hoạt, sáng tạo trong Chiến dịch Tây Nguyên, trở thành nét độc đáo về nghệ
thuật chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu, kết hợp chặt chẽ các hình
thức, các mặt đấu tranh với nhau. Chiến
tranh du kích, đánh nhỏ lẻ, rộng khắp trên chiến trường Tây Nguyên của nhân dân
và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đặc biệt ở Trị - Thiên, Kon Tum, Pleiku không
chỉ tiêu hao, tiêu diệt quân địch mà còn khéo nghi binh cho trận then chốt mở đầu,
hướng chủ yếu và đòn điểm huyệt của quân ta ở Buôn Ma Thuột và được kết hợp chặt
chẽ với các trận đánh lớn của bộ đội chủ lực. Đấu tranh chính trị giai
đoạn đầu kháng chiến là chủ yếu nhưng khi bước vào Tổng tiến công và khi thực
hành Chiến dịch đã phát triển sang đẩy mạnh binh vận, địch vận và kết hợp chặt
chẽ với các đòn tiến công quân sự của bộ đội trên chiến trường Tây Nguyên và toàn
bộ chiến trường miền Nam.
Năm là, xây dựng hậu phương chiến dịch vững chắc. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung,
khi bước vào Chiến dịch Tây Nguyên nói riêng, quân ta luôn có một điểm tựa vững
chắc từ hậu phương chiến lược (miền Bắc xã hội chủ nghĩa) và hậu phương chiến dịch
tại chỗ (các địa phương trên địa bàn Tây Nguyên). Đối với chiến trường Tây
Nguyên, miền Bắc không chỉ là nơi cung cấp nhân lực, vật lực với tinh thần “thóc
không thiếu một cân, quân không thiếu một người” mà còn là một biểu tượng tinh
thần kiên định, sáng ngời, góp phần cổ vũ, động viên mạnh mẽ đối với đồng bào
các dân tộc Tây Nguyên chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược. Vì vậy, quá trình
chuẩn bị và bước vào Chiến dịch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã huy động tổng
hợp các nguồn lực; không những là sự chi viện sức người, sức của từ miền Bắc mà
còn cả sự tham gia, đóng góp to lớn, tích cực của cấp ủy, chính quyền, nhân
dân, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Bên cạnh đó còn là sự ủng hộ cả về vật chất
và tinh thần của nhân loại tiến bộ, nhất là sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị,
lương lực của Liên Xô, Trung Quốc và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa… Như vậy,
trên nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao, chúng ta
không chỉ xây dựng được lực lượng chiến đấu mạnh với khả năng tác chiến hiệp đồng
binh chủng mà còn có sự chuẩn bị chu đáo về hậu phương chiến dịch, lực lượng hậu
cần, kỹ thuật phục vụ cho tác chiến ở tất cả các quy mô. Với tất cả các lực lượng
đó chúng ta đã tạo ra sức mạnh vật chất vượt trội so với đối phương, trực tiếp nhất
là trên địa bàn Tây Nguyên để giành thắng lợi.
Kế thừa bài học về
phát huy sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân trong Chiến dịch Tây
Nguyên; trong tình hình mới chúng ta cần tiếp xây dựng thế trận chiến tranh
nhân dân vững mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chú
trọng “xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân
và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với “thế trận lòng dân” vững
chắc”[1].
Bố trí, xây dựng thế trận quốc phòng vừa có diện rộng, vừa có chiều sâu, bảo đảm
hợp lý trên từng địa bàn, hướng chiến lược; tăng cường xây dựng các khu kinh tế
- quốc phòng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo; trong đó coi trọng
địa bàn chiến lược Tây Nguyên theo phương châm vững về chính trị, giàu về kinh
tế, mạnh về quốc phòng, an ninh, văn minh về văn hóa, xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh
xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là các tỉnh thuộc khu
vực Tây Nguyên thành khu vực phòng thủ vững chắc. Tập trung “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng
tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh,
gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân,
Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”[2]. Trước hết, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; giữ vững
và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; hoàn thành tốt các
chức năng, nhiệm vụ, thực sự là lực lượng nòng cốt của sự
nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét