KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ LÀ
CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG ĐÚNG ĐẮN CỦA VIỆT NAM
Nhân Trần
Việt Nam
không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới không tham gia liên minh quân sự
và liên minh quân sự không phải là phương
thức tối ưu để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là quan điểm, chính sách nhất quán
và sự khẳng định đó dựa trên một số cơ sở là:
Thứ nhất, liên minh quân sự tuy là một vấn đề khá
phổ biến với nhiều nước nhưng luôn bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Tính khách quan, hai mặt của liên minh quân sự luôn
đan xen, chuyển hóa lẫn nhau, tác động trực tiếp đến giữ vững độc lập, tự chủ của
các nước. Trong đó, mặt tích cực, liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức
mạnh quân sự, quốc phòng; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự
trên chiến trường để thực hiện các chiến lược, chiến dịch quân sự cả tiến công
và phòng ngự; tạo thêm uy tín, vị thế đối với các nước tham gia. Tuy nhiên, mặt
trái của liên minh quân sự trực tiếp gia tăng căng thẳng, sự đối đầu giữa các
nước trong và ngoài liên minh, nhất là khi giữa các nước đang có những mâu
thuẫn về lợi ích. Khi hai quốc gia cùng tham gia vào một liên minh có thể bị
nước thứ ba coi đó là hành động thù địch và hệ quả làm gia tăng các hoạt động gây
hấn, chạy đua vũ trang, đẩy các nước đến gần hiểm họa chiến tranh. Ngoài ra, đó
còn là nguy cơ bị tiến công bất ngờ bởi chính các đồng minh nếu chủ quan, mất
cảnh giác. Mặt khác, khi tham gia liên minh các nước tuy nằm trong một khối
quân sự chung nhưng luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của nước lớn có tiềm lực
mạnh và phải tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, kể cả khi nguyên tắc ấy không
phù hợp với lợi ích của nước mình. Mỗi thành viên, nhất là các nước yếu hơn sẽ
không còn sự độc lập, tự chủ về những vấn đề cơ bản của đất nước mà rất dễ trở
thành “vật hy sinh”, “con tốt trên bàn cờ” để các nước lớn, các tập đoàn quân
sự hùng mạnh thỏa hiệp với nhau, thực thi chính sách lôi kéo, khống chế các
nước nhỏ trong liên minh. Trên thực tế, xung đột, leo thang quân sự, nội chiến ở
nhiều nơi xuất phát từ nguyên nhân chính phủ một số nước không đề cao nguyên
tắc độc lập và quyền tự quyết của quốc gia mà luôn trông chờ sự cứu giúp của
các thế lực bên ngoài. Đằng sau sự giúp đỡ tưởng như vô tư đó là những mưu đồ, tham
vọng, toan tính chiến lược của các cường quốc. Vì vậy, hòa bình, ổn định chưa
thấy mà hậu quả là sự chia cắt, xung đột, “nồi da nấu thịt”, chiến tranh sẽ
hiện hữu kéo lùi sự phát triển của đất nước. Và như vậy, đúng là “lợi bất cập
hại” khi tham gia liên minh quân sự; nhất là trong giữ vững độc lập, tự chủ của
đất nước.
Thứ hai, liên minh quân sự không phải là giải pháp
tối ưu trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam. Việc tham gia liên minh hay không, liên minh với ai,
lúc nào, để làm gì, liên minh đến đâu tùy thuộc các yếu tố khách quan, chủ quan
của từng thời kỳ lịch sử; nhất là chính sách quốc phòng và các mối đe dọa an
ninh quốc gia của mỗi nước. Không hề có cái gọi là tính tất yếu hay bắt buộc
phải tham gia liên minh. Trong lịch sử, đã có một số nước lớn lợi dụng liên
minh quân sự để thỏa hiệp với nhau vì lợi ích dân tộc hẹp hòi của họ; thông qua
viện trợ quân sự để có những động thái chi phối, tác động đến phương thức tác
chiến của quân đội ta. Để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể
dựa vào bất kỳ liên minh nào, hiệp ước nào mà phải bằng chính bản lĩnh, trí
tuệ, mồ hôi, công sức và xương máu của đất nước, con người Việt Nam. Chúng ta không
có chủ trương tham gia liên minh quân sự hoặc dùng liên minh quân sự để bảo vệ
Tổ quốc. Nếu tham gia liên minh quân sự nghĩa là phải gắn với bên này và có thể
đối đầu với bên kia tức đã chuốc thêm kẻ thù; sẽ phải chấp nhận để nước ngoài
đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, sử dụng một phần lãnh thổ của đất nước; rất
dễ bị kéo vào mâu thuẫn, xung đột giữa các nước và trở thành “bàn đạp” để nước
ngoài phát động chiến tranh xâm lược nước khác. Chúng ta không đứng về bên nào,
chỉ đứng về phía hòa bình, công lý và tiến bộ theo pháp luật quốc tế.
Thứ ba, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không xuất phát từ tham
gia liên minh quân sự mà là sức mạnh nội lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh
thời đại, sức mạnh của độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng
hợp của khối đại đoàn kết toàn dân và cả hệ thống chính trị; lấy sức mạnh nội
lực là chính. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một minh
chứng điển hình cho việc phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường
trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình mới, chúng
ta tiếp tục “phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính
trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc”[1].
Thứ tư, không tham gia liên
minh quân sự bởi tính chất quốc phòng của Việt Nam là vì hòa bình, để tự vệ. Việt Nam nhất quán chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không cho
nước khác đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam để tiến công nước khác; không liên kết với
nước này để chống nước kia; không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Kiên trì đường lối quốc
phòng với mục đích tự vệ và tính chất hòa bình, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp
với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên
Hợp quốc. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng
bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thông lệ quốc tế; đồng thời,
sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích
quốc gia nếu bị xâm phạm. Trong trường hợp phải tiến hành chiến
tranh thì đó cũng là chiến tranh tự vệ, giữ nước; khẳng định rõ khát vọng và thiện chí cùng chung sống hòa bình, hợp tác,
phát triển của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam./.
[1]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XII, Văn phòng Trung
ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.147.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét