Thứ Hai, 9 tháng 12, 2024

 

CẢNH GIÁC CAO ĐỐI VỚI THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC

NỀN TỰ DO, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

Hoa Súng

Ngày 21/11/2024, trên trang Blog Việt Nam Thời Báo phát tán bài “Đã đến lúc thoát khỏi trại...” với những nội dung xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà Nước, nói xấu chế độ, vu cáo Việt Nam, xuyên tạc cho rằng: Sống trong một xã hội mà ở đó con người bị đối xử như con vật.., bị kiểm soát, bị bóp méo niềm tin và bị tước đoạt quyền tự quyết. Nhưng thực tế vấn đề trên ở Việt Nam lại hoàn toàn ngược lại những lới xuyên tạc đó của các thế lực thù địch.

1.    Quan điểm, chính sách của Việt Nam về quyền tự do, dân chủ

Quyền tự do, dân chủ là khát vọng của dân tộc và mọi người dân Việt Nam, là mục tiêu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, dân tộc Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ, đồng bào ta trở thành những người nô lệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào ta đứng lên đấu tranh giành quyền độc lập tự do cho bản thân, gia đình và đất nước, vì quyền tự do, dân chủ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc... Hễ một dân tộc đã kiên quyết đứng lên đấu tranh cho tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ …[1]“Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2].

Ở Việt Nam dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội căn cứ vào việc khẳng định toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện hoặc thông qua người đại diện do nhân dân bầu ra, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Nguyên tắc cốt lõi trong việc đảm bảo thực thi dân chủ là: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng. Quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân Việt Nam được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực đó là:

Về lĩnh vực chính trị, xã hội: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình; không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác. Công dân Việt Nam có quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật...

Về lĩnh vực y tế: Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh; được quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm.

Về lĩnh vực pháp luật, kinh tế và khoa học: Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Đồng thời có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, được nghiên cứu khoa học, công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó cũng như quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.

Trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, báo chí, ngôn luận và lựa chọn nghề nghiệp và cư trú, đi lại: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, được quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc, quyền có nơi ở hợp pháp. Công dân có quyền tự do đi lại, cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý...

2. Thực tiễn đã chứng minh về thực hiện tựdo, dân chủ ở Việt Nam trên các lĩnh vực những năm qua

Về thực hiện chính sách phát triển kinh tế: Theo đánh giá trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn qốc lần thứ XIII, trong giai đoạn 2016 - 2020, trung bình mỗi năm có 128,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp tăng hơn 2,6 lần so với năm 2015. Lũy kế đến hết năm 2020, số doanh nghiệp đã đăng ký (đã trừ các doanh nghiệp giải thể) là 1,4 triệu doanh nghiệp. Tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tổng số lao động đến năm 2020 khoảng 32,8%, giảm mạnh so với năm 2015 (44%), vượt mục tiêu đề ra (dưới 40%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo được cải thiện, ước đạt 64,5% năm 2020, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 24,5%, tăng so với năm 2015 (19,9%). Diện bao phủ bảo hiểm xã hội được mở rộng, tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội năm 2020 đạt 32,7%.

Về thực hiện chính sách tín ngưỡng, tôn giáo: Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, đến nay trên cả nước có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, hơn 54 nghìn chức sắc, trên 135 nghìn chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự và 50.703 cơ sở tín ngưỡng, trong đó khoảng 3.000 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO ghi danh là di sản thế giới. Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Cả nước hiện có 62 cơ sở đào tạo tôn giáo tại 36 tỉnh, thành phố. Một số cơ sở đào tạo của tôn giáo được phép đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Trong giai đoạn 2011-2020, Việt Nam đã tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo đón gần 500 đoàn khách nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để hoạt động tôn giáo; có 5 chức sắc tôn giáo tham gia đại biểu Quốc hội khóa XV, 88 chức sắc, chức việc và 35 tín đồ các tôn giáo trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh; 225 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và 246 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp huyện; 646 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và trên 5.000 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021-2026. Cả nước có 67 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại địa bàn các tỉnh, thành phố với sự tham gia của hàng trăm người có quốc tịch từ nhiều khác nhau.

Về thực hiện chính sách giáo dục và đào tạo: Việt Nam sau 10 năm thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi (2010 - 2020), số trường mầm non tăng hơn 2.600 trường, mỗi xã, phường đều có ít nhất 1 trường mầm non công lập. Số trẻ đến trường tăng hơn 1,5 triệu em so với năm học 2010 - 2011. Tỷ lệ trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non đạt 99,9%. Về cấp tiểu học, 63/63 tỉnh thành đều đạt chất lượng phổ cập mức độ 2, trong đó 4 địa phương đạt mức độ 3, có 63/63 tỉnh thành đều đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS cấp độ 1, một số địa phương đạt mức độ 2 và 3.

Về thực hiện chính sách xã hội: Vào tháng 02/2024, theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tỷ lệ nghèo đa chiều (5,71%), tổng số hộ nghèo và hộ cận nghèo đa chiều là 1.586.336 hộ. Đến năm 2020, trong số gần 13 triệu người cao tuổi đã có 12,1 triệu người được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Số lượng người cao tuổi chưa có thẻ bảo hiểm y tế chiếm tỷ lệ khá nhỏ là trên, dưới 5% tổng số người cao tuổi. Tỷ lệ bác sĩ trên 1 vạn dân tăng từ 8,2 bác sĩ năm 2016 lên 9 bác sĩ năm 2020, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 28 giường vào năm 2020, vượt mục tiêu đề ra (26,5 giường). Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, tuổi thọ trung bình đến năm 2020 ước đạt khoảng 73,7 tuổi, tăng so với năm 2015 (73,3 tuổi). Duy trì tổng tỷ suất sinh ở mức thay thế, ưốc năm 2020 là 2,12 con/phụ nữ, tỷ xuất tử vong mẹ trên 100.000 trẻ em đẻ sống giảm từ mức 58 ca (2016) xuống còn khoảng 45,8 ca (2020).

Từ những chính sách của Đảng, Nhà nước và kết quả thực hiện quyền tự do, dân chủ của con người trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở Việt Nam cho thấy những lời cho rằng: Con người sống ở Việt Nam bị đối xử như con vật.., bị kiểm soát, bị bóp méo niềm tin và bị tước đoạt quyền tự quyết là hoàn toàn mang tính bịa đặt và sai trái./.

 



[1] (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 9

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.587.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét