VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Mặt Trời
Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng
và Nhà nước ta xác định là hệ tư tưởng chính thống; là nền tảng, kim chỉ nam
cho mọi hành động và thắng lợi của cách mạng Việt Nam và được chính thức đưa ra
từ Đại hội VII của Đảng và tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo. Đặt con
người vào vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi chính
sách, hành động, Đảng khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước ta đang hướng
tới xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
do nhân dân làm chủ. Điều này được thể hiện rõ tại các văn kiện của Đảng như
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm
1991 và bổ sung, phát triển năm 2011), nghị quyết các Đại hội toàn quốc của
Đảng lần thứ IX, X, XI, XII, XIII; các Chỉ thị của Bộ Chính trị cũng như các
văn kiện khác của Đảng.
Quan điểm của Đảng về quyền
lực nhân dân và cách thức Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình; đồng thời
khẳng định: Nhà nước tôn trọng và
bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển
tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy
định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Nhân dân
thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính
trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Nhà nước ta
là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Trên cơ sở đó,
Đại hội XIII xác định tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi
ích chính đáng của Nhân dân; đồng thời thực hiện quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Theo đó,
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do,
dân chủ của công dân cần được thực hiện dưới một số góc độ: Củng cố cơ sở pháp
lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp
thời, đồng bộ và tổ chức thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự,
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối
với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan
nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh
mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử
lý oan, sai; khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước; xây
dựng các đạo luật về lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ
quyền, trách nhiệm của công dân trong việc thực thi quyền dân chủ và trách
nhiệm của Nhà nước trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công
cộng; hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực
tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ,
công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia
vào công việc của Nhà nước; ban hành Luật về trưng cầu ý dân. Bám sát các
chủ trương, quan điểm của Đảng về quyền con người qua các thời kỳ, nước ta đã
đạt được thành tựu to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về quyền
con người; hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về quyền con người thống
nhất, đồng bộ; chất lượng của các văn bản pháp luật ngày càng được cải thiện,
tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm, bảo vệ, thực thi quyền con người
trong mọi lĩnh vực. Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở kế thừa, phát triển các bản
Hiến pháp trước đó tiếp tục đề cao việc thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng và Nhà nước, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền
cơ bản của công dân trong tình hình mới, tạo bước chuyển quan trọng trong nhận
thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về tư duy lập hiến, lập
pháp theo hướng công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền
công dân là trách nhiệm của Nhà nước. Những kết quả cụ thể được thể hiện:
Thứ
nhất, trên cơ sở các giá trị về dân chủ - pháp
quyền nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng từ cuộc Tổng tuyển cử
đầu tiên lập nên một chính thể dân chủ với bản Hiến pháp năm 1946 lịch sử, trải
qua bao nhiêu thử thách cam go của chiến tranh và hậu chiến tranh, của quá
trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng đã bổ sung, phát triển quan điểm: “Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua
hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực
tiếp, dân chủ đại diện”. Điều đó có nghĩa là tất cả quyền lực nhà nước,
quyền lực của hệ thống chính trị trong đó có quyền lực của Đảng- nhân tố lãnh
đạo hệ thống chính trị, đều bắt nguồn từ quyền lực Nhân dân, đều là quyền lực
do Nhân dân giao phó để thực hiện dân chủ, vì lợi ích của Nhân dân. Thể chế hóa
quan điểm đó, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân
dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ;
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Cùng với việc hiến định
nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước với đủ 3 yếu tố phân công, phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, Hiến pháp năm
2013, lần đầu tiên kể từ sau Hiến pháp năm 1946, đã xác định (phân công) rành
mạch: Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ là cơ quan thực
hiện quyền hành pháp và Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp; và
cũng lần đầu tiên khẳng định sứ mệnh cao quý, riêng có của Tòa án - cơ quan xét
xử, thực hiện quyền tư pháp, đó là “bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân...”. Trên cơ sở quy
định của Hiến pháp, các đạo luật về tổ chức bộ máy như Luật Tổ chức Quốc hội,
Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân, Luật Tổ chức chính quyền địa phương… đã được ban hành trên tinh
thần đổi mới cơ chế hoạt động, phân công, phối hợp và kiểm soát trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đồng thời tăng cường phân cấp,
phân quyền, ủy quyền rành mạch, rõ ràng hơn nhằm hướng tới xây dựng một bộ máy
nhà nước gọn về tổ chức và hiệu quả trong hoạt động, góp phần bảo đảm tốt hơn
quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức.
Thứ
hai, với quan điểm các quyền con
người, quyền cơ bản của công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm
theo Hiến pháp, pháp luật, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định “quyền con người, quyền cơ bản của công
dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14). Quy định này của Hiến
pháp nhằm khắc phục tình trạng hạn chế quyền con người bằng các văn bản dưới
luật, đồng thời tạo cơ chế xem xét thận trọng các chính sách có khả năng ảnh
hưởng đến quyền, tự do của con người; các chính sách này phải do Quốc hội quyết
định. Hiến pháp cũng phân biệt rõ quyền con người và quyền công dân; làm sâu
sắc hơn những quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các bản
Hiến pháp trước đây; mở rộng, phát triển bổ sung các quyền khác, nhất là các
nhóm quyền dân sự, chính trị được bổ sung, phát triển sâu rộng, phù hợp với
chuẩn mực chung của quốc tế. Các quyền con người, quyền công dân thuộc
nhóm quyền dân sự, chính trị như quyền ứng cử, bầu cử; quyền tham
gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; quyền biểu quyết khi Nhà nước
tổ chức trưng cầu ý dân… đã được quan tâm cụ thể hóa thông qua việc ban
hành mới Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân,
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Trưng cầu ý dân. Luật Tiếp
cận thông tin, Luật Báo chí, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng đã được ban
hành để bảo đảm hệ thống pháp luật về các quyền con người, quyền
công dân ngày càng hoàn thiện, đủ cơ sở pháp lý cho việc tổ chức
thực hiện và bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền công
dân. Các quyền con người, quyền công dân trong nhóm quyền kinh tế,
văn hóa, xã hội đã được cụ thể hóa trong các đạo luật thuộc các
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp,
Luật Đầu tư, Luật Hộ tịch, Luật Căn cước công dân, Luật Bảo hiểm y tế,
Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình… đã được ban hành, sửa
đổi, bổ sung kịp thời để bảo đảm ghi nhận và quy định cụ thể cơ
chế tổ chức thực hiện, bảo vệ tốt hơn nữa các quyền con người trong
lĩnh vực dân sự, lao động, hôn nhân, gia đình. Trong đó, phải kể tới các
quyền về nhân thân, quyền tài sản, quyền về an sinh xã hội, quyền được bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế; quyền
nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi
ích từ các hoạt động đó; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham
gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa. Đối với nhóm quyền con
người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp như quyền bất khả xâm phạm về
thân thể, quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử, quyền bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc suy đoán vô
tội… cũng đã được cụ thể hóa trong các đạo luật quan trọng như Bộ luật
Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng
hành chính, Luật Thi hành án hình sự... Đặc biệt, việc ban hành Bộ luật Hình
sự và Bộ luật Tố tụng hình sự đã giúp cho Nhà nước và nhân dân ta có thêm công
cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong phòng, chống tội phạm, thể hiện tính nhân
đạo, hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội của Đảng và Nhà nước ta, đồng
thời đề cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới, góp phần bảo vệ
và thúc đẩy quyền con người. Đối với nhóm thuộc đối tượng yếu thế, việc bảo đảm
thực hiện tốt quyền của các đối tượng này cũng được quan tâm. Nhiều đạo luật
mới được ban hành như Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Trẻ em,
Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Phòng, chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải ở người, Luật Bình đẳng giới… Trong quá trình soạn thảo,
ban hành các luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật, các nguyên
tắc về hạn chế quyền con người, quyền công dân đã được quán triệt
đầy đủ để bảo đảm việc hạn chế quyền chỉ trong các trường hợp đã
được Hiến pháp quy định và chỉ bằng luật. Các cơ chế bảo đảm, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân cũng được quy định cụ thể trong các
đạo luật thông qua việc trực tiếp quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ
quan nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân khác có liên
quan; quy định việc tăng cường trách nhiệm, bảo đảm sự đúng đắn, nghiêm minh,
công bằng trong các hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua việc xử lý kịp
thời các hành vi vi phạm pháp luật của mọi chủ thể; trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước khi vi phạm để xảy ra thiệt hại cho công dân;
có cơ chế bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo nhằm bảo vệ các quyền con
người nói chung. Nhiều đạo luật quy định khá cụ thể, toàn diện các biện pháp
bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, nhất là các đạo luật có
nhiệm vụ cụ thể hóa trực tiếp các quyền mà Hiến pháp giao, hạn chế tối đa các
điều khoản ủy quyền quy định chi tiết thi hành luật.
Thứ
ba, cùng với những nỗ lực trong việc hoàn
thiện thể chế, hệ thống pháp luật quốc gia về bảo đảm và thúc đẩy quyền con
người, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực nhân quyền, đặc biệt việc tham gia thực hiện các cam kết quốc tế về
quyền con người. Cho đến nay, Việt Nam đã là thành viên của 7/9 Công ước cơ bản
của Liên Hợp quốc và nhiều điều ước quốc tế khác về quyền con người. Việc
tích cực tham gia các điều ước quốc tế về nhân quyền thể hiện quyết tâm, nỗ lực
của Việt Nam trong việc bảo đảm các chuẩn mực chung về quyền con người cho
người dân Việt Nam, mặc dù điều kiện về phát triển kinh tế của Việt Nam còn hạn
chế so với nhiều nước trên thế giới. Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương từng bước chuyển hướng
chiến lược từ tập trung xây dựng pháp luật sang hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
công tác thi hành pháp luật, Quốc hội, Chính phủ cũng đã xây dựng, ban hành
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp
luật, Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày
23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (sửa đổi, bổ
sung bởi Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/03/2020); sửa đổi, bổ sung Luật
Khiếu nại, Luật Tố cáo… Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã và sẽ góp
phần tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành
pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống, bảo đảm việc áp dụng pháp luật nói
chung, pháp luật về quyền con người nói riêng của các cấp từ trung ương đến địa
phương được thống nhất, công khai, minh bạch; bảo đảm các hành vi vi phạm pháp
luật về quyền con người được phát hiện và xử lý kịp thời, góp phần bảo đảm, bảo
vệ quyền con người, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Qua công tác theo
dõi thi hành pháp luật cũng cho thấy, trình độ pháp luật, ý thức chấp hành pháp
luật của người dân ngày càng được nâng cao, người dân ngày càng hiểu rõ các
quyền của bản thân cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội,
cộng đồng. Vai trò của pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật ngày càng được
đề cao.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn
nhiều thách thức, tồn tại cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo
tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người phù hợp với tình hình mới, trong đó nổi
lên là: Chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa cao; tri thức kinh điển chưa
được coi trọng đúng mức; chậm được nghiên cứu, nhận thức một cách đầy đủ; chậm
được bổ sung, phát triển để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình
mới. Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
nói chung, về quyền con người trong hoạt động xây dựng pháp luật nói riêng để “cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…”. Trong
công tác xây dựng pháp luật, một số quyền con người trong một số lĩnh vực đã
được quy định tại Hiến pháp năm 2013 nhưng chưa có luật để điều chỉnh như quyền
biểu tình, quyền lập hội... Các quy định về quyền của các đối tượng yếu thế,
đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp (như quyền của người chưa thành niên vi phạm
pháp luật; quyền của phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của bạo lực...) chưa đầy đủ.
Các quy định làm cơ sở pháp lý cho việc hạn chế quyền con người trong một số
trường hợp khẩn cấp như tình hình dịch bệnh Covid-19 vừa qua cũng chưa thực sự
bảo đảm. Tính khả thi của một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người
chưa cao; một số vi phạm pháp luật về quyền con người chưa có chế tài đủ mạnh
để xử lý. Công tác tổ chức thi hành pháp luật còn chưa được quan tâm đầu
tư đúng mức, chưa đủ mạnh và đồng bộ để thực thi hiệu quả quyền con người trong
tất cả các lĩnh vực. Ý thức thượng tôn pháp luật nói chung, nhận thức pháp luật
về bảo vệ, bảo đảm quyền con người của một bộ phận trong xã hội còn chưa cao;
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người cho nhân dân còn hạn
chế, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa. Các hành vi vi phạm
pháp luật, trong đó hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
tài sản của người khác còn chiếm tỉ lệ cao. Đặc biệt, trước sự phát triển của
khoa học công nghệ, nhiều hành vi vi phạm nhân quyền như đánh cắp thông tin,
định danh cá nhân, xâm phạm bí mật đời tư, trộm cắp tài sản, xâm hại tình dục,
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ... xảy ra trên môi trường mạng có chiều hướng gia tăng,
đặt ra những thách thức, yêu cầu mới và đòi hỏi phải có tư duy tiếp cận mới đối
với công tác xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền
con người trên môi trường mạng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét