NHÀ NƯỚC CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
LUÔN TÔN TRỌNG
QUYỀN CỦA CÔNG DÂN
Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên hợp quốc
và là thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Việt Nam
đã thể hiện là một thành viên có trách nhiệm của công đồng quốc tế. Tất nhiên
điều này không ràng buộc Nhà nước ta có quyền dựa trên pháp luật quốc gia để xử
lý, giải quyết những vấn đề quyền con người của mình. Một trong những
thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường sử dụng để xuyên tạc vu cáo Nhà nước ta
vi phạm quyền công dân và quyền con người là tuyệt đối hóa quyền mà bỏ qua
nghĩa vụ. Theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có những
quyền được xem là “tuyệt đối” (được bảo đảm trong mọi hoàn cảnh) và có những
quyền là “quyền bị hạn chế” (bởi lợi ích của cộng đồng…).
Nhà nước Việt Nam có
quyền đưa ra và áp dụng những hạn chế nào đó (theo quy định của pháp luật) đối
với một số quyền con người là phù hợp với thẩm quyền của quốc gia theo quy định
của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế về quyền con người. Một số kẻ lợi dụng quyền con người
thường tuyên truyền rằng pháp luật Việt Nam chỉ bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước,
không bảo vệ quyền công dân, quyền con người. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta
là: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đồng thời vừa bảo vệ Chế độ xã hội, bảo vệ
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa bảo vệ quyền công dân và quyền
con người. Hiến pháp 1992, quy định tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, đồng thời cũng quy định công dân có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật…
Bộ Luật Hình sự 1999 có những quy định nhằm bảo vệ chế độ xã hội, thể chế quốc gia liên quan đến quyền con người là điều bình thường. Chính sách hình sự của Nhà nước ta một mặt trừng phạt tội phạm, mặt khác, quan trọng hơn đó là nhằm bảo đảm ổn định xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân; Pháp luật của Nhà nước ta thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa. Pháp luật Việt Nam không có khái niệm “tù nhân lương tâm,” không có khái niệm người “bất đồng chính kiến.” Khái niệm tội phạm trong Bộ Luật Hình sự 1999, không loại trừ hành động “ôn hòa,” “bất bạo động,” mà là các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Bộ Luật Hình sự 1999 có những quy định nhằm bảo vệ chế độ xã hội, thể chế quốc gia liên quan đến quyền con người là điều bình thường. Chính sách hình sự của Nhà nước ta một mặt trừng phạt tội phạm, mặt khác, quan trọng hơn đó là nhằm bảo đảm ổn định xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân; Pháp luật của Nhà nước ta thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa. Pháp luật Việt Nam không có khái niệm “tù nhân lương tâm,” không có khái niệm người “bất đồng chính kiến.” Khái niệm tội phạm trong Bộ Luật Hình sự 1999, không loại trừ hành động “ôn hòa,” “bất bạo động,” mà là các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Thực tiễn cách mạng Việt
Nam chứng minh rằng, Đảng, Nhà nước ta luôn luôn lấy độc lập dân tộc, chủ quyền
quốc gia và tự do hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu đấu tranh. Không ai có
thể phủ nhận được rằng, Cách mạng tháng Tám 1945 lần đầu tiên đã đem lại quyền
công dân, quyền con người cho nhân dân ta.
Các cuộc kháng chiến với
nhiều hy sinh, gian khổ là do Chủ nghĩa đế quốc gây ra và chính
là nhằm bảo vệ Tổ quốc và cũng là bảo vệ quyền công dân và quyền con người của
nhân dân Việt Nam. Sự hy sinh trong chiến tranh là điều không
thể tránh khỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không có gì quý hơn độc lập tự
do.” Sự nghiệp đổi mới,
hội nhập quốc tế về mọi mặt, trong đó có hội nhập về chính trị là do Đảng Cộng
sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Trên lĩnh vực quyền con người, Việt Nam đã
sớm gia nhập, ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Cho đến nay Việt
Nam đã tham gia hầu hết công ước quốc tế về quyền con người đồng thời Việt Nam
đã nội luật hóa các công ước này vào hệ thống pháp luật quốc gia.
Mặc dù nước ta còn nhiều
khó khăn, lại trải qua các cuộc chiến tranh lâu dài tàn khốc, cho đến nay vẫn
còn hậu quả rất nặng nề song có thể nói các quyền con người, quyền công dân của
nhân dân ta đã được bảo đảm ngày càng tốt hơn.
Trong điều kiện của một quốc gia còn nghèo, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bảo đảm quyền kinh tế xã hội và văn hóa cho mọi người nói chung, cho nhóm người nghèo, những nhóm xã hội dễ bị tổn thương, như phụ nữ, trẻ em, đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng.
Trong điều kiện của một quốc gia còn nghèo, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bảo đảm quyền kinh tế xã hội và văn hóa cho mọi người nói chung, cho nhóm người nghèo, những nhóm xã hội dễ bị tổn thương, như phụ nữ, trẻ em, đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng.
Theo Báo cáo của Hội đồng
Dân tộc của Quốc hội, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006-2010), ngân
sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong đó, các
tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu đôla Mỹ; xây dựng được gần
13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm ở các vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện Nghị quyết 30a
của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trong cả
nước, Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực: đến hết năm
2010, các huyện đã cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm, với 73.418 căn nhà (đạt
94,58% kế hoạch). Hiện nay, chương trình nhà ở xã hội của Chính phủ đang được
triển khai tích cực ở nhiều địa phương, nhằm trợ giúp cho công nhân, người thu
nhập thấp và sinh viên.
Theo thông tin của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư tại Hội thảo “Tham vấn về khung phát triển sau năm 2015” do UNDP và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tại Hà Nội, 20/3/2013,
Việt Nam đã về sớm 3 Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (MDG). Đó là: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói
(MDG1); Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở (MDG2); Bình
đẳng giới (MDG3). Tại hội nghị này, đại diện Liên hợp quốc đã đánh giá Việt Nam
là một trong số 40 quốc gia có nhiều cố gắng thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ.
Đối với việc bảo đảm các
quyền dân sự, chính trị có thể nói nhóm quyền này luôn luôn được Đảng và Nhà
nước ta tôn trọng và thực hiện nghiêm túc. Trừ giai đoạn có chiến tranh, cho
đến nay quyền bầu cử, ứng cử tự do, chế độ nhiệm kỳ của Quốc hội và những chức
danh quan trọng của Nhà nước được thực hiện một cách nghiêm túc. Quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí và thông tin, được xem là nhóm quyền cơ bản và nhạy
cảm cũng đã đạt được những thành quả to lớn. Ngoài Luật Báo chí, khẳng định
quyền tự do ngôn luận của người dân, Nhà nước đã ban hành quy định: Các cơ quan
của Chính phủ có trách nhiệm định kỳ và khi cần, cung cấp thông tin kịp thời
cho báo chí.
Các cơ quan truyền thông
của Việt Nam phát triển nhanh chóng và phát huy tốt vai trò truyền tải thông
tin về mọi mặt đời sống xã hội đến nhân dân, phát hiện, phê phán những mặt tiêu
cực trong đời sống xã hội. Đến nay, cả nước có hơn 700 cơ quan báo chí với hơn
850 ấn phẩm; 68 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, hơn 80
báo điện tử, hàng nghìn trang tin điện tử và blog…
Người dân Việt Nam ngày nay, từ đô thị đến vùng sâu, vùng xã còn được tiếp cận với nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN,… và được sử dụng các trang mạng như Yahoo, Google, Facebook… Hội Nhà báo Việt Nam có hơn 17.000 thành viên. Tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Theo nhiều khách quốc tế đến Việt Nam thì giá cước internet ở Việt Nam vào loại rẻ nhất thế giới. Đây là một điều kiện bảo đảm quyền tự do thông tin không dễ gì có được đối với một nước nghèo.
Người dân Việt Nam ngày nay, từ đô thị đến vùng sâu, vùng xã còn được tiếp cận với nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN,… và được sử dụng các trang mạng như Yahoo, Google, Facebook… Hội Nhà báo Việt Nam có hơn 17.000 thành viên. Tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Theo nhiều khách quốc tế đến Việt Nam thì giá cước internet ở Việt Nam vào loại rẻ nhất thế giới. Đây là một điều kiện bảo đảm quyền tự do thông tin không dễ gì có được đối với một nước nghèo.
Không phủ nhận rằng trong
một số giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã có những sai lầm khuyết điểm, nhất là do
mắc bệnh giáo điều trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài. Chẳng hạn như trong cải cách ruộng đất
(1954-1956); trong “cải tạo tư sản” ở miền Nam sau ngày giải phóng; trong một
số chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo mô hình cũ (Đại hội VI, 1986 đã
tự phê bình).
Cũng không phủ nhận rằng
trong nhiều nhiệm kỳ qua, trong hệ thống chính trị của Nhà nước ta đã xuất hiện
tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một số cán
bộ Đảng, Nhà nước các cấp, cũng như tình trạng “lợi ích nhóm;” sự phân hóa giàu
nghèo trong xã hội và nhiều tiêu cực khác. Tình trạng này đã làm tổn hại đến
việc bảo đảm quyền công dân và quyền con người của nhân dân ta. Tuy nhiên không
vì vậy mà phủ nhận được mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta, không thể phủ nhận được
những thành tựu về quyền con người của Cách mạng Việt Nam trên một nửa thế kỷ qua.
Tôn
trọng và bảo đảm quyền con người là thước đo của sự tiến bộ xã hội. Bảo vệ chế
độ xã hội xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà nước ta là điều kiện để chúng ta vươn
lên vượt qua mọi khó khăn thử thách đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân dân ta
tiến đến mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.
CHÂN LÝ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét