Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

 

CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG (KỲ CUỐI)

Nhân Trần

Tình hình an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam

 Thứ nhất, hệ thống mạng thông tin Việt Nam phát triển nhanh, nhưng hạ tầng cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu chủ động phòng, chống tội phạm mạng và bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia. Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa được các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chú trọng; chưa có quy trình, thao tác xử lý khi xảy ra sự cố, thậm chí, còn buông lỏng, không áp dụng biện pháp bảo đảm an ninh thông tin, an ninh không gian mạng. Mức độ nhận biết các loại hình tấn công mạng, áp dụng các giải pháp bảo đảm an ninh thông tin, ban hành các quy trình thao tác phản ứng xử lý sự cố thông tin chưa cao.

Thứ hai, hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin Việt Nam diễn ra nghiêm trọng, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp tổng thể, toàn diện, như sử dụng không gian mạng để tấn công nhằm phá hoại, gây đình trệ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Mục tiêu tấn công là các hệ thống thông tin quan trọng như: hệ thống điều khiển giao thông đường bộ, đường hàng không, cung cấp điện, nước, điều khiển nông nghiệp công nghệ cao; các sân bay, nhà ga, bến cảng, kho bạc, ngân hàng... Tấn công vào cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn nhằm thu thập, đánh cắp thông tin, dữ liệu. Tháng 7/2016, trang web của Vietnam Airline cũng bị hacker tấn công và hậu quả là trên 400.000 tài khoản của khách hàng thuộc chương trình Bông sen vàng đã bị lộ; trong các ngày 08, 09,10/3/2017, tin tặc đã tấn công, thay đổi giao diện website Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc, Rạch Giá...

Thứ ba, tội phạm sử dụng mạng máy tính gia tăng với mức độ ngày càng nghiêm trọng, nổi lên là lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt động kinh doanh đa cấp, thương mại điện tử; gian lận, trộm cắp trong hoạt động thanh toán thẻ và thanh toán điện tử; trộm cắp, mua bán thông tin thẻ tín dụng nhằm chiếm đoạt tài sản; đánh bạc và tổ chức đánh bạc thông qua mạng Internet; trộm cắp tài khoản người dùng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; truyền bá, phát tán ấn phẩm đồi trụy, tổ chức môi giới mại dâm, phát tán thông tin xuyên tạc, hình ảnh riêng tư để xúc phạm, làm nhục người khác (Năm 2019, các đơn vị chức năng Bộ Công an) đã khởi tố đối với hơn 1.000 bị can; bắt và bàn giao Cảnh sát các nước trên 500 đối tượng hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện hành vi phạm tội). Nhiều vụ chiếm quyền điều khiển máy tính, thiết bị số, truy cập bất hợp pháp vào hệ thống công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, chiếm quyền điều khiển từ xa, thay đổi giao diện Website hoặc cơ sở dữ liệu... nhằm mục đích tống tiền hoặc hạ uy tín của các đơn vị này (trong vụ tấn công bằng mã độc WannaCry năm 2017, Việt Nam có trên 1.900 máy tính bị lây nhiễm mã độc này, trong đó có khoảng 1.600 máy tính của gần 250 cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp). 

Thứ tư, hoạt động sử dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực thù địch, phản động ngày càng phức tạp và nguy hiểm, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính quyền. thông qua các trang mạng xã hội để liên minh, liên kết, móc nối trong ngoài, tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền đương nhiệm không thân Mỹ tại một số quốc gia, điển hình là phong trào “cách mạng hoa Lài” hay “Mùa xuân Ả Rập” thời gian qua. Triệt để sử dụng mạng xã hội thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, đẩy mạnh khoét sâu các mâu thuẫn tồn tại trong xã hội để hô hào, kích động người dân xuống đường biểu tình, kêu gọi các quốc gia khác can thiệp và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền; tuyên truyền gây mất đoàn kết và phá hoại nội bộ lãnh đạo, gây suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước.

 Thứ năm, công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Trong những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến những bước phát triển kinh tế ngoạn mục, nhờ những quyết sách, định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nước về phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin, với những bước đi, lộ trình phù hợp; coi khoa học - công nghệ là một ngành kinh tế mũi nhọn để thúc đẩy kinh tế tri thức, tạo sự chuyển biến trong các chuỗi giá trị từ trong nước để hội nhập với toàn cầu; đồng thời, biết nắm bắt thời cơ, vận hội mới, tranh thủ các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến để đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày càng hội nhập sâu rộng, hiệu quả hơn vào nền kinh tế thế giới, không ngừng nâng cao tiềm lực về quốc phòng, an ninh (Theo số liệu thống kê tính đến tháng 1/2020, Việt Nam có 68,17 triệu người sử dụng Internet, chiếm gần 70% dân số, nằm trong Top 20 quốc gia có tỉ lệ người dùng Internet cao nhất thế giới). Tuy nhiên, sự phát triển của các thiết bị di động thông minh có kết nối mạng đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý.

 Giải pháp bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Một là, hoàn thiện, nâng cao năng lực bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan, ban, ngành, địa phương; các công trình hạ tầng trọng yếu có kết nối mạng, các tập đoàn kinh tế quan trọng. Kiện toàn bộ máy, tổ chức, nhân sự có kiến thức, đủ năng lực về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia tại các cơ quan trung ương và địa phương. Tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng, đáp ứng nhu cầu cán bộ an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan nhà nước. (1) Đội ngũ nhân lực về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia có khả năng làm chủ công nghệ, hạn chế và tiến tới không phụ thuộc vào công nghệ và thiết bị của nước ngoài. Hoàn thiện hệ thống hạ tầng thông tin, thiết bị công nghệ thông tin bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan trung ương và địa phương; các công trình hạ tầng trọng yếu, các tập đoàn kinh tế quan trọng có kết nối mạng. Các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia được xác định, áp dụng các biện pháp bảo vệ tương xứng, liên tục từ giai đoạn thiết kế, xây dựng, phát triển, vận hành và sử dụng. (2) Tập trung được nguồn lực toàn xã hội trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia. (3) Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia.

 Hai là, xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh. Nhận thức, năng lực bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia của toàn xã hội được nâng caoNgười sử dụng có kiến thức cơ bản về bảo mật trong môi trường mạng; thường xuyên được cập nhật về tình hình, mức độ rủi ro mất an toàn thông tin để có thể tự phòng ngừa hiệu quả. Hệ thống mạng thông tin bảo đảm các tiêu chuẩn về bảo mật. Các doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nước lớn mạnh, làm chủ thị trường, không bị lệ thuộc vào sản phẩm của nước ngoài. (1) Các loại hình báo chí chính thống giữ vai trò chủ đạo, định hướng dư luận để đủ sức đề kháng đối với các thông tin xấu, độc trên không gian mạng. (2) Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phản bác, vô hiệu hoá các thông tin xấu, luận điệu phản tuyên truyền trên không gian mạng.

 Ba là, xây dựng lực lượng chuyên trách đủ năng lực, chủ động đối phó với mọi nguy cơ xảy ra trên không gian mạng. Lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trực thuộc Bộ Công an; lực lượng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng trực thuộc Bộ Quốc phòng; lực lượng bảo đảm an toàn thông tin trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông đủ năng lực, sẵn sàng, chủ động đối phó với mọi nguy cơ xảy ra trên không gian mạng. (1) Đội ngũ chuyên gia an ninh mạng có năng lực xử lý các sự cố, tình hình an ninh thông tin, an ninh mạng. (2) Hình thành các chuyên ngành đào tạo về an ninh thông tin, an ninh mạng. (3) Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các học sinh, sinh viên khá, giỏi theo học chuyên ngành an ninh thông tin, an ninh mạng; thu hút, trọng dụng, đãi ngộ các chuyên gia giỏi làm việc cho các cơ quan nhà nước; (4) nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường trọng điểm về an toàn thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

 Bốn là, quan hệ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng được mở rộng và tăng cường. (1) Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch chống Việt Nam. (2) Tham gia các công ước, thoả thuận quốc tế về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia, phòng, chống tội phạm mạng phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. (3) Triển khai có hiệu quả, thiết thực các Nghị định thư, thoả thuận hợp tác về phòng chống tội phạm mạng đã ký kết với các nước. Tăng cường hợp tác với các nước có trình độ phát triển cao về công nghệ thông tin để đào tạo nguồn nhân lực, tiếp thu khoa học, công nghệ mới, học hỏi kinh nghiệm bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia.

 Lời kết: Như phân đã phân tích trong các nội dung trên “Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng” được xác định là quyền tối cao, tuyệt đối, đầy đủ và riêng biệt của quốc gia đối với các vùng thông tin do Nhà nước quản lý, kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bằng chính sách, pháp luật và năng lực công nghệ phù hợp với luật pháp quốc tế và quy định của Luật pháp quốc tế. Cũng như chủ quyền lãnh thổ, các quốc gia có quyền tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt đối với phạm vi không gian mạng thuộc quyền kiểm soát của mình, tức có chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, việc xác định chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là quyền kiểm soát, chi phối trên cơ sở chủ quyền, lợi ích quốc gia và luật pháp quốc tế. Thực chất việc quốc gia xác lập chủ quyền không gian mạng là xác lập quyền quản lý, kiểm soát đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng và thông tin được tạo ra, lưu trữ, xử lý và truyền đưa trên đó, được thực hiện thông qua xác lập chủ quyền, quyền tài phán theo luật pháp quốc tế đối với cơ sở hạ tầng mạng thuộc sở hữu cả ở trong và ngoài lãnh thổ quốc gia; đồng thời mã hóa thông tin số truyền đưa trên không gian mạng toàn cầu./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét