SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG
VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI
NGOẠI
Kế thừa kế sách “tạo lực, lập thế, tranh thời, dùng
mưu” của tổ tiên ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; phát huy kết quả
đường lối lãnh đạo trong cách mạng giải phóng dân tộc, với tinh thần cách mạng
tiến công, để phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước, từ năm
1991 đến nay, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, trong đó có đổi
mới tư duy về việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối
ngoại.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã đề cập đến mối quan hệ giữa quốc phòng và an
ninh với việc xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, quốc
phòng, an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.
Cương lĩnh cũng chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là giữ vững
môi trường hòa bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ
nghĩa; xây dựng và phát huy tiềm năng, lực lượng mọi mặt của đất nước, cả về
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh
quốc gia; việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng
yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Do đó, cần phải “phối hợp lực
lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”. Tuy
nhiên, lúc này Đảng ta chưa đặt vấn đề kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối
ngoại trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất nước.
Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), nhận thức của Đảng
về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại mới rõ ràng, cụ thể hơn,
nổi bật là nhận thức rõ vai trò của đối ngoại trong các hoạt động quốc phòng,
an ninh, đặc biệt là các hoạt động đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đảng chủ
trương: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng
với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc
phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại”. Từ đây, mối quan hệ giữa quốc phòng,
an ninh và đối ngoại luôn được Đảng khẳng định và đề cập trong các văn kiện,
nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng
(năm 2001) tiếp tục bổ sung những quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, đối
ngoại và mối quan hệ giữa các hoạt động này. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kết
hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh
tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”. Điểm mới
trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh lúc này là
đã cụ thể hóa mối quan hệ đó vào trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, đưa vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các
ngành, trong đó nhấn mạnh cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về
quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Tuy
nhiên, việc cụ thể hóa quan điểm, nhận thức của Đảng vẫn chỉ tập trung ở lĩnh
vực quốc phòng, an ninh, chưa cụ thể hóa mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh
và đối ngoại thành chiến lược, chính sách, kế hoạch cụ thể.
Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, với việc đề ra “Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mối quan hệ
giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã trở nên đầy đủ, toàn diện, cụ thể và
có bước phát triển hơn so với các kỳ đại hội trước, không chỉ trong trong hoạt
động nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn với sự cụ thể hóa các quan
điểm, chủ trương, chính sách thành quy hoạch, kế hoạch, quy chế quản lý và phối
hợp hoạt động giữa các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đến năm 2005,
mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Nhà nước đưa vào Luật
Quốc phòng. Điều 5 Luật Quốc phòng đã chỉ rõ nguyên tắc của hoạt động quốc
phòng là “kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại”.
Tại Đại hội X (năm 2006), nhận thức của Đảng về mối
quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã có bước phát triển tương đối
toàn diện; không dừng lại ở việc xây dựng quy chế phối hợp, kết hợp các hoạt
động đó, Đảng còn chủ trương: “Bổ sung quy chế phối hợp hoạt động giữa quốc
phòng, an ninh, đối ngoại và các bộ, ngành có liên quan trong phân tích, dự báo
tình hình và làm tham mưu đề xuất các giải pháp thực hiện”; đồng thời nhấn mạnh
việc tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình,
hợp tác và phát triển; xây dựng chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa
dạng hóa các quan hệ quốc tế. Cùng với việc chủ động, tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế, cần phải mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác, trong đó có
lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 đã nhấn
mạnh việc cần phải phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động quốc phòng, an ninh với
hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó “Quốc phòng Việt Nam luôn gắn bó mật thiết
với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính
sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Đảng và
Nhà nước Việt Nam”.
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định
việc “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và
ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại
giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh” là quan điểm nhất quán
đối với công tác quản lý, phối hợp các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối
ngoại. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tăng cường mở rộng quan
hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Đảng
đã đề cập trực tiếp và đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại quốc
phòng, an ninh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “kết hợp
chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về
quốc phòng, an ninh”, trong đó xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời
bình: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa;
chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là
các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”, và chỉ rõ quá trình hội nhập
quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cho nên cần phải chủ động
trong việc dự báo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống, không để rơi vào
thế bị động, đối đầu, bất lợi. Việc xác định quan điểm nêu trên là rất cần
thiết để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động với việc chủ động giữ nước
trong thời bình.
Đại hội XIII
chỉ rõ: Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển
khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm,
xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh
là trọng yếu, thường xuyên. Hội nghị Trung ương 8 (Khóa
XIII) ban hành nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác
dịnh: Phát triển đất nước nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng
bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là trung tâm;
xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là then chốt; phát triển văn hoá, con người
là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là trọng yếu,
thường xuyên.
Từ sau Đại hội XIII của Đảng, các quan điểm nêu trên
trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan
thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã chủ động kết hợp chặt chẽ
giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Việc kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định là một trong
những nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét