SỰ PHÁT TRIỂN NHANH CHÓNG CỦA ĐOÀN 559 - BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN VÀ HỆ THỐNG ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TỪNG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MIỀN NAM
Trung Lập
1. Giai đoạn 1960 - 1964:
Những năm đầu xây dựng tuyến chi viện chiến lược.
Ở miền Nam, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương
Đảng, phong trào cách mạng đã có bước phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó,
Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh hoạt động chi viện cho chiến trường. Vị trí,
vai trò của Đoàn 559 ngày càng quan trọng, nhiệm vụ của Đoàn ngày càng nặng nề.
Trong khi đó, địch ngày càng tăng cường lùng sục, đánh phá ác liệt hơn. Ngày
1/9/1960, Hội nghị Ban cán sự Đoàn 559 ra nghị quyết nêu rõ: “Phải quyết tâm tự
lực cánh sinh, tranh thủ sử dụng đi đường cũ, đồng thời tiếp tục soi đường mới
để làm đường dự bị”.
Tháng 11/1960, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập
Đoàn 70, lực lượng nòng cốt là Tiểu đoàn 301. Xuất phát từ tình hình thực tế,
phương thức vận chuyển của Đoàn được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, nhanh
chóng chuyển đổi phương thức hoạt động mới, từ phòng tránh bị động tiến tới
phòng tránh tích cực với phương châm: Đánh địch mà đi, đánh địch để vận chuyển[1].
Trong khi tuyến giao liên vận tải quân sự từ miền Bắc
được mở dọc theo dãy Trường Sơn tiến dần vào phía Nam thì ở Trung Bộ, các con
đường giao liên được mở tiếp vào các khu căn cứ Tây Nguyên và từ miền Đông Nam
Bộ các đội vũ trang tuyên truyền cũng tiến hành soi đường ra Bắc. Đến cuối năm
1960, ta đã thiết lập được tuyến giao liên vận tải từ Trung Bộ vào miền Đông
Nam Bộ, tuyến giao liên quân sự Trường Sơn thật sự trở thành cầu nối giữa miền
Bắc với các căn cứ miền Nam.
Trong mùa khô 1960 - 1961, Đoàn 559 đã vận chuyển giao
cho chiến trường được 30 tấn vũ khí, bảo đảm lương thực cho gần 2.000 cán bộ
vào chiến trường, có chân hàng dự trữ cho các đợt vận chuyển tiếp theo.
Ngày 31/1/1961, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về nhiệm vụ
quân sự 5 năm (1961 - 1965) và phương hướng, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng
miền Nam. Trong đó có nhiệm vụ: Mở rộng đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam,
cả đường bộ và đường biển... nâng dần quy mô và khối lượng tiếp tế vận chuyển
phương tiện vũ khí, cung cấp tài chính từ miền Bắc vào miền Nam. Trước tình
hình địch đánh phá ngày càng ác liệt, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào
nhất trí với đề nghị của ta mở tuyến đường vận tải trên đất Lào, đồng thời cũng
đề nghị dùng đường đó để vận chuyển một số nhu cầu thiết yếu tới Nam Lào, cùng Lào
mở rộng vùng giải phóng ở khu vực này. Ngày 14/6/1961, Đoàn 559 chính thức bước
vào hoạt động trên tuyến Tây Trường Sơn.
Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 96/QP
phát triển Đoàn 559 tương đương cấp sư đoàn, quân số 6.000 người. Không chỉ phát
triển về số lượng, Đoàn 559 đã có bước phát triển quan trọng về chất lượng. Các
chiến sĩ Trường Sơn vừa là người lính vận tải, vừa là chiến sĩ bộ binh, công
binh, vừa công tác, vừa chiến đấu.
Đến cuối năm 1964, bộ đội tuyến 559 cùng các đơn vị vũ
trang, thanh niên xung phong và giao thông Quân khu 4 đã xây dựng được tuyến
hành lang vận tải gồm nhiều trục đường gùi thồ và một trục đường cơ giới ở Tây
Trường Sơn, thực hiện được chiến dịch vận chuyển quy mô lớn mà Quân ủy Trung
ương giao. Về lực lượng, sau hơn 5 năm hoạt động, quân số của Đoàn 559 lên đến
8.000 người.
Kết thúc năm 1964, Đoàn 559 đã đưa đón quân vào Khu 5:
15.896 người, Nam Bộ: 1.571 người.
2. Giai đoạn 1965 - 1968: Tuyến vận tải cơ giới
đường Hồ Chí Minh vươn sâu chi viện cho chiến trường miền Nam góp phần đánh bại
chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược.
Ngày 3/4/1965, Thường trực Quân ủy Trung ương ra Nghị
quyết tăng cường nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư lệnh 559: Nhiệm vụ chủ yếu của
Đoàn 559 là mở đường và tổ chức vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam
và Hạ Lào; đồng thời có nhiệm vụ bảo đảm vật chất và an toàn cho các lực lượng
hành quân, bảo vệ hành lang chống địch tập kích bằng đường bộ và đường không,
phối hợp và giúp đỡ các địa phương củng cố vùng giải phóng ở dọc hành lang.
Bộ Tư lệnh 559 có ba lực lượng chính là: lực lượng mở
đường mới, giữ gìn và sửa chữa đường cũ; lực lượng vận chuyển và giữ kho; lực
lượng bảo vệ. Ngoài ra còn có các lực lượng bảo đảm khác như: thông tin, quân
y, sửa chữa... Về tổ chức, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh của Đoàn tương đương cấp quân
khu trực thuộc Quân ủy Trung ương.
Quyết định trên đánh dấu bước phát triển mới của Đoàn
559, từ vận tải thô sơ chuyển sang vận tải cơ giới; từ quy mô cấp sư đoàn lên
quy mô cấp quân khu với những nhiệm vụ chiến lược to lớn, vô cùng khó khăn,
phức tạp trên một địa bàn rộng.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tháng 2/1966, Bộ Tư lệnh
559 giải thể các tuyến, tổ chức thành 8 binh trạm; mỗi binh trạm phụ trách một
khu vực nhất định và đều có một tiểu đoàn công binh.
Đầu năm 1967, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên được Bộ Quốc
phòng điều làm Tư lệnh Đoàn 559 kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương.
Với tác phong sâu sát, cụ thể, sau khi đã khảo sát nắm chắc tình hình trên toàn
tuyến, Đồng chí đã cùng Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh có nhiều quyết định
sáng tạo nhằm đổi mới phương châm, phương thức hoạt động, xây dựng vững chắc
thế trận Trường Sơn.
Bắt đầu từ mùa khô 1966 - 1967, đường giao liên tách
khỏi đường ô tô; hệ thống cầu đường được đổi mới một cách cơ bản trong thế trận
hiệp đồng chiến đấu giữa các quân, binh chủng trên toàn tuyến; nhờ đó công tác
vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam tăng gấp 25 lần, giao cho bạn Lào
tăng gấp 12 lần so với năm 1966, đưa bộ đội vào chiến trường tăng gấp 2,5 lần
so với chỉ tiêu Bộ giao.
Cuối năm 1967, Đoàn 559 đã xây dựng được một mạng
đường vững chắc với 2.959km đường ô tô bao gồm các trục dọc chính, trục dọc
phụ, đường ngang, đường vòng tránh và đường vào kho lấy hàng. Đây là một thế
trận cầu đường có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Sự phát triển của hệ thống
đường Hồ Chí Minh đã phục vụ đắc lực cho công tác vận chuyển chuẩn bị cho cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Năm 1968, Đoàn 559 đã có 25 binh trạm, 23 trung đoàn;
quân số lên đến 80.000 người.
3. Giai đoạn 1969 - 1972: Mở rộng đường Hồ Chí
Minh, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh” của đế quốc Mỹ xâm lược.
Hệ thống đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn không
chỉ phát triển vào các chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên mà còn được phát triển
mạnh ra phía Bắc, tiếp giáp với hậu phương lớn miền Bắc, đáp ứng với yêu cầu
chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam.
Tháng 7/1970, Bộ Tư lệnh 559 được đổi tên thành Bộ Tư
lệnh Trường Sơn. Các binh trạm được tổ chức thành các sư đoàn; gồm 8 sư đoàn, 1
đoàn chuyên gia (tương đương sư đoàn), 16 trung đoàn trực thuộc, 6 binh trạm.
Tháng 7/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn được tổ chức
thành: 5 Bộ Tư lệnh khu vực, 6 binh trạm trực thuộc, 6 trung đoàn công binh
trực thuộc, 2 trung đoàn ô tô, 3 trung đoàn phòng không, 2 trung đoàn đường ống
xăng dầu, 1 trung đoàn thông tin, 4 quân y viện và các cơ quan trực thuộc. Bộ
Quốc phòng cho phép tăng thêm 61 tiểu đoàn, nâng tổng số lên 188 tiểu đoàn và
tương đương trực thuộc các binh trạm; bổ sung 35.000 quân (20.000 bộ đội và
15.000 thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông), nâng
tổng quân số lên 92.000 người[2].
Ngày 5/5/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn huy động toàn bộ
lực lượng công binh và một số lực lượng khác đồng loạt ra quân mở “đường kín”
(là các con đường chạy dưới các tán cây của rừng Trường Sơn). Đến cuối năm
1971, toàn tuyến đã mở được 1.190km đường kín. Vận chuyển trên đường kín đã trở
thành xu thế chủ đạo trên đường Hồ Chí Minh, được Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường
Sơn đánh giá rất cao, coi đó là một thành tựu có ý nghĩa chiến lược, tạo được
thế bất ngờ đối với không quân địch. Hệ thống đường kín tiếp tục được phát
triển trong những năm tiếp theo.
Cuối năm 1972, ta đã xây dựng được một mạng đường giao
thông vận tải chiến lược gồm nhiều trục dọc, ngang và các đường vòng tránh,
hình thành hệ thống đường cho các kiểu, loại xe cơ giới, với tổng chiều dài
11.000km. Giao thông vận tải phục vụ kháng chiến của toàn miền Nam trong năm
1972 đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong
cuộc tiến công chiến lược năm 1972, buộc đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn phải
ký Hiệp định Pa-ri, đồng thời cũng góp phần cho cuộc tiến công chiến lược của
quân và dân Lào giành thắng lợi toàn diện, buộc địch phải ký Hiệp định Viêng
Chăn.
4. Giai đoạn 1973 - 1975: Hoàn thiện thế trận
đường Hồ Chí Minh, cùng cả nước tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa
Xuân năm 1975.
Đầu năm 1973, mạng đường chiến lược đã được xây dựng,
mở rộng trên địa bàn Tây Trường Sơn, về cơ bản vẫn là tuyến đường đất, chỉ bảo
đảm vận chuyển được trong mùa khô; còn trên địa bàn Đông Trường Sơn, ta chưa có
điều kiện mở đường qua Tây Nguyên. Để đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng vận
chuyển, tăng tốc độ xe chạy, tăng mật độ phương tiện nhằm tổ chức vận chuyển
lớn, cơ động lớn và nhanh các binh đoàn chủ lực và binh khí kỹ thuật đến các
hướng tác chiến, ta cần nhanh chóng xây dựng, phát triển, hoàn thiện mạng đường
giao thông vận tải chiến lược phía Đông, Tây Trường Sơn.
Để hoàn thành khối lượng lớn công việc được giao, Bộ
Tư lệnh Trường Sơn đã tổ chức điều chỉnh, bố trí lực lượng phù hợp với tình
hình; đồng thời được tăng cường lực lượng, phương tiện. Mùa khô 1973 - 1974,
lực lượng công binh được triển khai trên toàn tuyến làm nhiệm vụ xây dựng, khôi
phục và bảo đảm đường vận chuyển.
Giữa năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn có tất cả 8 sư
đoàn binh chủng, 20 trung đoàn và tương đương trực thuộc, hàng chục tiểu đoàn
trực thuộc các cục nghiệp vụ; tổng quân số lên đến 100.495 người, trong đó có
13.155 sĩ quan[3].
Cuối năm 1974, tuyến vận tải quân sự chiến lược trên
đường Hồ Chí Minh đã hoạt động cả mùa khô và mùa mưa, hình thành một hệ thống
đường chiến lược nối liền từ hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường, bảo
đảm cho tất cả loại binh khí kỹ thuật cơ động trong đội hình hành quân của các
quân đoàn, binh chủng hợp thành ra trận.
Từ khi ra đời cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân năm 1975 toàn thắng, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo
dài, ngày càng phát triển, vươn sâu tới các chiến trường, các hướng chiến lược,
chiến dịch. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, đường Hồ Chí Minh đã mở rộng,
vươn dài tới Lộc Ninh (Bình Phước) với tổng chiều dài gần 17.000km đường cho xe
cơ giới (gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang); đường giao liên dài trên 3.000km;
đường ống dẫn xăng dầu gần 1.400km; cùng với hệ thống đường vòng tránh, đường
sông, đường thông tin liên lạc[4]...
Trên mọi nẻo đường, hệ thống cung trạm, binh trạm, kho tàng, bến bãi, trạm bảo
dưỡng sửa chữa xe máy... được xây dựng trong một thế trận ngày càng hoàn chỉnh,
đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của chiến trường./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét