HIỂU ĐÚNG VỀ BẢN CHẤT CỦA QUYỀN CON NGƯỜI
Hoa Súng
Theo Văn phòng
Cao ủy Liên hợp quốc: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác
dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc
làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người”. Bản chất của quyền con người được thể hiện đó là:
Thứ nhất, quyền con người là giá trị chung của nhân loại, là
mục tiêu hướng tới của mọi xã hội dân chủ và văn minh. Quyền con người là phạm trù tổng hợp, phức tạp, nên có
nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên quyền con người không trừu tượng, mà luôn
gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và phụ thuộc vào bản chất của
phương thức sản xuất và bản chất chính trị - xã hội với quan hệ sản xuất thống
trị quy định nên chế độ chính trị - xã hội ấy; quyền con người là những bảo đảm
pháp lý phổ quát nhằm bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động
và sự lãng quên làm tổn hại đến các quyền tự do cơ bản và phẩm giá con người. Tư
tưởng quyền con người xuất hiện từ chế độ thị tộc, nhưng phải đến thời kỳ cận
đại mới được thảo luận sôi nổi và được đề cập như một học thuyết thực sự. Vì
vậy, quyền con người thường bị lợi dụng nhằm gây hiểu lầm rằng, nó là thành tựu
của riêng văn minh phương Tây. Cùng với sự
ra đời của Liên hợp quốc năm 1945, những văn kiện quốc tế về quyền con người
cũng được xây dựng và phát triển, quyền con
người được khẳng định là những giá trị bẩm sinh, vốn có của mỗi cá nhân, được
ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và quốc tế; là những giá trị, ngôn
ngữ và tiêu chuẩn chung của nhân loại. Thực tế, quyền con người trước khi
chuyển hóa vào hiện thực trong cuộc sống phải trở thành quan niệm của chính con
người, nghĩa là được con người coi là cái thiết yếu, cái cần phải như vậy - cần
cho sự tồn tại.
Thứ hai, quyền con người luôn gắn liền với quyền dân tộc tự quyết và chủ quyền
quốc gia, gắn bó mật thiết trong toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử. Muốn có quyền con người, phải
thực sự có chủ quyền quốc gia. Khi chủ quyền của một quốc gia, dân tộc bị xâm
phạm, chà đạp thì không thể tồn tại các “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc” của nhân dân. Ở cấp độ quốc tế, quyền dân tộc tự quyết được
khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc và được nhấn mạnh trong các văn
kiện quốc tế, rằng: Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết... Khước từ quyền
dân tộc tự quyết là sự vi phạm quyền con người. Vì vậy, không một quốc gia,
không một tổ chức nào được phép tự coi mình là đại diện cho quyền con người
toàn nhân loại, sử dụng cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền” hay “nhân
quyền không biên giới” nhằm can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ
quyền, bởi đó là hành động vi phạm nghiêm trọng quyền con người.
Thứ ba, quyền con người là giá trị phổ quát và mang tính tất
yếu, song phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Quyền con người dù được thừa nhận, song lại không mặc
định được áp dụng trực tiếp trong xã hội, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền
ấy mới chuyển thành những quyền con người mang đầy đủ giá trị hiện thực và pháp
luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hoá đó. Trên phạm vi
thế giới, việc pháp điển hóa các quyền ấy thành các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế
về quyền con người diễn ra một cách có hệ thống kể từ khi Liên hợp quốc ra đời.
Theo đó, quyền con người đã trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp luật quốc
tế, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người là thước đo về trình độ văn
minh của các nước và các dân tộc trên thế giới. Trong phạm vi quốc gia, việc
bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận các quyền trong pháp luật cùng
với các thành quả phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, qua đó, cũng là cách để
một quốc gia tuyên bố với thế giới về hiện thực quyền con người của mình. Vì
thế, không thể có cái gọi là “nhân quyền không biên giới”, nhân danh quyền con
người để thực hiện các hành động bất hợp pháp, như xâm phạm chủ quyền và can
thiệp vào công việc nội bộ của các nước.
Thứ tư, quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá
nhân. Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ được
hiểu rằng, các quyền của con người chỉ ra những nghĩa vụ của xã hội nhằm thỏa
mãn nhu cầu của mỗi cá nhân, đồng thời mỗi cá nhân phải tôn trọng và thực thi
nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với xã hội và cộng đồng. Không có quyền lợi nào
mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi. Ai cũng có
nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển
một cách tự do và đầy đủ.... Điều này có nghĩa, mỗi cá nhân trong khi được
hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng lợi ích của
cộng đồng, cũng như vậy, Nhà nước trong các chức năng của mình, vừa phải tôn
trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, vừa phải bảo đảm trật tự, an
toàn xã hội cũng như lợi ích chung của cả cộng đồng. Mọi thành viên của xã hội
đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của người khác. Do
đó, tuyệt đối hóa quyền con người một cách máy móc mà không thấy nghĩa vụ cá
nhân với cộng đồng và với xã hội là sai lầm.
Ở Việt Nam, quyền con người luôn gắn với quyền độc lập, tự do của quốc gia,
dân tộc. Từ khi Cách mạng Tháng 8/1945 thành công cho đến nay quyền con người luôn
được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm thể hiện rõ trong Hiến pháp và các
chính sách xã hội qua các thời kỳ, các chỉ số phát triển kinh tế-xã hội, giáo
dục, đào tạo, văn hóa, y tế... trong 40 năm thực hiện đường lối đổi mới là một
minh chứng rõ nét để phê phán phản bác
các qyan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về vấn đề “nhân quyền” ở Việt Nam
hiện nay./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét