VẠCH
TRẦN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC RẰNG “ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
LÀ
ĐỔI MỚI NỬA VỜI VÌ KHÔNG ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ”
Hoa
Súng
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực,
trong đó có lĩnh vực kinh tế và chính trị, bắt đầu từ đổi mới lĩnh
vực kinh tế, trên cơ sở đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới các lĩnh vực khác,
trong đó có chính trị. Lộ trình thực hiện như vậy phù hợp với quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Theo C. Mác và Ph.
Ăngghen, trong quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người, xét đến
cùng thì kinh tế quyết định chính trị, “những quan niệm chính trị, pháp lý và
những quan điểm tư tưởng khác và những hành vi do chúng quy định đều được rút ra từ các thực tế kinh tế là
cơ sở của chúng”[1].
“Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật,… đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế”[2] .
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định bắt đầu đổi mới từ lĩnh vực kinh tế, lấy
đổi mới kinh tế làm cơ sở, tiền đề, động lực để đổi mới chính trị là hoàn toàn
đúng đắn. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VI về “Một số vấn đề cấp
bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay” chỉ
rõ: “Không thể tiến hành cải cách hệ thống chính trị một cách vội vã khi chưa
đủ căn cứ,... dẫn đến sự mất ổn định về chính trị, gây thiệt hại cho sự nghiệp
đổi mới”[3](3).
Nhận định trên là hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ đổi mới chính trị cần có cơ sở,
điều kiện, tiền đề nhất định, không thể đổi mới một cách tùy tiện, vô nguyên
tắc. Bài học từ cải tổ chính trị một cách vô nguyên tắc dẫn đến sụp đổ của Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm
90 của thế kỷ XX vẫn còn nguyên giá trị.
Văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định từ những năm đầu đổi mới: “Phải
tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân
dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành
thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị”[4].
Tuy nhiên, chính trị, cũng như các nhân tố khác của thượng tầng kiến trúc,
có sự độc lập tương đối và tác động trở lại đối với kinh tế, theo hướng thúc
đẩy hoặc kìm hãm. Do đó, đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới
chính trị, một cách phù hợp để thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đổi mới chính trị ở Việt Nam trọng tâm là đổi mới tư duy chính trị và hệ
thống chính trị. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay gồm các bộ phận cấu
thành như: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trong đó, các tổ
chức chính trị - xã hội bao gồm: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam,
Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác
được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam chính là đổi mới các bộ phận cấu
thành của hệ thống chính trị và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ
thống chính trị để có một hệ thống chính trị tinh gọn, chất lượng, hiệu lực,
hiệu quả cao nhằm dẫn dắt lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực khác phát triển
nhanh, bền vững theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, thể hiện ở việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để vừa phát
huy vai trò, vị thế của Đảng, vừa phát huy vai trò, tính chủ động, tích cực của
các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị (Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội); đồng thời khắc phục được hai khuynh hướng
sai lầm là Đảng “bao biện”, “làm thay” các bộ phận khác của hệ thống chính trị
và Đảng “buông lỏng” sự lãnh đạo đối với các bộ phận khác của hệ thống chính
trị. Cả hai khuynh hướng đó đều làm giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng
và hoạt động cả hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm
phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Cùng với đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, việc đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động của Nhà nước cũng được thực hiện một cách quyết
liệt, có hiệu quả rõ rệt, thể hiện nổi bật ở bước chuyển từ Nhà nước chuyên
chính vô sản sang Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được
Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra sau khi công cuộc đổi mới kinh tế tiến hành và
đạt được những thành tựu bước đầu, từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994);
tiếp đó, các kỳ đại hội của Đảng ta đều khẳng định quyết tâm xây dựng Nhà nước
pháp quyền. Từ Đại hội X (năm 2006) đến nay, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được coi là một đặc trưng của mô
hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đồng thời với đổi mới hai thành tố cấu thành quan trọng nhất trong hệ thống
chính trị là Đảng và Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội cũng có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, như: Phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại
diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân;
chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà
nước và hệ thống chính trị ngày càng hiệu quả; làm tốt vai trò cầu nối giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày
càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân...
Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam còn thể hiện ở việc sắp xếp tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ví dụ,
việc giảm số bộ và cơ quan ngang bộ, cắt giảm các tổng cục trong các bộ, tinh
giản biên chế được thực hiện quyết liệt. Theo thống kê của Bộ Nội vụ, đến năm
2022, các bộ, ngành trung ương đã cắt giảm 17 tổng cục và tổ chức tương đương
tổng cục; giảm 8 cục thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 145 vụ/ban thuộc tổng cục
và thuộc bộ; giảm được 90% phòng trong vụ(5)…
Như vậy, mặc dù còn một số hạn chế, song quá
trình đổi mới chính trị ở nước ta được tiến hành đồng bộ, đi đôi với đổi mới
kinh tế; vừa từng bước, thận trọng, bảo đảm nguyên tắc, vừa mạnh mẽ, quyết
liệt, toàn diện, đạt được những thành tựu quan trọng, không hề “nửa vời” như
luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch./.
[1] C. Mác
và Ph. Ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999,
t. 39, tr. 132
[2] C. Mác
và Ph. Ăng ghen: Toàn tập, Sđd, tr. 271
[3] Nghị quyết
số 07-NQ/TW, ngày 24-8-1989, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VI), “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong
nước và quốc tế hiện nay”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-vi/nghi-quyet-so-07-nqtw-ngay-2481989-hoi-nghi-lan-thu-bay-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vi-mot-so-van-de-cap-bach-1108
[4] Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1991, tr. 54
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét