“LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN” MỘT NÉT ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
LHS
Khi nói về tư
tưởng nhân văn trong một lời kêu gọi chiến đấu tưởng như là nghịch lý. Nhưng đó
lại là điều hợp lý trong trường hợp Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân tộc đứng lên
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Có nhiều cách
đánh giá khác nhau, nó tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi người. có thể, không hiểu
hay cố tình không hiểu thường phê phán chiến tranh một cách chung chung, rằng
mọi cuộc chiến tranh đều phản nhân văn, đều là tội ác. Thực chất, họ đã bỏ qua
yếu tố chính trị của chiến tranh - yếu tố trực tiếp làm nảy sinh và chi phối
toàn bộ cuộc chiến tranh và cũng là yếu tố cơ bản nhất quyết định tính nhân văn
hay phản nhân văn cuộc chiến tranh đó.
Chủ tịch Hồ Chí
Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến để giữ nền độc lập, tự do của dân
tộc, của nhân dân. Bởi nền độc lập, tự do ấy đang đứng trước nguy cơ bị tước bỏ
bởi dã tâm và hành động xâm lược của thực dân Pháp. Với Cách mạng Tháng Tám năm
1945, nhân dân Việt Nam đã giành độc lập từ tay phát xít Nhật. Đó là một cuộc cách mạng
của toàn dân, đem lại lợi ích cho
toàn dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thành quả của hơn 80 năm dân ta
kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm với bao hy sinh, tổn thất. Đó cũng là
cuộc đấu tranh nhằm đạt tới mục tiêu cao cả của loài người: quyền sống tự do
của con người, quyền độc lập của một dân tộc. Đó cũng là những điều mà Người trích dẫn Tuyên ngôn Nhân
quyền và Dân quyền của Pháp, Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ ngay trong những dòng đầu tiên khi Người viết bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và cho đó là những lẽ
phải cần được thừa nhận. Vậy mà, với dã tâm , tính hiếu chiến thực dân Pháp đã tự cho mình
quyền “khai hóa văn minh” cho các
dân tộc thuộc địa, không chịu thừa nhận. Năm 1858, chúng nổ súng tấn công Đà
Nẵng, chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tiếp theo đó, họ
đã dùng súng, đại bác và cả máy bay ném bom để đàn áp những phong trào đấu
tranh đòi độc lập của những người yêu nước Việt Nam. Phát xít Nhật vào Đông
Dương, những kẻ tự xưng là “nước mẹ đại Pháp”, một thành viên của Đồng minh
chống phát xít, đã nhanh chóng đầu hàng Nhật. Sau khi người Việt Nam giành được
độc lập từ tay Nhật, thực dân Pháp một lần nữa quay lại gây ra cuộc chiến tranh
ở Việt Nam.
Trước hành động
xâm lược của thực dân Pháp, Chính phủ Hồ Chí Minh đã tỏ rõ thiện chí và chấp
nhận nhân nhượng nhất định, điển hình là Hiệp định sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước
(14-9-1946). Nhưng điều mà chúng ta không thể nhân nhượng là để mất nền độc lập
dân tộc, thống nhất đất nước. Mở đầu Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ dã tâm xâm lược của
Pháp, khẳng định ý chí độc lập và quyết tâm của toàn dân tộc. Người viết:
"Hỡi đồng
bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng
nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần
nữa!
Không! Chúng ta
thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm
nô lệ”.
Lời khẳng định đó
thể hiện ý chí, quyết tâm của cả dân tộc và vấn đề cơ bản nhất của tư tưởng Hồ
Chí Minh trong cuộc chiến tranh: chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc! Đó
cũng là lời kết luận đanh thép về tính phản nhân văn của thực dân Pháp: đi
ngược lại nguyện vọng hòa bình của nhân dân tiến bộ, dùng vũ lực để tước bỏ
quyền độc lập của một dân tộc. Sau này, một số nhà báo nghiên cứu lịch sử và
chính giới Pháp vẫn có ý “lấy làm tiếc” vì “một nền hòa bình bị bỏ lỡ”. Họ ngầm
ý cho rằng lỗi này “do cả hai bên tham chiến”. Thực chất họ bao biện cho hành
động phản nhân văn của thực dân Pháp xâm lược, phủ nhận tính chính nghĩa, tính
nhân văn của nhân dân Việt Nam, nhân văn Hồ Chí Minh khi phát động chiến tranh
chống thực dân Pháp. Đó là lối ngụy biện, đánh đồng kẻ xâm lược và người chống
xâm lược, về vấn đề này, cần nói thêm rằng ngay cả khi chiến tranh đã nổ ra, Hồ
Chí Minh thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã nhiều lần tỏ ý sẵn sàng nói
chuyện nghiêm chỉnh và thiện chí với đại diện Chính phủ Pháp. Nhưng thiện chí
đó không
được phía Pháp đáp lại. Không những thế, thực dân Pháp, được sự cổ súy cả về tinh thần và vật chất từ đế
quốc Mỹ, còn mở rộng và đẩy mạnh chiến tranh. Thực dân Pháp chỉ chịu khuất phục
và ký vào Hiệp định Giơnevơ lập lại hòa bình ở Việt Nam, Đông Dương sau khi tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị thất thủ trước sức mạnh của quân và dân Việt Nam.
Diễn biến và kết
thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp làm ngời sáng vấn đề
cốt lõi nhất trong
tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc
kháng chiến, một cuộc kháng chiến vì sự sống còn của một dân tộc. Cho dù cuộc
kháng chiến ấy phải trải qua gian khổ, hy sinh, nhưng đó là một cuộc chiến
tranh mang tính nhân văn, chính nghĩa sâu sắc.
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ nét ở quan điểm toàn dân kháng chiến của Người
trong Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến gửi
đến “đồng bào toàn quốc”. Người viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người
già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam
thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Theo quan điểm của Người,
đã là người Việt Nam, đều có chung một Tổ quốc, đều có nghĩa vụ và quyền lợi
chung là phải đánh giặc, cứu nước. Quyền lợi và nghĩa vụ ấy như một lẽ tự
nhiên, lẽ sống của những con người chân chính. Nó khác với thứ nghĩa vụ mang
tính áp đặt buộc phải tham gia vào một cuộc chiến tranh trong các chế độ mà
người dân không phải là người chủ thực sự của đất nước. Thực tế cho thấy, chính
nhân dân với sức mạnh của mình đã làm nên Cách mạng Tháng Tám, thành lập Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trước
những hành động gây hấn và mở rộng chiến tranh của thực dân Pháp, nhân dân ta
đã kiên quyết đứng lên chiến đấu. Vào thời điểm trước ngày 19-12-1946, nhiều
đồng bào trong cả nước đã viết thư, kiến nghị lên Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí
Minh bày tỏ sự căm phẫn trước tội ác của thực dân Pháp, muốn được cầm vũ khí
chống giặc. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến thật sự là kết tinh ý chí của toàn dân, sự giác ngộ của nhân dân về vận mệnh của
Tổ quốc trước họa xâm lăng.
Hưởng ứng lời kêu
gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân và các lực lượng vũ trang Việt Nam đã
nhất tề đứng lên chiến đấu. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là một cuộc
chiến tranh nhân dân trong thời đại mới. Trong cuộc chiến tranh này, “nước Việt
Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc
lập”[1]. Toàn thể dân tộc Việt Nam “quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[2].
Một cuộc chiến tranh vì quyền lợi của
dân tộc, của nhân dân, do nhân dân tiến hành là một cuộc chiến tranh mang đậm
tính nhân văn. Chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược của Việt Nam nhằm mục tiêu
đánh đổ thế lực xâm lược, hiếu chiến, giành lại quyền độc lập, tự do của dân tộc,
tạo
điều kiện cơ bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc chiến tranh đó không những
đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn đáp ứng mục tiêu cơ bản lâu dài của
nhân dân: dân tộc độc lập, nhân dân làm chủ cuộc sống của mình. Độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ tập hợp đông đảo nhân dân, tạo nên sức mạnh vĩ đại
của quần chúng cách mạng và cũng là cái quyết định làm nên tính chất nhân dân
thật sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
Từ thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, với
khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước đã đưa chiến tranh
nhân dân Việt Nam lên một đỉnh cao mới.
Thắng lợi của
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là thắng lợi của tư tưởng nhân văn
Hồ
Chí Minh, một tư tưởng được kết tinh từ truyền thống văn hóa của dân tộc, thấm sâu vào mỗi người dân như một lẽ
sống. Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lời kêu gọi chiến đấu sáng ngời tính nhân văn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét