Thứ Tư, 9 tháng 10, 2024

 

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 1950

Trung Lập

Chiến dịch Biên Giới - Thu Đông năm 1950 giành thắng lợi là bước ngoặt quan trọng để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Chiến thắng Biên Giới bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, mà quan trọng nhất là từ chủ trương đúng đắn, quyết tâm lớn của Trung ương Đảng và sự nỗ lực vượt  bậc của quân và dân ta cả nước, nhất là đồng bào các tỉnh Cao - Bắc - Lạng, nơi trực tiếp đối đầu với kẻ thù.

Đây là thắng lợi toàn diện của quân và dân ta cả về chính trị, quân sự, ngoại giao…Về chính trị, thắng lợi của chiến dịch đã phá được thế bao vây, cô lập hòng tiêu diệt ta của thực dân Pháp; mở toang cửa ngõ phía bắc, nối thông nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới; giải phóng đất đai và củng cố căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc. Về quân sự, thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới đã tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc địch chuyển dần sang chiến lược phòng ngự, ta chuyển sang giai đoạn chiến lược phản công và tiến công. Trong chiến dịch này, quân Pháp đã bị tiêu diệt và bị bắt trên 8.000 tên; trong đó, số đơn vị Âu - Phi bị loại  khỏi vòng chiến đấu chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược của Pháp trên chiến trường Đông Dương. Đây không chỉ là tổn thất về sinh lực mà còn là một đòn đánh mạnh vào tinh thần của quân viễn chinh, nhất là bộ máy điều hành chiến tranh của Pháp từ Hà Nội, Sài Gòn tới Pa-ri. Về ngoại giao, thắng lợi của Chiến dịch này đã làm thất bại âm mưu cô lập, khóa chặt biên giới của thực dân Pháp, mở thông biên giới Việt-Trung, ngoại giao và đoàn kết quốc tế đã tạo thêm thế và lực cho cuộc kháng chiến của quân dân ta, nư­ớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nư­ớc ta (18/01/1950), tiếp đó là Liên Xô (30/01/1950); sau đó, các nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hoà dân chủ Đức, Ru-ma-ni, Ba Lan, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, An-ba-ni lần lư­ợt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đi liền với việc công nhận đó, Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ mới bắt đầu viện trợ kinh tế và quân sự cho nước ta. Giải phóng quân Trung Quốc giúp Quân đội nhân dân Việt Nam kinh nghiệm xây dựng lực lư­ợng và tác chiến. Sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nư­ớc dân chủ mới chẳng những "nâng lên đến mức cao nhất niềm phấn khởi của nhân dân Việt Nam", mà còn tạo b­ước chuyển mới về chất lực lư­ợng kháng chiến của quân dân Việt Nam.

Trước khi Chiến dịch Biên Giới mở màn (16/9/1950), quân và dân ta đã tiến hành hơn 20 chiến dịch với các quy mô và trên các chiến trường khác nhau. Phần lớn các chiến dịch đó được giao cho Bộ Tư lệnh Khu và Liên khu đảm nhiệm; cấp chiến lược (Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh) chỉ trực tiếp chỉ đạo một số chiến dịch, song cũng chỉ tập trung vào một số mặt. Nhưng xuất phát từ yêu cầu chiến lược và tầm quan trọng của Chiến dịch, ngày 27/7/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy mặt trận và Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới đã cho thấy tư duy và sự chỉ đạo chiến lược, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thể hiện tập trung ở những vấn đề sau:

Một là, nhận định đúng tình hình và quyết định mở chiến dịch một cách kịp thời, chính xác.

Sau 4 năm kháng chiến, Đảng ta ngày càng dày dạn và trở thành một "Đảng kháng chiến" với nhãn quan chiến lược hết sức nhạy bén và sắc sảo. Đặt cuộc kháng chiến của nhân dân ta trong bối cảnh lúc đó, Đảng ta khẳng định: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Đông Dương là một bộ phận khăng khít của cuộc đấu tranh cho hoà bình thế giới; cuộc đấu tranh đó vào đầu năm 1950 đang có lợi cho ta, bất lợi cho Pháp về tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường Đông Dương, ta càng lớn mạnh hơn, Pháp càng đánh càng suy nhược. Từ đó Đảng nhận định: 1950 là năm bản lề giữa hai giai đoạn chiến lược (chiến lược cầm cự và chiến lược tổng phản công), năm chuyển biến lớn - "năm quyết định" để ta vượt qua giai đoạn cầm cự, chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Đó là cơ sở để Đảng mở Chiến dịch Biên Giới và quyết tâm giành thắng lợi cho kỳ được.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược trên, tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng thông qua chủ trương: hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị, chuyển mạnh sang tổng phản công và Chương trình công tác năm 1950. Chương trình này gồm 12 điểm, trong đó tập trung vào việc phát triển chiến tranh du kích đến cực độ, xây dựng bộ đội chủ lực, tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực,…Đặc biệt, trong Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 6 tháng 1 năm 1950 thì cùng với chủ trương mở Chiến dịch Tây Bắc, Đảng còn chủ trương chuẩn bị chiến trường Đông Bắc. Trên hướng Đông Bắc, Đảng chỉ đạo quân và dân vùng này, trực tiếp là các cấp ủy Đảng chuẩn bị chiến lược bao gồm: Chuẩn bị chiến trường, củng cố, phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích, điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch; chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội, chuẩn bị đường sá, v.v. Đó là bước chuẩn bị hết sức quan trọng. Không có bước chuẩn bị đó thì bộ đội ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trước khi bước vào giai đoạn thực hành chiến dịch.

Hai là, kịp thời chỉ đạo chuyển hướng chiến lược tạo bước ngoặt cho thắng lợi của Chiến dịch.

Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới thể hiện nghệ thuật chuyển hướng chiến lược tài tình của Đảng. Ban đầu, ta chủ trương mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc, vì Tây Bắc được coi là nơi yếu nhất và sơ hở nhất của địch. Tuy nhiên sau đó, do sự phát triển của tình hình, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chiến lược từ Tây Bắc sang Đông Bắc. Hướng Đông Bắc, từ chỗ được coi là hướng quan trọng, trở thành hướng chiến lược; ngược lại, Tây Bắc từ chỗ được xác định là hướng chiến lược, trở thành hướng phối hợp. Điều đó thể hiện rõ tài thao lược mà trực tiếp là nghệ thuật nắm bắt và tận dụng thời cơ chiến lược của Đảng ta. Bởi lẽ, sự chuyển hướng chiến lược Đông Bắc trực tiếp làm phá sản Kế hoạch Rơ-ve của Pháp nhằm củng cố tuyến biên giới Việt - Trung và phong toả bờ biển Việt Nam một cách nghiêm ngặt; củng cố tuyến hành lang Đông - Tây; chiếm giữ đồng bằng Bắc Bộ; củng cố khu phòng thủ tứ giác: Lạng Sơn, Móng Cái, Hà Nội, Hải Phòng để cô lập bao vây, tiêu diệt ta. Mặt khác, sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1949, trên hướng Đông Bắc, nhất là đoạn Cao Bằng - Đông Khê trở thành nơi xung yếu và sơ hở nhất trong hệ thống phòng thủ biên giới của địch. Chính vì vậy, chuyển hướng Đông Bắc và giải phóng biên giới nơi đây đảm bảo cho ta vượt ra khỏi thế bị bao vây cô lập, nối cuộc kháng chiến của ta với hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng căn cứ địa Việt Bắc trở thành tâm huyết chiến lược của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong Chiến dịch Biên Giới.

Ba là, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phương châm tác chiến chiến lược đúng đắn, sáng tạo

 Khi cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn cầm cự (giai đoạn hai), đầu năm 1949, Đảng đã đề ra phương châm tác chiến chiến lược căn bản đó là: Lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ. Song Đảng cũng đồng thời chỉ ra rằng, khi giai đoạn thứ hai tiến triển, ta phải "mạnh bạo đẩy vận động chiến đi tới, để một khi có đủ điều kiện thì nâng vận động chiến lên một địa vị quan trọng, ngang hàng với du kích chiến...". Để thực hiện phương châm tác chiến chiến lược đã xác định, Đảng ta đã đặt ra các nhiệm vụ cần kíp về xây dựng bộ đội, phát triển dân quân, kiện toàn cơ quan chỉ huy, xây dựng nền lý luận quân sự Việt Nam và rèn luyện cán bộ. Riêng rèn luyện cán bộ, Đảng nhấn mạnh: Vận động chiến cần có những cán bộ của vận động chiến: Chỉ huy chiến thuật linh động, có kế hoạch, có sáng kiến, có nhãn quan, hiểu địch và biết phán đoán địch, biết ứng phó nhanh chóng, đủ năng lực nắm một bộ đội lớn.

Bên cạnh việc đề ra phương châm tác chiến chiến lược, nhiệm vụ chiến lược, Đảng còn đòi hỏi quân dân ta phải đặc biệt chú ý đánh mạnh hơn nữa và táo bạo hơn nữa vào hậu phương của địch, đánh mạnh vào các trung tâm chính trị của địch; từ chủ động chiến dịch, mạnh bạo đi đến chủ động chiến lược bộ phận; tích cực chuẩn bị tổng phản công, chuẩn bị trong kế hoạch chiến lược, chuẩn bị trong xây dựng bộ đội, chuẩn bị về tinh thần cho toàn thể quân đội và nhân dân, v.v. Đó là những vấn đề hết sức quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là cơ sở để chỉ đạo hoạt động của quân và dân ta trên chiến trường cả nước. Trên chiến trường Đông Bắc cũng vậy. Để đảm bảo cho bộ đội ta "đánh điểm, diệt viện" ("đánh điểm" chỉ là biện pháp, "diệt viện" mới là mục đích của ta), cần có sự thống nhất phương châm tác chiến chiến lược trên toàn chiến trường, trực tiếp là chiến trường Bắc Bộ. Trong Chiến dịch Biên Giới, ta chủ trương đánh địch ở Cao Bằng - Lạng Sơn, đồng thời tiến hành các biện pháp nghi binh trên hướng Tây Bắc, làm cho địch lầm tưởng ta chuẩn bị chiến dịch ở Lào Cai. Đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao sau khi bị mất Đông Khê, quân Pháp không thể điều lực lượng cơ động chiến lược từ bên ngoài vào địa bàn chiến dịch đến cứu cụm cứ điểm này. Nói cách khác, nhờ có phương châm tác chiến chiến lược trên, quân và dân ta ở các địa phương, chiến trường luôn có sự phối hợp chặt chẽ trong việc kìm giữ, chia cắt hoặc nghi binh địch, tạo điều kiện cho các lực lượng tham gia Chiến dịch Biên Giới thực hiện cách đánh đã xác định, làm nên thắng lợi to lớn mang tầm vóc chiến lược.

Bốn là, lựa chọn đúng Bộ chỉ huy Chiến dịch, chỉ huy tác chiến tập trung, thống nhất, kịp thời.

Trong Chiến dịch này, Bộ chỉ huy Chiến dịch được tổ chức do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp phụ trách. Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh, ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm Bí thư Đảng ủy mặt trận, đồng thời là Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy mặt trận. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ quyết định những vấn đề lớn nhất của chiến dịch mà còn trực tiếp có mặt tại mặt trận để chỉ đạo chiến dịch. Đó là những biểu hiện, những hình ảnh cho thấy Chiến dịch Biên Giới là chiến dịch tiêu biểu về sự tập trung chỉ huy, chỉ đạo chiến lược. Nhờ sự chỉ đạo đó, quyết tâm chiến lược của Đảng, của Hồ Chủ tịch đã nhanh chóng trở thành quyết tâm của nhân dân và bộ đội. Các quyết định, chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng gần như ngay lập tức đến với các lực lượng trực tiếp tham gia chiến dịch. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận làm cho bộ đội, dân công càng thấy sâu sắc hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến dịch. Không có sự chỉ đạo nào mà hiệu quả hơn và cũng không có lời động viên nào thuyết phục hơn hình ảnh của vị Cha già dân tộc cùng toàn dân, toàn quân tham gia chiến dịch.

Như vậy, Chiến dịch Biên Giới 1950 là một trong những chiến dịch điển hình về chỉ đạo chiến lược đúng đắn, tài tình của Đảng - đã để lại cho chúng ta nhiều bài học có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai, nếu dân tộc ta buộc phải tiến hành thì về bản chất vẫn là cuộc chiến tranh tự vệ, chính nghĩa chống lại cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa. Nhưng do hai bên sử dụng vũ khí công nghệ cao, nhất là về phía địch, làm cho thời gian và không gian chiến tranh thay đổi hết sức nhanh chóng, buộc hai bên phải có những ứng phó tác chiến kịp thời cả về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Vì vậy, vận dụng, kế thừa thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới chính là những bài học về sự lãnh đạo của Đảng, về nghệ thuật chỉ đạo và phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, đại đoàn kết toàn dân, phối hợp chiến đấu của các lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét