KHÔNG THỂ XUYÊN
TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM
Hàng loạt hoạt động đối ngoại được lãnh đạo
Đảng và Nhà nước ta tiến hành trong thời gian gần đây nhằm tăng cường hợp tác
và đối thoại chiến lược với nhiều đối tác, nâng cấp quan hệ song phương với một
số quốc gia, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
hòa bình, hợp tác và phát triển... do Đại hội lần thứ XII đề ra.
Sự
chủ động, tích cực đó của Việt Nam được dư luận thế giới đồng tình và đánh giá
cao. Ấy vậy mà đây đó vẫn xuất hiện những giọng điệu lạc lõng cho rằng, tư duy
ngoại giao của Việt Nam đã lỗi thời và khuyến cáo rằng, đã đến lúc Việt Nam
phải thay đổi chính sách đối ngoại nếu không muốn bị cô lập... Thực chất của
chiêu trò này không gì khác vẫn là xuyên tạc sự thật hòng làm cho thế giới nghi
kỵ với Việt Nam, chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước, làm giảm lòng tin
của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ta.
Những
giọng điệu ấy dù có xảo quyệt, tinh vi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể
xuyên tạc được sự thật lịch sử, không thể đánh lừa được dư luận. Thực tiễn lịch
sử từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam) ra đời (2-9-1945) cho đến nay, đặc biệt trong hơn 30 năm đổi mới đã
khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà
nước Việt Nam.
Trong bản Tuyên
ngôn độc lập công bố trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình
lịch sử ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước
Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem
tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do,
độc lập ấy”. Có thể nói đó là những thông điệp ngoại giao đầu tiên
mà Việt Nam muốn gửi tới thế giới. Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc
lập, với một chính quyền non trẻ đứng trước vô vàn gian nan, thử thách, có những
lúc ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Việt Nam đã thể hiện rõ ý chí và thiện
chí của mình đó là lấy độc lập, tự chủ, bằng sức mình là chính, đồng thời
tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Trên thực tế ngoại giao đã được Đảng ta, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng như một thứ vũ khí sắc bén để bảo vệ thành
quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, huy động nhân tài, vật
lực để kiến thiết đất nước. Những thành công khởi đầu ấy đã đặt móng, xây nền
cho công tác ngoại giao, tiếp thêm động lực và để lại những kinh nghiệm quý để
Việt Nam tổ chức mặt trận ngoại giao trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân
tộc sau này.
Trong
những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện những đường lối,
quyết sách đúng đắn, đặc biệt là các hoạt động ngoại giao khôn khéo, linh hoạt
theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Đảng ta, đấu tranh ngoại giao
đã góp phần quan trọng nâng cao địa vị của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên
trường quốc tế; phân hóa, cô lập kẻ thù. Và cuối cùng, bằng những thắng lợi
trên mặt trận ngoại giao kết hợp với những thắng lợi về quân sự trên chiến
trường, chúng ta đã buộc thực dân Pháp phải cam kết công nhận các quyền dân tộc
cơ bản của nhân dân Việt Nam và các nước Đông Dương. Thực hiện đường lối của
Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, công tác ngoại giao Việt Nam luôn là một mặt trận hỗ trợ và phối hợp với
mặt trận đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự. Bằng nhiều hoạt động và biện
pháp linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, đấu tranh ngoại giao đã góp phần xứng đáng
vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Sau
khi đất nước thống nhất, đặc biệt là qua 30 năm đổi mới, công tác đối ngoại
luôn bám sát tình hình thế giới, tiếp tục đạt được những thành quả quan trọng,
góp phần không nhỏ vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của
đất nước. Sẽ là phiến diện nếu bàn đến thành tựu của công tác ngoại giao mà
không nhấn mạnh nhân tố quyết định đó là sự phát triển trong tư duy ngoại giao
và vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Có thể khẳng định tư duy ngoại giao của Đảng
ta luôn đổi mới và phát triển không ngừng. Chính sự đổi mới, phát triển ấy đã
giúp cho chính sách ngoại giao của Việt Nam luôn phù hợp với xu thế của thời
đại, phù hợp với tình hình thế giới và trong nước, đạt được những thành tựu kỳ
diệu, không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Sự
phát triển tư duy ngoại giao của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong đường lối
đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI đề ra.
Trong đó về lĩnh vực đối ngoại, Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm, cái nhìn mới
mẻ về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; về
những tác động, ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới với
Việt Nam; về xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước... Từ những nhận
định chiến lược, Đảng ta chủ trương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu
hút vốn đầu tư nước ngoài.
Sau
hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, ngày
20-5-1988, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 13/NQ-TW "Về nhiệm vụ và chính
sách đối ngoại trong tình hình mới", trong đó khẳng định mục tiêu chiến
lược và lợi ích cao nhất của Việt Nam là "Củng cố và giữ vững hòa bình để
tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế". Nghị quyết cũng thể hiện rõ
quan điểm chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng ta đó là "thêm bạn, bớt
thù"... Trong đổi mới về tư duy đối ngoại, Bộ Chính trị xác định: Đổi mới
tư duy cho kịp với sự phát triển nhanh chóng của tình hình thế giới, kết hợp
sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới của tình hình thế giới. Như vậy có
thể nói, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị đã đánh dấu sự đổi mới tư duy về công
tác đối ngoại. Đây là cơ sở hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Trước
những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới vào những năm cuối thập niên 80
và đầu thập niêm 90 của thế kỷ trước, tại Đại hội lần thứ VII (tháng 6-1991),
Đảng ta tiếp tục chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, với trọng tâm là “Hợp
tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính
trị-xã hội khác nhau, trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”, với phương
châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Nhiệm vụ bao trùm của công tác đối
ngoại là: "Giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo
điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ".
Từ
Đại hội VII đến Đại hội XI, Đảng ta chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ đối ngoại theo phương châm: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là
thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã
kế thừa những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại được thông qua tại các kỳ
đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XI và có những bổ sung, phát triển mới. Đại
hội XII chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ
đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và
thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động
đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu.
Như
vậy có thể thấy rõ đường lối đối ngoại rộng mở đề ra tại Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VI đã được Đảng ta bổ sung, phát triển thành đường lối đối ngoại
độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Tính đúng
đắn, sáng tạo và hiệu quả của đường lối đó đã được minh chứng bằng thành tựu
rực rỡ của công tác đối ngoại qua các nhiệm kỳ đại hội. Đường lối đó đã góp
phần quan trọng tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và
tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển KT, XH, tăng
cường QP, AN, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực
hiện đường lối đúng đắn đó, Việt Nam đã tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác
quốc tế và khu vực, đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu,
ổn định, bền vững, đồng thời hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào các thể chế
kinh tế toàn cầu. Đường lối đó đã khẳng định vị thế và vai trò cầm quyền của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Sự
thật rất rõ ràng vậy mà người ta vẫn cố tình xuyên tạc. Hành động xuyên tạc
đường lối đối ngoại của Việt Nam mà những kẻ phản động đang tiến hành là hết
sức nguy hiểm. Đặc biệt giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập
trung phát huy sức mạnh tổng hợp, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì những hành động ấy dễ làm nhiễu thông tin, gây phân
tâm, gây hiểu lầm trong quan hệ của các nước với Việt Nam, tác động tiêu cực
tới niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng.
Sự
phát triển trong tư duy ngoại giao, tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả trong
đường lối đối ngoại của Đảng ta là lời tuyên bố bác bỏ mọi giọng điệu xuyên tạc
sự thật của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động, những phần tử cơ hội
và bất mãn chính trị. Vấn đề đặt ra với mỗi người Việt Nam chân chính ở cả
trong và ngoài nước là cùng với quán triệt, nâng cao nhận thức về đường lối đối
ngoại của Đảng, phải chủ động phát hiện và đấu tranh mạnh mẽ phản bác mọi thông
tin sai sự thật, những luận điệu xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch,
nhằm bảo vệ đường lối của Đảng, góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của
cộng đồng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển KT, XH, giữ vững ổn
định chính trị, an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên
thế giới
Sự Thật
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét