CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG (KỲ CUỐI)
Nhân Trần
Tình hình an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao ở Việt
Nam
Thứ nhất, hệ
thống mạng thông tin Việt Nam phát triển nhanh, nhưng hạ tầng cơ sở chưa đáp
ứng yêu cầu chủ động phòng, chống tội phạm mạng và bảo đảm an ninh, an toàn
không gian mạng quốc gia. Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn, an
ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa được các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp chú trọng; chưa có quy trình, thao tác xử lý khi xảy ra sự cố, thậm chí,
còn buông lỏng, không áp dụng biện pháp bảo đảm an ninh thông tin, an ninh
không gian mạng. Mức độ nhận biết các loại hình tấn công mạng, áp dụng các giải
pháp bảo đảm an ninh thông tin, ban hành các quy trình thao tác phản ứng xử lý
sự cố thông tin chưa cao.
Thứ hai, hoạt
động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin Việt Nam diễn ra nghiêm trọng,
đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp tổng thể, toàn diện, như sử dụng không gian mạng để tấn
công nhằm phá hoại, gây đình trệ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, hoạt
động của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Mục tiêu tấn công là các hệ thống thông
tin quan trọng như: hệ thống điều khiển giao thông đường bộ, đường hàng không,
cung cấp điện, nước, điều khiển nông nghiệp công nghệ cao; các sân bay, nhà ga,
bến cảng, kho bạc, ngân hàng... Tấn công vào cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ
chức, tập đoàn kinh tế lớn nhằm thu thập, đánh cắp thông tin, dữ liệu. Tháng
7/2016, trang web của Vietnam Airline cũng bị hacker tấn công và hậu quả là
trên 400.000 tài khoản của khách hàng thuộc chương trình Bông sen vàng đã bị
lộ; trong các ngày 08, 09,10/3/2017, tin tặc đã tấn công, thay đổi giao diện
website Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc, Rạch Giá...
Thứ ba, tội
phạm sử dụng mạng máy tính gia tăng với mức độ ngày càng nghiêm trọng, nổi
lên là lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt động kinh doanh đa cấp, thương
mại điện tử; gian lận, trộm cắp trong hoạt động thanh toán thẻ và thanh toán
điện tử; trộm cắp, mua bán thông tin thẻ tín dụng nhằm chiếm đoạt tài sản; đánh
bạc và tổ chức đánh bạc thông qua mạng Internet; trộm cắp tài khoản người dùng
mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; truyền bá, phát tán ấn phẩm đồi
trụy, tổ chức môi giới mại dâm, phát tán thông tin xuyên tạc, hình ảnh riêng tư
để xúc phạm, làm nhục người khác (Năm
2019, các đơn vị chức năng Bộ Công an) đã khởi tố đối với hơn 1.000 bị can; bắt và bàn
giao Cảnh sát các nước trên 500 đối tượng hoạt động sử dụng
không gian mạng thực hiện hành vi phạm tội). Nhiều vụ chiếm quyền điều
khiển máy tính, thiết bị số, truy cập bất hợp pháp vào hệ thống công nghệ thông
tin của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, chiếm quyền điều khiển từ xa, thay
đổi giao diện Website hoặc cơ sở dữ liệu... nhằm mục đích tống tiền hoặc hạ uy
tín của các đơn vị này (trong vụ
tấn công bằng mã độc WannaCry năm 2017, Việt Nam có trên 1.900 máy tính bị lây
nhiễm mã độc này, trong đó có khoảng 1.600 máy tính của gần 250 cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp).
Thứ tư, hoạt
động sử dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực
thù địch, phản động ngày càng phức tạp và nguy hiểm, tuyên truyền
phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính
quyền. thông qua các trang mạng xã hội để liên minh, liên kết, móc nối trong
ngoài, tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền đương nhiệm không thân Mỹ tại
một số quốc gia, điển hình là phong trào “cách mạng hoa Lài” hay “Mùa xuân Ả
Rập” thời gian qua. Triệt để sử dụng mạng xã hội thực hiện âm mưu “diễn biến
hoà bình”, đẩy mạnh khoét sâu các mâu thuẫn tồn tại trong xã hội để hô hào,
kích động người dân xuống đường biểu tình, kêu gọi các quốc gia khác can thiệp
và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền; tuyên truyền gây mất đoàn kết và
phá hoại nội bộ lãnh đạo, gây suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với
Đảng, Nhà nước.
Thứ
năm, công tác quản lý nhà
nước về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu
trong tình hình mới. Trong những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến
những bước phát triển kinh tế ngoạn mục, nhờ những quyết sách, định hướng đúng
đắn của Đảng, Nhà nước về phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin, với những
bước đi, lộ trình phù hợp; coi khoa học - công nghệ là một ngành kinh tế mũi
nhọn để thúc đẩy kinh tế tri thức, tạo sự chuyển biến trong các chuỗi giá trị từ
trong nước để hội nhập với toàn cầu; đồng thời, biết nắm bắt thời cơ, vận hội
mới, tranh thủ các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến để đẩy nhanh hơn
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày càng hội nhập sâu rộng,
hiệu quả hơn vào nền kinh tế thế giới, không ngừng nâng cao tiềm lực về quốc
phòng, an ninh (Theo số liệu thống kê
tính đến tháng 1/2020, Việt Nam có 68,17 triệu người sử dụng Internet, chiếm
gần 70% dân số, nằm trong Top 20 quốc gia có tỉ lệ người dùng Internet cao nhất
thế giới). Tuy nhiên, sự
phát triển của các thiết bị di động thông minh có kết nối mạng đang đặt ra
nhiều thách thức đối với công tác quản lý.
Giải pháp bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Một là, hoàn thiện, nâng cao năng lực bảo
đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan, ban,
ngành, địa phương; các công trình hạ tầng trọng yếu có kết nối mạng, các tập
đoàn kinh tế quan trọng. Kiện toàn bộ máy, tổ chức, nhân
sự có kiến thức, đủ năng lực về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc
gia tại các cơ quan trung ương và địa phương. Tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
về an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng, đáp ứng nhu cầu cán bộ an toàn, an
ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan nhà nước. (1) Đội ngũ nhân
lực về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia có khả năng làm chủ
công nghệ, hạn chế và tiến tới không phụ thuộc vào công nghệ và thiết bị của
nước ngoài. Hoàn thiện hệ thống hạ tầng thông tin, thiết bị công nghệ thông tin
bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan trung
ương và địa phương; các công trình hạ tầng trọng yếu, các tập đoàn kinh tế quan
trọng có kết nối mạng. Các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia được xác
định, áp dụng các biện pháp bảo vệ tương xứng, liên tục từ giai đoạn thiết kế,
xây dựng, phát triển, vận hành và sử dụng. (2) Tập trung được nguồn lực toàn xã
hội trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia. (3) Nhà
nước bảo đảm kinh phí cho công tác an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc
gia.
Hai là, xây dựng môi
trường không gian mạng lành mạnh. Nhận thức, năng lực bảo đảm an toàn,
an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia của toàn xã hội được nâng cao. Người
sử dụng có kiến thức cơ bản về bảo mật trong môi trường mạng; thường xuyên được
cập nhật về tình hình, mức độ rủi ro mất an toàn thông tin để có thể tự phòng
ngừa hiệu quả. Hệ thống mạng thông tin bảo đảm các tiêu chuẩn về bảo mật. Các
doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nước lớn mạnh, làm chủ thị trường, không
bị lệ thuộc vào sản phẩm của nước ngoài. (1) Các loại hình báo chí chính thống
giữ vai trò chủ đạo, định hướng dư luận để đủ sức đề kháng đối với các thông
tin xấu, độc trên không gian mạng. (2) Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính
trị và toàn dân trong đấu tranh phản bác, vô hiệu hoá các thông tin xấu, luận
điệu phản tuyên truyền trên không gian mạng.
Ba là, xây dựng lực
lượng chuyên trách đủ năng lực, chủ động đối phó với mọi nguy cơ xảy ra trên
không gian mạng. Lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh thông tin, an
ninh không gian mạng quốc gia trực thuộc Bộ Công an; lực lượng thực hiện nhiệm
vụ quốc phòng trên không gian mạng trực thuộc Bộ Quốc phòng; lực lượng bảo đảm
an toàn thông tin trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông đủ năng lực, sẵn
sàng, chủ động đối phó với mọi nguy cơ xảy ra trên không gian mạng. (1) Đội ngũ
chuyên gia an ninh mạng có năng lực xử lý các sự cố, tình hình an ninh thông
tin, an ninh mạng. (2) Hình thành các chuyên ngành đào tạo về an ninh thông
tin, an ninh mạng. (3) Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các học sinh, sinh
viên khá, giỏi theo học chuyên ngành an ninh thông tin, an ninh mạng; thu hút,
trọng dụng, đãi ngộ các chuyên gia giỏi làm việc cho các cơ quan nhà nước; (4)
nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường trọng điểm về an toàn thông tin nhằm
đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Bốn là, quan hệ hợp tác
quốc tế trên lĩnh vực bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng được mở
rộng và tăng cường. (1) Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các nước
trên thế giới về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia,
tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đấu tranh phản bác luận điệu sai trái
của các thế lực thù địch chống Việt Nam. (2) Tham gia các công ước, thoả thuận
quốc tế về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia, phòng,
chống tội phạm mạng phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng, Nhà nước. (3) Triển khai có hiệu quả, thiết thực các Nghị định thư,
thoả thuận hợp tác về phòng chống tội phạm mạng đã ký kết với các nước. Tăng
cường hợp tác với các nước có trình độ phát triển cao về công nghệ thông tin để
đào tạo nguồn nhân lực, tiếp thu khoa học, công nghệ mới, học hỏi kinh nghiệm bảo
đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia.
Lời kết: Như phân đã phân tích trong các nội dung trên “Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”
được xác định là quyền tối cao, tuyệt đối, đầy đủ và riêng biệt của
quốc gia đối với các vùng thông tin do Nhà nước quản lý, kiểm soát trực tiếp
hoặc gián tiếp bằng chính sách, pháp luật và năng lực công nghệ phù hợp với
luật pháp quốc tế và quy định của Luật pháp quốc tế. Cũng như chủ quyền lãnh
thổ, các quốc gia có quyền tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt đối với
phạm vi không gian mạng thuộc quyền kiểm soát của mình, tức có chủ quyền quốc
gia trên không gian mạng, việc xác định chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
là quyền kiểm soát, chi phối trên cơ sở chủ quyền, lợi ích quốc gia và luật pháp
quốc tế. Thực chất việc quốc gia xác lập chủ quyền không gian mạng là xác lập
quyền quản lý, kiểm soát đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng và thông tin
được tạo ra, lưu trữ, xử lý và truyền đưa trên đó, được thực hiện thông qua xác
lập chủ quyền, quyền tài phán theo luật pháp quốc tế đối với cơ sở hạ tầng mạng
thuộc sở hữu cả ở trong và ngoài lãnh thổ quốc gia; đồng thời mã hóa thông tin
số truyền đưa trên không gian mạng toàn cầu./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét