TƯ TƯỞNG CHỦ ĐỘNG TIẾN CÔNG TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN VÀ CUỘC TỔNG TIẾN
CÔNG CHIẾN LƯỢC MÙA XUÂN 1975
Trung Lập
Từ ngày 04/3 đến 03/4/1975, quân và dân ta đã tiến hành thắng
lợi Chiến dịch Tây Nguyên. Đó là kết quả của quả trình phát huy tư tưởng chủ
động tiến công, giành thắng lợi từng bước của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, tạo thời cơ và bước chuyển quan trọng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
giải phóng miền Nam. Nhưng trước hết, đó là thắng lợi về chủ trương, phương
châm lãnh đạo, chỉ đạo với tư tưởng chủ động tiến công tác chiến chiến lược mùa
Xuân 1975 của Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc
phòng. Để góp phần làm sáng tỏ về chủ trương, phương châm lãnh đạo, chỉ đạo đó,
bài viết này của tác giả xin được trao đổi một số vấn đề sau:
1. Xây dựng phương án, kế hoạch tác chiến chiến lược, lấy Chiến
dịch Tây Nguyên mở đầu Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975
Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, đế
quốc Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ
và đồng minh ra khỏi miền Nam. Tương quan so sánh lực lượng lúc này giữa ta và
địch trên chiến trường có lợi cho ta. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban
Chấp hành Trung ương Đảng nhận định: “Chúng ta buộc địch ký Hiệp định Pari có
nghĩa là ta đã mạnh hơn địch, đủ sức thắng cả Mỹ lẫn ngụy. Khi Mỹ còn ta đã
giành được thắng lợi như vậy thì sau khi Mỹ rút hết, ta càng mạnh hơn và nhất
định sẽ đánh thắng hoàn toàn quân ngụy”.
Mặc dù, Hiệp định Paris đã được ký kết, nhưng trên chiến
trường không ngưng tiếng súng, bởi Nguyễn Văn Thiệu đẩy mạnh xua quân thực hiện
“tràn ngập lãnh thổ” trên toàn miền Nam. Trước tình hình đó, tháng 7/1973, Hội
nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 khóa II được tổ chức, Hội nghị thống nhất chỉ rõ:
“Con đường tiến lên của cách mạng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực. Bất
kể trong tình huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến
lược tiến công”. Sau khi Nghị
quyết ban hành, các cơ quan chiến lược tập trung giúp Quân ủy Trung ương chuẩn
bị chủ trương và những biện pháp lớn về quân sự, triển khai hàng loạt vấn đề
quan trọng, cấp bách về nghiên cứu hình thành những kế hoạch chiến lược chung,
kế hoạch tác chiến cho từng chiến trường; nhanh chóng tổ chức huấn luyện các
binh đoàn dự bị chiến lược, các sư đoàn ở chiến trường, các binh chủng kỹ thuật…
Với nỗ lực phấn đấu của cả tiền tuyến và hậu phương, được sự
chỉ đạo thường xuyên của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, từ giữa năm 1973 trở
đi, cơ quan Tổng hành dinh đã tập trung vào xây dựng kế hoạch tác chiến chiến
lược. Kế hoạch do Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo, trên cơ sở tiếp thu ý kiến các tư
lệnh chiến trường; sau nhiều lần hoàn thiện theo chỉ đạo của trên, kế hoạch
chiến lược được hoàn chỉnh, báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Trong
các tháng 10 và 12/1974, trong hai
cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng các lãnh đạo, chỉ huy chủ
chốt ở các chiến trường đã thống nhất và thông qua kế hoạch chiến luợc. Bộ
Chính trị họp hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm (1975 -
1976) và Kế hoạch Tác chiến chiến lược năm 1975 do Bộ Tổng Tham mưu đề nghị.
Ngày 6/01/1975, Chiến dịch Đường 14 - Phước Long “trận trinh
sát chiến lược” của ta giành thắng lợi. Đây là cơ sở vững chắc để Bộ Chính trị
chính thức hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, trong đó xác định Tây
Nguyên là chiến trường chủ yếu. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ trên giao, vị trí,
vai trò của chiến trường Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã trực
tiếp vào cuộc và chỉ đạo cơ quan, cùng đội ngũ cán bộ tác chiến khẩn trương
triển khai công tác chuẩn bị chiến trường, đặc biệt xây dựng và hoàn thành kế
hoạch chiến dịch bao gồm các kế hoạch: Triển khai đường cơ động trên các hướng,
các mũi chiến dịch; cơ động lực lượng; nghi binh chiến dịch; tập kết bộ đội;
bảo đảm hậu cần, kỹ thuật...
Ngày 09/01/1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp, bàn và
quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên với mật danh “Chiến dịch 275”. Từ ngày 17
đến ngày 19/02/1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch họp và xác định phương án tác chiến,
trong đó xác định cách đánh chung là: “Bí mật triển khai lực lượng cắt đường
giao thông đường 14, 19, 21, ngăn chặn lực lượng cơ động chiến dịch, chiến lược
của quân đội Sài Gòn ứng cứu, tăng viện cho Buôn Ma Thuột”.
Với tư tưởng chủ động tiến công, Trung ương Đảng đã dự kiến
phương án và Kế hoạch Tác chiến chiến lược cho năm 1975, khẳng định: “Nếu thời
cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm
1975”. Tầm nhìn,
cùng với sự quyết đoán của Trung ương Đảng, thể hiện tư duy, quyết tâm chiến
lược, táo bạo nhưng hết sức chính xác. Xuất phát từ một sự thay đổi cơ bản, to
lớn và có lợi cho ta trong cục diện chiến tranh, do đó ta đã tận dụng được thời
cơ chiến lược mở ra từ thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, chuyển sang kế hoạch một năm
từ tiến công chiến lược sang tổng tiến công chiến lược để rút ngắn một nửa thời
gian hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam.
2. Chủ động,
tích cực làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt cho Chiến dịch Tây Nguyên và cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975
Năm 1974, tuy quân đội Sài Gòn bị thất bại nặng nề, nhưng lực
lượng của địch còn hàng triệu quân, được trang bị hiện đại, đang triển khai
hoàn chỉnh trên bốn quân khu từ Trị - Thiên đến Đồng bằng sông Cửu Long. Trong
tình hình đó, việc lựa chọn hướng, mục tiêu để giáng đòn chủ yếu mở đầu cuộc
tổng tiến công, tiêu diệt lớn quân địch làm thay đổi nhanh chóng so sánh tương
quan lực lượng, chuyển biến cục diện chiến trường, tạo bước ngoặt về chiến lược
là vấn đề hết sức quan trọng đã được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cân
nhắc hết sức cẩn trọng. Buôn Ma Thuật được lựa chọn mở đầu cho Chiến địch Tây
Nguyên, đó là mục tiêu lớn ta tổ chức đánh, làm rúng động quân địch, đồng thời
tạo điều kiện cho các hướng phát huy sức mạnh hiệp đồng binh chủng đột phá tiến
hành và phát triển thuận lợi để đánh vào các mục tiêu quan trọng. Đồng thời, để
chủ động thực hiện thắng lợi chủ trương, ta đã đẩy mạnh xây dựng lực lượng ba
thứ quân, đặc biệt là xây dựng khối chủ lực, một số quân đoàn chủ lực được
thành lập.
Về hậu cần, kỹ thuật được tổ chức theo phương hướng bảo đảm
khả năng tác chiến tập trung quy mô lớn, có sức cơ động cao, dưới sự chỉ đạo
của Bộ Tổng Tham mưu. Bộ Tư lệnh Trường Sơn phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên tổ
chức xây đựng hệ thống đường cơ động, kho tàng và dự trữ được khối lượng lớn
vật chất hậu cần chiến dịch, bảo đảm cho bộ đội có thể tác chiến hiệp đồng binh
chủng dài ngày.
Trong Chiến dịch Tây Nguyên, để giữ quyền chủ động tiến công,
Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ đạo tiến hành một kế hoạch nghi binh rất
công phu. Trong lúc địch cho rằng ta chưa đủ điều kiện để đánh lớn ở Tây Nguyên
và tiến công giải phóng miền Nam...; chúng lại rơi vào thế bị động; phân tán
lực lượng; chưa phán đoán được quyết tâm chiến lược của ta, ta quyết định mở
chiến dịch. Triệt để tận dụng thời cơ chiến lược mở ra từ Chiến thắng Tây
Nguyên ta chuyển sang Tổng tiến công chiến lược hoàn thành nhiệm vụ giải phóng
miền Nam. Nhờ chủ động làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt cho Chiến dịch Tây
Nguyên và thực hiện kế hoạch quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy
Trung ương nên ta đã triệt để chớp thời cơ giành thắng lợi lớn cho cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
3. Chỉ đạo kịp thời, kiên quyết, triệt để giành thắng lợi trong Chiến
dịch Tây Nguyên, chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân 1975
Chiến thắng Buôn Ma Thuột và đánh bại quân địch phản kích đã
buộc địch phải rút bỏ Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng.
Buôn Ma Thuột từ trận tiến công có ý nghĩa chiến dịch trở
thành thắng lợi chiến lược. Nhận định tình hình, thời cơ chiến lược để giành
thắng lợi hoàn toàn sớm hơn dự kiến đã xuất hiện. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung
ương quyết định chuyển từ kế hoạch 2 năm sang kế hoạch giành thắng lợi ngay trong
năm 1975, quyết định này không chỉ dừng ở việc nắm đúng thời cơ mà khi thời cơ
xuất hiện nhanh chóng hơn dự kiến đã kịp thời hành động tranh thủ giành thắng
lợi lớn hơn, nhanh hơn.
Để chủ động tạo ra thời cơ và chớp thời
cơ trong Chiến dịch Tây Nguyên ta luôn chủ động bám sát tình hình, nhất là diễn
biến mau lẹ của cuộc chiến tranh, đặc biệt là so sánh tương quan lực lượng giữa
ta và địch. Ta luôn bám, nắm chắc về âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch để có
hành động tác chiến kịp thời, chính xác, tạo ra những hiệu ứng lớn, gây cho
địch những bất ngờ cả về chiến thuật và chiến lược. Từ bất ngờ, bị động sẽ đẩy
địch tới sai lầm về chiến thuật, về chiến lược, nhờ đó ta có thời cơ mới. Đó là
kết quả của quá trình thực hiện theo quan điểm “Muốn tạo thời cơ, tranh thủ
thời cơ, trước hết phải quán triệt tư tưởng chỉ đạo: Kiên quyết tiến công, tích
cực tiêu diệt địch”[8] và “Nếu không có tinh thần kiên quyết và liên tục tiến công thì không
thể tạo được thời cơ tốt, có thời cơ tốt cũng bỏ lỡ mà có khi còn bị địch ép
vào thế bị động rất nguy hiểm”[9]. Nắm bắt thời cơ lịch sử, sau khi giải phóng Tây Nguyên, Bộ Chính trị
đã chỉ đạo Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng “Chớp thời cơ nâng cao tốc độ
tiến công”. Các đơn vị thừa thắng, phát triển xuống vùng duyên hải Trung Bộ lần
lượt giải phóng Bình Khê, Phủ Yên, Nha Trang, Cam Ranh... làm toàn bộ lực lượng
Quân đoàn 2 - Quân khu 2 của địch bị tan rã; hệ thống phòng thủ chiến lược của
địch bị chia cắt, tạo nên thời cơ mới.
Thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư
lệnh, Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2 đã mở Chiến dịch Trị Thiên - Huế (05/3-
26/3/1975) nhằm bao vây, tiêu diệt tập đoàn phòng ngự thuộc Quân đoàn 1
- Quân khu 1, quân đội Sài Gòn ở Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Từ ngày 5 đến
ngày 20 tháng 3 năm 1975, ta tiến hành nghi binh ở bắc Quảng Trị, đồng thời sử
dụng lực lượng địa phương đánh nhỏ trên các trục giao thông, bao vây uy hiếp
địch ở tuyến giáp ranh, kết hợp hoạt động vũ trang tuyên truyền, các đơn vị chủ
lực đồng loạt tiến công, đánh chiếm các căn cứ, vị trí phòng ngự của địch ở
vùng giáp ranh và đồng bằng, đập tan mọi cố gắng phản kích của địch, tạo điều
kiện cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân nổi đậy…Đồng thời, ta kịp
thời triển khai lực lượng chặn đánh địch rút chạy ở khu vực đông nam Huế, đồng
thời đẩy mạnh tiến công trên các hướng bắc, nam và tây nam, đến ngày 26 tháng 3
năm 1975, giải phóng thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên.
Tiếp đó, từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 3 năm 1975, Quân đoàn
2, Quân khu 5 của ta đã tổ chức Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Đồng thời, tiến
công tiêu diệt lực lượng thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1 quân dội Sài Gòn tại Đà
Nẵng.
Đòn tiến công chiến lược vào Huế - Đà Nẵng thắng lợi, tạo ra
bước nhảy vọt về chiến lược, làm thay đổi hoàn toàn cục diện so sánh lực lượng,
thế trận. Trên đà thắng lợi, với tư tưởng chỉ đạo: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ,
chắc thắng”, “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa...”, ta bước
vào chiến dịch cuối cùng, có ý nghĩa quyết định trong cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy mùa Xuân 1975 - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Chiến dịch diễn ra với
quy mô lớn, hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng hiện đại, kết hợp chặt chẽ
giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công của lực lượng vũ trang ba thứ
quân và lực lượng chính trị quần chúng rộng khắp, đánh vào sào huyệt cuối cùng
của địch ở Sài Gòn. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ chiến
thắng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh
Độc Lập, kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giành thắng lợi trọn vẹn
trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, với tinh thần, ý chí triệt
để cách mạng, tư tưởng tích cực, chủ động tiến công.
Thắng lợi Chiến địch Tây Nguyên đến Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân 1975 là hiện thực hóa vận dụng quan điểm, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
muốn giành thắng lợi không thể chỉ dựa vào ý chí, mà phải có đường lối chiến
lược đúng đắn, sáng tạo, biết tạo ra sức mạnh và “Phải được tiến hành theo đúng
những nguyên tắc căn bản của khoa học và chiến thuật quân sự”. Đó là một hệ
thống bao gồm các luận điểm về thế tiến công; về vận dụng các nhân tố lực, thế,
thời và dùng mưu đánh giặc; về phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng,
đánh địch bằng mọi hình thức, mọi cách đánh và mọi thứ vũ khí trang bị; là biết
giành thắng lợi từng bước, biết khởi đầu và kết thúc chiến tranh. Trong đó, tư
tưởng “Kiên quyết không ngừng thế tiến công” giữ vị trí chủ đạo. Có tư tưởng
tiến công mới có hành động tiến công. Có chủ động mới phát triển được thế tiến
công; luôn luôn giữ quyền chủ động là biểu hiện cao nhất của tiến công. Người
chỉ rõ: “Bao giờ cũng giữ thế tiến công. Giữ thế tiến công là để mình tiến đánh
quân thù trước... Giữ thế tiến công mới đánh được giặc, không đánh được trận to
thì đánh trận nhỏ, làm tiêu hao giặc ít nào hay ít ấy”.
Tư tưởng chủ động, tích cực tiến công trong Chiến dịch Tây
Nguyên diễn ra là đòn tiến công chiến lược mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy mùa Xuân 1975 giành thắng lợi, là nét đặc sắc trong chỉ đạo kiên quyết,
triệt để. Quân và dân ta đã đập tan bộ máy chiến tranh của chính quyền tay sai
ở miền Nam, quét sạch bộ máy chính quyền Sài Gòn mà đế quốc Mỹ đã xây dựng hơn
20 năm. Ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam và cả các đảo do quân đội Sài Gòn
chiếm giữ. Nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do, tiến tới thực hiện thống
nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chiến thắng Tây Nguyên khẳng định, sự
lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta, về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, về
sức mạnh của chiến tranh nhân dân, thể hiện chủ động, tích cực tiến công địch
của dân tộc ta tiếp tục được kế thừa, phát huy để chống mọi cuộc chiến tranh
xâm lược đi đến giành thắng lợi quyết định trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
kết thúc chiến tranh. Những kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị, cần được
tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát huy trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Ngày nay trên thế giới, hòa bình, hữu
nghị, hợp tác, hội nhập và phát triển là xu thế phát triển chủ đạo nhưng những
mâu thuẫn, xung đột về sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, khủng
bố, lật đổ... vẫn diễn ra gay gắt; cùng với các nguy cơ và yếu tố đe dọa an ninh phi
truyền thống và vấn đề về tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Trước âm mưu hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ trong xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta cần chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và
dự báo chính xác đối tượng, đối tác là vấn đề chiến lược trọng yếu của cách mạng,
để có đối sách đúng, xử trí kịp thời, có hiệu quả các tình huống; đồng thời,
tham mưu, đề xuất kịp thời cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc
phòng các chủ trương, chính sách về quân sự, quốc phòng phù hợp với yêu cầu nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc; xây dựng quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh,”, đẩy mạnh
xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân, tự vệ “rộng khắp”; tăng cường quản
lý nhà nước về quốc phòng ở các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, trọng tâm là xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn
dân gắn chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn và cả nước;
xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, hoàn chỉnh thế trận, thế bố trí
chiến lược, sẵn sàng ứng phó thắng lợi với chiến tranh xâm lược ở các quy mô lớn./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét