CHÍNH SÁCH
QUỐC PHÒNG 4 KHÔNG CỦA VIỆT NAM
Nhân Trần
Thứ nhất, không tham gia liên minh quân sự
Việt Nam nhất quán “thêm bạn, bớt thù”. Một khi tham gia liên minh quân
sự, chúng ta sẽ phải gắn với một bên, phải san sẻ trách nhiệm tài chính, nhân
lực; có thể phải nhân nhượng một số lợi ích, sẽ phải hy sinh một phần nhất định
chủ quyền quốc gia, có thể phải đối đầu với bên khác, tức là “chuốc” thêm kẻ
thù. Do đó, Việt Nam chỉ chọn đứng về hòa bình, lẽ phải, công lý, luật pháp
quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Mặt khác, sau Chiến tranh Lạnh, các nước
đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, mỗi nước phải tự bảo vệ lợi ích quốc gia
mình, không thể trông chờ và sẽ không có quốc gia nào bảo vệ lợi ích thay cho
nước khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cố gắng duy trì quan hệ cân bằng giữa các nước
lớn, đặc biệt trong bối cảnh diễn ra cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn
tại khu vực Biển Đông.
Thứ hai, không liên kết với nước này để chống
nước kia
Việc thực hiện nguyên tắc “không liên kết với bất kỳ nước nào để chống
lại một nước khác” trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay.
Nếu Việt Nam liên minh với bên ngoài, ưu tiên dùng biện pháp quân sự để giải
quyết các tranh chấp, bất đồng thì sẽ khó được các nước khác ủng hộ. Nguyên tắc
này giúp Việt Nam có vị thế phù hợp để đối thoại với các nước hay tham gia vào
các cơ chế đối thoại an ninh, quan sát viên các hội nghị, các cuộc tập trận ở
khu vực. Tuy tham gia diễn tập với một số nước, nhưng Việt Nam không đi với đối
tác này để chống lại nước thứ ba. Mỗi năm, Việt Nam đón hàng chục tàu chiến
nước ngoài, thậm chí năm 2018 và năm 2020, Việt Nam đón tàu sân bay Mỹ vào
thăm, nhưng không phải là Việt Nam dùng các chiến hạm nước ngoài để đối phó với
các hành động đe dọa chủ quyền của mình ở Biển Đông.
Thứ ba, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc
sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác
Việt Nam khẳng định rõ ràng với thế giới là không chấp nhận cho nước
ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để
phát động chiến tranh xâm lược nước thứ ba. Với quân cảng Cam Ranh, chúng ta
xác định đây là căn cứ riêng của hải quân Việt Nam; đồng thời, Việt Nam đã cho
xây dựng cảng quốc tế Cam Ranh để đáp ứng yêu cầu của không ít quốc gia muốn
cho tàu chiến được ghé đậu quân cảng này. Như vậy, hoạt động của tàu chiến nước
ngoài tại cảng quốc tế Cam Ranh không vi phạm nguyên tắc “không cho nước ngoài
đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác”. Đến
nay, Việt Nam đã đón tiếp nhiều tàu hải quân nước ngoài, bao gồm Mỹ, Ấn Độ,
Nhật Bản, Australia, Pháp, Anh, Canada, New Zealand, Nga, Trung Quốc…. đến
thăm, ghé đậu tại cảng quốc tế Cam Ranh. Điều đó thể hiện sự kiên định về
nguyên tắc và uyển chuyển trong cách thực hiện của Việt Nam. Việc vận dụng thực
hiện các chính sách nói trên hoàn toàn tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thứ tư, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực trong quan hệ quốc tế
Việt Nam chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế. Việc bổ sung điểm này làm nổi bật bản chất phòng thủ và
hòa bình trong chính sách quốc phòng Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Việt
Nam nỗ lực nâng cao năng lực quân sự của mình. Nguyên tắc không sử dụng vũ
lực được đề cập từ Thỏa ước Hội Quốc liên năm 1919 và Hiệp ước Briand-Kellog hay
còn gọi là Hiệp ước Paris năm 1928. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên
tắc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”
được ghi nhận trong Điều 2, khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Điều 2, khoản
2, Hiến chương ASEAN. Do đó, Việt Nam chỉ nhắc lại một nguyên tắc đã được quốc
tế thừa nhận rộng rãi, thể hiện chính sách quốc phòng Việt Nam tôn trọng nguyên
tắc cơ bản của Liên Hợp quốc; đồng thời, góp phần nhấn mạnh tính phi pháp của
các hành vi gây hấn, đe dọa, cưỡng ép nước khác phải ngừng hợp tác thăm dò,
khai thác dầu khí ở vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia. Nhắc lại nguyên tắc “không
sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”, Việt Nam muốn chuyển tải thông điệp: Mỗi
quốc gia cần hành xử có trách nhiệm, tương xứng với trách nhiệm và vị thế quốc
tế của mình. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội
cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất
nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến
tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng
ta kiên định chính sách quốc phòng, không liên kết với nước này chống nước kia.
Tuy nhiên, tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ
thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần
thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc
tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”.
Điểm này tạo cho Việt Nam sự linh hoạt, chủ động ứng phó trong những tình huống
phức tạp hoặc khi có yêu cầu cấp thiết bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần “Chủ
động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy
mới về bảo vệ Tổ quốc”, Việt Nam có thể cân nhắc, tham gia một số hoạt động
phối hợp bảo vệ chủ quyền vùng biển theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển
năm 1982 trên các diễn đàn khu vực, quốc tế. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà
nước Việt Nam đã “phủ sóng” tới 192/194 quốc gia trên thế giới. Quan hệ đối
ngoại quốc phòng ngày càng rộng mở với trên 80 quốc gia thuộc các châu lục, đặc
biệt Việt Nam có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội
đồng Bảo an Liên Hợp quốc. Đây là thuận lợi chưa từng có, là cơ hội để Việt Nam
ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định,
nâng cao vị thế của đất nước và quân đội trên trường quốc tế./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét