Thứ Tư, 21 tháng 7, 2021

 

TƯ DUY MỚI VỀ BẢO ĐẢM AN NINH CON NGƯỜI

Nhân Trần

Nhiệm vụ thứ 7 trong định hướng phát triển đất nước đến năm 2030, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”. Đồng thời, Nghị quyết xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”. 

Trong định hướng và nhiệm vụ trọng tâm nói trên, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yếu tố “an ninh con người”. Khái niệm này lần đầu tiên được đưa vào Nghị quyết Đại hội Đảng, thể hiện quan điểm, tư duy mới trong đảm bảo an ninh quốc gia mà trọng tâm là vấn đề an ninh con người. Thực tế, khái niệm an ninh con người do Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) đưa ra đầu tiên vào năm 1994 trong báo cáo hàng năm về sự phát triển của con người. UNDP cho rằng: An ninh con người là sự an toàn của con người trước những mối đe dọa kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những biến cố bất ngờ, bất lợi trong cuộc sống hằng ngày. An ninh con người được đặt ra trong mối quan hệ mật thiết với những nội dung an ninh khác, an ninh con người có mối quan hệ với thời đại, xã hội và môi trường tự nhiên. An ninh con người trở thành một nhân tố, điều kiện quan trọng để thực hiện cũng như bảo đảm an ninh xã hội, an ninh toàn cầu. Đây là một phần của an ninh quốc gia, chính trật tự, kỷ cương mang lại môi trường, cuộc sống an toàn cho mọi người dân và từ môi trường đó càng củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, chế độ, củng cố niềm tin vào cuộc sống an lành.

Thực tiễn cho thấy, xã hội được bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn chính là thước đo quan trọng hàng đầu phản ánh chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân. Dù cho người dân có thu nhập tốt, mức sống cao nhưng nếu xã hội bất ổn về chính trị, bị đe dọa về nạn khủng bố, xung đột, bạo loạn… sẽ gây đảo lộn cuộc sống, làm cho tâm lý người dân hoang mang, lo sợ và cuộc sống chung của toàn xã hội sẽ bất an, nguy hiểm. Ngược lại, xã hội được bảo đảm an ninh không chỉ loại trừ được sự nguy hiểm đe dọa sinh mạng, sức khỏe mà còn đòi hỏi sự bảo đảm cho cuộc sống bình thường của mỗi con người, sự ổn định, hạnh phúc trong cuộc sống.

Vấn đề an ninh con người đã được Liên Hợp quốc và nhiều nước trên thế giới tiếp nhận như một tư duy mới có sức thuyết phục và có giá trị thực tiễn cao. Con người đặt ở vị trí trung tâm của thời cuộc, của xã hội là mang tính khách quan bởi xã hội suy cho cùng là xã hội của con người và vì con người. Thực hiện an ninh con người sẽ bổ sung và làm phong phú cho an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu.

Tuy nhiên, từ khái niệm chung về an ninh con người lại có cách hiểu cụ thể khác nhau, dẫn tới những chính sách và hành vi rất khác nhau. Thể chế chính trị Việt Nam coi trọng an ninh con người, đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi nhân dân là người chủ thực sự của xã hội. Do đó, các chính sách và an ninh xã hội, công bằng xã hội, bình đẳng xã hội, xóa đói giảm nghèo… được coi trọng và thực hiện cũng chính là nhằm bảo đảm an ninh con người.

Chính việc bảo đảm được an ninh con người làm cho an ninh quốc gia được ổn định, đất nước phát triển bền vững, hài hòa. An ninh con người không tách rời an ninh quốc gia và bảo đảm an ninh con người chính là bảo đảm an ninh quốc gia. Điều này cũng nhằm phản bác lại một số luận điệu muốn tách an ninh con người khỏi an ninh quốc gia, đặt an ninh con người trên an ninh quốc gia, từ đó lấy cớ nhân quyền, dân chủ để thực hiện các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia.

Đây thực chất là hành vi lợi dụng vấn đề an ninh con người để chống phá đất nước, gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia. Thực chất, bảo đảm an ninh con người trước hết phải là bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia của cả cộng đồng sinh sống, đó là chủ quyền thiêng liêng nhất, bao hàm an ninh con người và phục vụ cao nhất cho an ninh con người.

Trong điều kiện ngày nay, khi toàn cầu hóa với sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển vượt bậc kéo theo tất cả các nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế trở thành một tất yếu khách quan buộc tất cả các nước đều phải hòa mình vào dòng chảy đó. Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế luôn tạo ra cơ hội và thách thức đối với mọi quốc gia.

Hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi nước phải đề cao độc lập, chủ quyền cùng với an ninh xã hội, an ninh con người của đất nước mình. Do đó, việc bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người trong quá trình hội nhập quốc tế là một trong những vấn đề cơ bản và thiết yếu hiện nay đối với nước ta.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, xác định bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân, do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân.

An ninh con người là trạng thái người dân được sống ổn định, an toàn, không bị đe dọa bởi các nguy cơ xâm hại. Bảo vệ an ninh con người là bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong một môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh.

Để thực hiện được mục tiêu và tầm nhìn với các mốc phát triển nói trên, Đại hội XIII xác định 5 quan điểm chỉ đạo đòi hỏi quán triệt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Trong đó quan điểm thứ hai là: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

An ninh con người

Khái niệm “an ninh con người” lầu đầu tiên được nêu trong Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) năm 1994. Theo UNDP, khái niệm an ninh từ lâu được các nước hiểu theo nghĩa hẹp là an ninh quốc gia, trong phạm vi các mối đe dọa đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hay các vấn đề gắn liền với sự sinh tồn của một quốc gia như chiến tranh, chạy đua vũ trang, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt... UNDP cho rằng trong nhận thức về an ninh, các quốc gia đã không lưu tâm tới những mối lo lắng chính đáng về an ninh của những người dân bình thường trong cuộc sống thường nhật của họ. Chính vì vậy, UNDP đã đề xuất khái niệm an ninh con người, với 7 nhân tố cấu thành gồm: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị. Nội hàm khái niệm an ninh con người có hai khía cạnh chính cần được làm rõ là: (1) Sự an toàn trước các mối đe dọa triền miên như đói nghèo, bệnh tật và áp bức; (2) Con người cần được bảo vệ trước những biến động bất thường và có hại đối với cuộc sống hàng ngày, bất luận họ ở trong gia đình, nơi công sở hay ở cộng đồng(2).

Ủy ban An ninh con người của Liên Hợp quốc còn đưa ra định nghĩa khác về an ninh con người là phải bảo vệ các giá trị cơ bản quan trọng nhất trong cuộc sống của tất cả mọi người theo hướng tăng cường khả năng tự do lựa chọn và hưởng thụ của con người, nghĩa là bảo vệ con người khỏi những mối đe dọa, các tình huống nguy hiểm và hiện hữu ở khắp mọi nơi trên thế giới. Có nghĩa là, cần phải tạo dựng cùng một lúc các hệ thống chính trị, xã hội, môi trường, kinh tế, quân sự và văn hóa để chúng giúp con người đặt nền móng vững chắc cho sự tồn tại, cho cuộc sống bản thân và bảo vệ nhân phẩm của chính họ.

Ủy ban An ninh con người của Liên Hợp quốc đã đưa ra khuyến nghị 10 điểm: (1) Bảo vệ con người trong các cuộc xung đột bạo lực; (2) Bảo vệ con người khỏi việc phổ biến vũ khí; (3) Trợ giúp về an ninh cho những người đang trên đường di rời khỏi quê hương; (4) Thành lập các quỹ tạm thời về an ninh con người trong các tình huống hậu xung đột; (5) Khuyến khích giao thương công bằng và tiếp cận thị trường đem lại nguồn lợi cho những người nghèo khổ; (6) Bảo đảm mức sống tối thiểu cho con người ở khắp mọi nơi; (7) Chú ý ưu tiên tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản và đồng đều; (8) Phát triển một hệ thống các quyền phát minh sáng chế có hiệu quả và công bằng; (9) Bảo đảm quyền con người bằng hệ thống giáo dục phổ cập thông qua các nỗ lực toàn cầu cũng như của từng nước; (10) Bảo vệ sự cần thiết của những chuẩn mực chung toàn cầu về con người, nhưng đồng thời phải tôn trọng tự do lựa chọn của các cá nhân, các dân tộc để duy trì sự đa dạng bản sắc.

Liên Hợp quốc đã nhấn mạnh an ninh con người không tách rời hòa bình, an ninh và phát triển. Nó không chỉ đơn giản là tình trạng không có xung đột bạo lực, mà còn bao gồm quyền con người, quản lý nhà nước tốt, cơ hội tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khỏe, bảo đảm cho mỗi cá nhân có cơ hội và sự lựa chọn để phát huy được năng lực của mình. Cho đến nay, việc khái quát 7 nhân tố cơ bản cấu thành an ninh con người, tuy vẫn còn có những ý kiến khác nhau, nhưng những nội dung nêu ra hầu như không còn tranh cãi nhiều, ngoại trừ cách thức làm sao để thực hiện việc bảo đảm an ninh con người dựa trên các tiêu chí đó.

An ninh kinh tế, theo tài liệu của Liên Hợp quốc, được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là bảo đảm mức thu nhập cơ bản của con người, trong đó vấn đề việc làm đóng vai trò quan trọng. Thực trạng dân số thế giới tăng mạnh, trong khi sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học - công nghệ đã cho ra đời nhiều ngành sản xuất mới đòi hỏi trình độ và tay nghề của người lao động cao hơn rất nhiều (công nghệ thông tin, sinh học, na nô, các ngành công nghiệp và dịch vụ khác...) mà người lao động bình thường không dễ tiếp cận công việc. Các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động ngày càng bị thu hẹp khiến cho sức ép cạnh tranh việc làm ngày càng gia tăng, đe dọa trực tiếp tới an ninh kinh tế của mỗi con người cụ thể.

An ninh lương thực là một trạng thái mà không lúc nào con người bị đói, có nghĩa là họ có đủ các chất dinh dưỡng cho một cuộc sống hiệu quả, hoạt bát và khỏe mạnh. Tuy nhiên, nguồn lương thực sẵn có chưa phải là điều kiện để bảo đảm an ninh, bởi vì con người vẫn có thể bị chết đói khi lương thực dồi dào. Trong một thế giới hiện đại như ngày nay, hiện vẫn còn hơn 800 triệu người bị đói, Mỹ là quốc gia giàu có nhất thế giới, nhưng những người sống dưới mức nghèo đói vẫn còn hơn 43,1 triệu(3). Vấn đề chủ yếu ở chỗ, việc phân phối lương thực kém hiệu quả và con người thiếu khả năng thanh toán. Qua đó có thể thấy ngoài nhân tố ảnh hưởng của thiên tai đối với khả năng sản xuất lương thực, các chính sách và trình độ quản lý kinh tế của các chính phủ cũng đóng góp một phần không nhỏ vào việc bảo đảm nguồn cung cấp lương thực cũng như thu nhập cho người dân.

An ninh sức khỏe là một trong những nhân tố quan trọng và trực tiếp nhất của an ninh con người. Với một người bị ốm yếu, nhất là bị các chứng bệnh nan y luôn có cảm giác thiếu an toàn, khiến nhận thức “sức khỏe là vốn quý nhất của con người” đã trở nên phổ biến. Ở các nước đang phát triển, mỗi năm có hàng triệu người chết do các căn bệnh truyền nhiễm và liên quan đến ký sinh trùng. Còn ở các nước phát triển, các nhân tố gây chết người thường liên quan đến hệ tuần hoàn máu do lối sống “hiện đại không được kiểm soát” dẫn đến bệnh hiểm nghèo như; mất khả năng miễn dịch, kháng thuốc hay ung thư. Ở cả hai nhóm nước này, mối đe dọa tới sức khỏe con người thường nhiều hơn trong cộng đồng dân cư nghèo khổ nhất, những người sinh sống ở nông thôn và nhất là phụ nữ và trẻ em. Những năm gần đây nhiều loại bệnh như HIV/AIDS ngày càng trở nên nguy hiểm, ngoài ra Tổ chức y tế thế giới (WHO) cảnh báo một số loại bệnh mới như cúm gia cầm chủng H5N1... cũng có nguy cơ đe dọa tính mạng của hàng chục triệu người nếu nó trở thành đại dịch.

An ninh môi trường là các mối đe dọa từ môi trường đối với con người được chia làm hai loại cơ bản: loại do con người tạo ra và loại do thiên nhiên tạo ra. Những mối đe dọa do con người tạo ra bao gồm: Ô nhiễm nguồn nước, đất đai, không khí; nạn chặt phá rừng... Mối đe dọa do thiên nhiên tạo ra bao gồm: bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần... Khoa học đã chứng minh rằng con người và thiên nhiên có mối quan hệ mật thiết, do đó hiện tượng biến đổi khí hậu khiến cho thiên nhiên trở nên ngày càng khắc nghiệt có một phần đáng kể bắt nguồn từ những hoạt động của con người. Sự nóng lên của trái đất là do lượng khí thải gây nên hiệu ứng nhà kính, hoặc lũ lụt và hạn hán bắt nguồn từ việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng. Vấn đề an ninh môi trường nghiêm trọng tới mức UNDP đã dành toàn bộ Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 để bàn về chủ đề này. Báo cáo khẳng định rằng: có một điều tương đối rõ ràng là con người đang gặp phải ngày càng nhiều các trận bão lớn, lụt lội và hạn hán; chúng đang hủy hoại cơ hội của con người và làm gia tăng bất bình đẳng. Thế giới đang tiến sát tới thời điểm khó có thể tránh được thảm họa sinh thái.

An ninh cá nhân là khía cạnh quan trọng nhất của an ninh con người. Công dân của bất kỳ quốc gia nào, giàu hay nghèo, cuộc sống con người ngày càng bị đe dọa bởi nạn bạo lực khó lường trước với các hình thức rất dã man và phức tạp như: đe dọa từ nhà nước (tra tấn, lao động khổ sai); đe dọa từ các quốc gia khác (chiến tranh, xung đột vũ trang giữa các nhóm xuyên biên giới); đe dọa từ các nhóm người khác (căng thẳng và xung đột dân tộc, sắc tộc); đe dọa từ các cá nhân hoặc băng nhóm chống lại các cá nhân và băng nhóm khác (tội phạm, và tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, bạo lực đường phố); đe dọa trực tiếp đối với phụ nữ và trẻ em (bạo lực trong gia đình, buôn bán, lạm dụng trẻ em); đe dọa đối với bản thân (tự tử, nghiện hút). Trong mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau lại có các hình thức đe dọa tới an ninh cá nhân với tính đặc thù khác nhau.

An ninh cộng đồng là sự an toàn cho con người ngay từ trong một nhóm người, một gia đình, một cộng đồng dân cư, một tổ chức hay một nhóm sắc tộc, tôn giáo... và rộng hơn là an ninh của mỗi người được bảo đảm khi người đó sống ở trong một quốc gia nhất định, bao gồm nhiều cộng đồng khác nhau hợp thành mà cộng đồng đó có khả năng tập hợp lực lượng để chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài. Nếu một nhóm hay một cộng đồng nào đó được an toàn, thì khả năng mỗi thành viên trong cộng đồng cũng được an toàn là rất cao.

An ninh chính việc “xã hội tôn trọng các quyền cơ bản của con người”. Theo nghĩa rộng được Liên Hợp quốc xác định thì an ninh chính trị là quyền con người về chính trị. Theo đó, việc vi phạm nhân quyền là đe dọa tới an ninh chính trị của con người. Bảo đảm an ninh chính trị là làm sao để con người không phải chịu sự đàn áp, ngược đãi của các lực lượng thuộc quyền lực nhà nước, nhất là các cơ quan công quyền như cảnh sát, quân đội và các lực lượng thực thi pháp luật khác... Theo giới nghiên cứu, từ góc độ bảo đảm an ninh con người, trên phạm vi toàn cầu, người ta có thể chia thành hai loại: Một là, các mối đe dọa ở cấp độ  quốc gia, tức là chúng thường chỉ có tác động trong phạm vi biên giới quốc gia; Hai là, các mối đe dọa toàn cầu, tức là chúng phổ biến và có tác động trên phạm vi rộng, xuyên quốc gia, ảnh hưởng tới nhiều cộng đồng khác nhau. Các mối đe dọa tới an ninh con người thuộc loại thứ nhất đã được đề cập nhiều trong các phân tích ở phía trên, còn các mối đe dọa thuộc loại thứ hai bao gồm:

(1) Sự gia tăng dân số không được kiểm soát: Mặc dù các quốc gia đã có nhiều chính sách hạn chế hoặc khuyến khích thích hợp để giảm gia tăng dân số, nhưng theo dự báo dân số toàn cầu vẫn sẽ đạt con số 9,7 tỷ người vào năm 2050 và 11 tỷ người vào cuối thế kỷ XXI. Tốc độ tăng dân số đã tạo áp lực rất lớn đối với việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên không có hoặc ít khả năng tái tạo như đất, nước, dầu mỏ, than đá...

(2) Áp lực về di dân: Một trong những hậu quả rõ rệt của việc gia tăng dân số và tình trạng đói nghèo ở các nước đang phát triển là làn sóng di cư quốc tế tăng mạnh trong những năm qua. Tổ chức Di trú quốc tế ước tính, năm 2005 trên toàn thế giới có khoảng 191 triệu người di cư so với 176 triệu người năm 2000, trong đó có từ 30 triệu đến 40 triệu người di cư bất hợp pháp. Phần lớn những người di cư đều từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển. Họ tạo nên áp lực lớn đối với xã hội các nước tiếp nhận, từ tạo việc làm, chăm sóc y tế, cung cấp chỗ ở cho đến bảo đảm an ninh cho họ. Bản thân những người nhập cư còn cạnh tranh với người bản địa về công việc, làm gia tăng mâu thuẫn giữa các cộng đồng dân cư ở nhiều nước phát triển. Những năm gần đây, nạn di dân còn đến từ các nước có chiến tranh ở Trung Đông, Bắc Phi sang châu Âu tạo nên cuộc khủng khoảng nghiêm trọng và hiện khó khăn vẫn chưa được hóa giải.

(3) Bất bình đẳng về cơ hội kinh tế: Thể hiện ở mức thu nhập bình quân đầu người giảm và sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng. Khoảng cách giữa nhóm người giàu nhất và nghèo nhất tiếp tục doãng ra. Hiện vẫn còn tới 1,01 tỷ người có thu nhập dưới 1 USD/ngày(4). Có những nước ở châu Phi đang tụt hậu gần như khó có cơ hội đuổi kịp các nước phát triển hơn. Khiến cho toàn cầu hóa kinh tế không đồng nghĩa với việc tạo sự bình đẳng về cơ hội kinh tế cho mọi quốc gia, mọi cộng đồng. Vì thế, làn sóng chống toàn cầu hóa cũng nảy sinh.

(4) Nạn khủng bố quốc tế: Số liệu thống kê cho thấy từ năm 1975 đến 1992 bình quân có 500 vụ khủng bố quốc tế xảy ra mỗi năm. Từ đầu những năm 1990 trở lại đây số vụ khủng bố không giảm, quy mô khủng bố ngày càng lớn. Sau vụ 11-9 ở Mỹ, các vụ tấn công khủng bố ở Bali (Inđônêxia), ga tàu điện ngầm ở Lodon (Anh) hay trên tàu hỏa ở Madrid (Tây Ban Nha) và gần đây nhất là ở Pháp, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Ôxtrâylia... làm hàng trăm người thiệt mạng. Khủng bố không chỉ đe dọa tính mạng con người khắp nơi trên thế giới, mà còn gây thiệt hại nặng nề về tinh thần và vật chất.

(5) Phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD): sau Chiến tranh lạnh, các kho WMD của Mỹ và Nga đều giảm nhưng nguy cơ phổ biến lại tăng lên. Ấn Độ và Pakistan đã trở thành quốc gia hạt nhân từ năm 1998. Triều Triên cũng tham gia “câu lạc bộ” hạt nhân năm 2006. Việc phát hiện ra mạng lưới phổ biến công nghệ hạt nhân của A.Q Khan từ Pakistan cho thấy sự yếu kém trong việc phòng chống cho dù đã có các biện pháp nghiêm ngặt ở cấp độ quốc tế cũng như quốc gia. Vì WMD vẫn là vũ khí có sức hủy diệt lớn nhất nên một khi những kẻ khủng bố sở hữu WMD sẽ là thảm họa đối với thế giới. Gần đây tại Syria cũng đã xuất hiện khả năng bọn khủng bố IS cũng sử dụng vũ khí hóa học để tấn công dân thường(5).

(6) Xuống cấp về môi trường: Phần lớn các hình thức xuống cấp môi trường đều có tác động nghiêm trọng trong phạm vi quốc gia hoặc ở từng địa phương cụ thể. Tuy nhiên, hậu quả của chúng ngày càng lan rộng mang tính quốc tế cao, đe dọa đến nhiều quốc gia, thậm chí trên phạm vi toàn cầu. Các vụ cháy rừng ở Inđônêxia đã làm cho khói bụi lan sang Malaixia, Xinhgapo và một số nước khác; hoặc sự nóng lên của trái đất làm cho băng tan ở hai cực khiến nước đại dương dâng cao, uy hiếp trực tiếp các nước ven biển có nền đất thấp. Kinh tế phát triển “nóng” ở Trung Quốc cũng gây ô nhiễm nghiêm trọng cho các thành phố lớn của nước này. Xuống cấp môi trường đã trở thành mối đe dọa nguy hiểm vào bậc nhất đối với sự sinh tồn của con người.

(7) Sử dụng ma túy: Mặc dù các nỗ lực quốc tế phòng chống ma túy có mang lại một số kết quả nhất định, nhưng vẫn chưa có khả năng ngăn chặn triệt để nguy cơ này. Nạn ma túy hủy hoại tinh thần và sức khỏe của con người, xói mòn các nền tảng văn hóa, kinh tế, xã hội của các quốc gia. Những năm gần đây, các sản phẩm ma túy tổng hợp như thuốc lắc, ma túy đá, cỏ gây nghiện... phát triển mạnh ở châu Á càng làm cho nạn buôn ma túy thêm trầm trọng, mở rộng mối đe dọa đối với nhiều đối tượng mới, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên, kể cả học sinh và sinh viên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét