QUYỀN TỰ DO ĐI LẠI CỦA CÔNG DÂN
Hoa Súng
Phù hợp với quy định này của Công ước, Hiến pháp Việt
Nam năm 2013, tại Điều 23 quy định: Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở
trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các
quyền này do pháp luật quy định.
Trên tinh thần của Điều 23, Hiến pháp năm 2013, tại
Điều 5 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 quy định: Công
dân Việt Nam có các quyền: Được cấp giấy tờ xuất nhập cảnh theo quy định của
Luật này; Người từ đủ 14 tuổi trở lên có quyền lựa chọn cấp hộ chiếu có gắn
chíp điện tử hoặc hộ chiếu không gắn chíp điện tử; Được xuất cảnh, nhập cảnh
theo quy định của Luật này; Được bảo đảm bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong
Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, trừ
trường hợp phải cung cấp thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật; Yêu
cầu cung cấp thông tin về xuất cảnh, nhập cảnh của mình; yêu cầu cập nhật,
chỉnh sửa thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của
công dân Việt Nam, giấy tờ xuất nhập cảnh của mình để bảo đảm đầy đủ, chính
xác; Sử dụng hộ chiếu của mình để thực hiện giao dịch hoặc thủ tục khác theo
quy định của pháp luật; Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường theo
quy định của pháp luật.
Công dân Việt Nam được xuất cảnh khi có đủ các điều
kiện quy định tại Điều 33 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm
2019:
a) Có giấy tờ xuất nhập cảnh còn nguyên vẹn, còn thời
hạn sử dụng; đối với hộ chiếu phải còn hạn sử dụng từ đủ 6 tháng trở lên;
b) Có thị thực hoặc giấy tờ xác nhận, chứng minh được
nước đến cho nhập cảnh, trừ trường hợp được miễn thị thực;
c) Không thuộc trường hợp bị cấm xuất cảnh, không được
xuất cảnh, bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật. Người mất năng
lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy
định của Bộ luật Dân sự, người chưa đủ 14 tuổi ngoài các điều kiện trên
phải có người đại diện hợp pháp đi cùng.
Tại Điều 34 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân
Việt Nam năm 2019 quy định: Công dân Việt Nam được nhập cảnh khi có giấy tờ
xuất nhập cảnh còn nguyên vẹn, còn thời hạn sử dụng.
Quyền tự do đi lại có thể bị hạn chế trong trường hợp
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo
đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Chúng ta có thể thấy rõ nhất việc này qua đại
dịch COVID-19 năm 2020, 2021 - thời điểm dịch bệnh đang diễn biến căng thẳng
nhất trên toàn cầu.
Trong tình hình đó, công dân Việt Nam từ nước ngoài
trở về phải cách ly tập trung 14 ngày và tiếp tục cách ly tại nhà 14 ngày tiếp
theo.
Ở trong nước, các Thủ đô Hà Nội và nhiều tỉnh, thành
phố khác đều áp dụng biện pháp giãn cách xã hội để phòng chống dịch. Người dân,
các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp được yêu cầu giãn cách theo nguyên
tắc người cách ly với người, gia đình cách ly với gia đình, khu phố cách ly với
khu phố; thôn bản cách ly với thôn bản; xã, phường cách ly với xã, phường;
quận, huyện cách ly với quận, huyện; Thành phố cách ly với tỉnh; kiên quyết yêu
cầu người dân “ai ở đâu thì ở đó” nhằm khống chế sự lây lan, bóc tách F0 ra
khỏi cộng đồng và kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh trong thời gian giãn cách
xã hội.
QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN
Hoa Súng
Cư trú và quyền tự do cư trú (TDCT) là một trong
những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân nói riêng và xã hội nói
chung, bởi lẽ mỗi cá nhân sinh sống cần có một không gian, nơi chốn nhất định.
Theo giải thích trong Luật Cư trú năm 2020, cư
trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính
cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp
xã.
Như vậy, có thể hiểu cư trú là việc con người sinh
sống, làm việc thường xuyên tại một địa điểm nào đó, dưới một hình thức nhất
định.
Đối với quyền tự do cư trú của công dân, Điều 4 Luật
Cư trú năm 2020 quy định công dân thực hiện quyền tự do cư trú theo quy định
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị
hạn chế trong các trường hợp sau:
a) Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam;
người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết
định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ
chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian
thử thách; người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo
không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời
gian thử thách;
b) Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; người phải chấp hành biện pháp đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường
giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị
quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường
giáo dưỡng;
c) Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh
cho cộng đồng;
d) Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống
dịch bệnh theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; địa bàn có tình
trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; địa điểm không được đăng ký thường
trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ theo quy định của Luật này; đ) Các trường
hợp khác theo quy định của luật.
Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị
hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú
thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định
của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên
quan.
Điều 5 Luật Cư trú 2020 cũng quy định trách nhiệm của
Nhà nước có chính sách và biện pháp đồng bộ để bảo đảm việc thực hiện quyền tự
do cư trú của công dân. Nhà nước bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn nhân
lực, đầu tư phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại cho hoạt động đăng ký,
quản lý cư trú.
Để đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân, tại Điều 7
Luật Cư trú 2020 quy định 13 hành vi bị nghiêm cấm về cư trú gồm:
Cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú; Lạm
dụng việc sử dụng thông tin về nơi thường trú, nơi tạm trú làm điều kiện để hạn
chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; Đưa, môi giới, nhận hối lộ trong việc
đăng ký, quản lý cư trú;
Không tiếp nhận, trì hoãn việc tiếp nhận hồ sơ, giấy
tờ, tài liệu, thông tin đăng ký cư trú hoặc có hành vi nhũng nhiễu khác; không
thực hiện, thực hiện không đúng thời hạn đăng ký cư trú cho công dân khi hồ sơ
đủ điều kiện đăng ký cư trú; xóa đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú trái với
quy định của pháp luật; Thu, quản lý, sử dụng lệ phí đăng ký cư trú trái với
quy định của pháp luật; Tự đặt ra thời hạn, thủ tục, giấy tờ, tài liệu, biểu
mẫu trái với quy định của pháp luật hoặc làm sai lệch thông tin, sổ sách, hồ sơ
về cư trú;
Cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ, tài liệu về cư trú
trái với quy định của pháp luật; Lợi dụng việc thực hiện quyền tự do cư trú để
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
Làm giả giấy tờ, tài liệu, dữ liệu về cư trú; sử dụng giấy tờ, tài liệu, dữ
liệu giả về cư trú; cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu sai sự thật về cư
trú; khai man điều kiện, giả mạo hồ sơ, giấy tờ, tài liệu để được đăng ký
thường trú, đăng ký tạm trú; mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, cầm cố,
nhận cầm cố, hủy hoại giấy tờ, tài liệu về cư trú; Tổ chức, kích động, xúi
giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư
trú;
Giải quyết cho đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú khi
biết rõ người đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú không sinh sống tại chỗ ở đó;
Đồng ý cho người khác đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú vào chỗ ở của mình để
vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú không sinh
sống tại chỗ ở đó; Truy nhập, khai thác, hủy hoại, làm cản trở, gián đoạn hoạt
động, thay đổi, xóa, phát tán, cung cấp trái phép thông tin trong cơ sở dữ liệu
về cư trú.
BIỂU HIỆN CỦA QUYỀN TỰ DO ĐI LẠI, TỰ DO CƯ
TRÚ
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
Hoa Súng
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 53 dân tộc thiểu
số. Người dân tộc thiểu số có khoảng trên 14 triệu người, chiếm 14,7% dân số.
Nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Đình Tấn - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
chỉ ra rằng các dân tộc sống đan xen song cũng có địa vực nhất định.
Địa vực sống chủ yếu của dân tộc Tày, Nùng là tỉnh Cao
Bằng, Lạng Sơn; địa vực của dân tộc Thái, Mông chủ yếu ở vùng Tây Bắc, tập
trung tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang; địa vực sống của
người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ, tập trung ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận;
địa vực sống chủ yếu của người Khmer là vùng Nam Bộ; địa vực của người Gia Rai,
Ba Na, Ê-đê… ở Tây Nguyên…
Trong những năm gần đây, địa vực sống của các dân tộc
thiểu số đã có sự dịch chuyển do di dân mà thực chất là sự thể hiện quyền tự do
đi lại, tự do cư trú. Năm 1976, địa bàn Tây Nguyên có 18 dân tộc; năm 1993 có
35 dân tộc; năm 2014 có tới 46 dân tộc.
Hay như Thủ đô Hà Nội hiện nay cũng là nơi sinh sống
của trên 108 nghìn người dân tộc thiểu số, thuộc 50/53 thành phần dân tộc thiểu
số, sinh sống ở 30/30 quận, huyện, thị xã, chiếm khoảng 1,3% dân số toàn Thành
phố.
Thành phố Hồ Chí Minh có 53/53 dân tộc thiểu số, với
468.147 nhân khẩu, chiếm 5,2% dân số toàn Thành phố.
Chị Đinh Thị Nhung, dân tộc Mường, sinh ra và lớn lên
ở tỉnh Sơn La. Học xong đại học, chị Nhung quyết định lập nghiệp ở Hà Nội, sau
đó lập gia đình và nay thì mua nhà, định cư luôn ở Thủ đô.
Chị cho biết, bản thân không gặp phải bất kỳ sự cản
trở hay phân biệt đối xử nào trong quá trình làm các thủ tục mua nhà ở - nơi cư
trú của gia đình. Hàng năm, vào các dịp nghỉ lễ, gia đình chị tự do đi lại
thăm, nghỉ ngơi tại các điểm du lịch trong và ngoài nước.
Chia sẻ của chị Nhung cùng một vài con số trên để
chứng minh rằng, là công dân nước Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số được thụ
hưởng đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do đi
lại, tự do cư trú.
Nhà nước Việt Nam thông qua hệ thống pháp luật đảm bảo
để đồng bào được thực hiện các quyền đó theo đúng các cam kết trong các văn
kiện pháp lý quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước quốc tế về
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét