PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM LÀ
ĐỘC TÀI, MẤT DÂN CHỦ”
Nhân Trần
Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến
lược “diễn biến hòa bình” với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, quyết liệt
hơn. Trên nhiều kênh thông tin, chúng xuyên tạc rằng chế độ chính trị một đảng
cầm quyền ở Việt Nam là độc tài, chuyên quyền, mất dân chủ, cản trở sự phát
triển của đất nước. Song, về mặt lý luận khoa học và thực tiễn sinh động đã
chứng minh, với mô hình nhất nguyên chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: kinh tế phát triển
bền vững, chính trị - xã hội ổn định, dân chủ không những không bị hạn chế, mà
còn được bảo đảm, được phát huy ngày càng rộng rãi và thực chất hơn.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền là một tất
yếu lịch sử, một sự lựa chọn đúng đắn của dân tộc
Trải qua chặng đường xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định vị thế duy nhất lãnh đạo, cầm quyền, là nhân tố quyết định mọi thắng
lợi của cách mạng. Vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng đã được nhân dân và bạn
bè quốc tế thừa nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, trước những tác động to lớn của
xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự bùng nổ mạnh mẽ
của thông tin, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra nhiều luận điệu sai
trái, xuyên tạc, rằng “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt
Nam là độc tài, độc đoán, mất dân chủ”; “nếu không thực hiện đa nguyên, đa đảng
thì không bao giờ có dân chủ”, “thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay là không
phù hợp với các chuẩn mực quốc tế”, “chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là
trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “Đảng nắm quyền lãnh đạo, không chịu
thực hiện đa nguyên chính trị là hành vi tiếm quyền, chiếm đoạt thành quả của nhân
dân”... Đây là những luận điệu phản khoa học nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo,
cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của
Đảng.
Hơn nữa, vẫn có một số người thắc mắc: “Tại sao ở Việt Nam chỉ có một
đảng duy nhất nắm quyền lãnh đạo?”, có nhiều người phán xét rằng: “Một đảng cầm
quyền ở Việt Nam là độc tài, mất dân chủ”. Vấn đề này phải được nhìn nhận từ
“góc nhìn lịch sử” để có câu trả lời thỏa đáng bằng sự thật lịch sử và thực
tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh chống ách đô hộ
của thực dân Pháp, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam còn có các đảng phái, tổ
chức chính trị khác có cùng mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của
thực dân. Cuối những năm 20, đầu những năm 30 thế kỷ XX, nhiều tổ chức và đảng
phái chính trị ở Việt Nam được thành lập và hoạt động sôi nổi như: Đảng Nghĩa
Hưng (năm 1907) đại diện cho giai cấp nông dân; Đảng Lập Hiến (năm 1923) đại
diện cho giai cấp tư sản, địa chủ; Việt Nam nghĩa đoàn (năm 1925), Đảng Thanh
niên Việt Nam (năm 1926), Việt Nam Quốc dân Đảng (năm 1927)... Ra đời sau Đảng
Cộng sản Việt Nam (năm 1930) có Đại Việt quốc gia xã hội Đảng (năm 1936), Đại
Việt quốc dân đảng gọi tắt là Đảng Đại Việt (năm 1939)... Trong số các đảng
phái, tổ chức chính trị được thành lập ở Việt Nam có một số đảng mong muốn giải
phóng dân tộc, giúp cho nước nhà giàu mạnh, một số đảng khác thì mưu cầu chính
trị nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp, tầng lớp mà họ đại diện, thậm chí có
một số đảng phái “bám gót” ngoại bang, đi ngược lại lợi ích của quốc gia dân
tộc. Trải qua những thử thách cam go của lịch sử, một số đảng đã tự giải tán vì
không gánh vác được sứ mệnh giải phóng dân tộc, đưa nhân dân thoát khỏi xiềng
xích. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, các đảng phái tồn tại ở Việt Nam dù
không ai tranh giành, không ai gạt bỏ, nhưng tất cả đều không nắm được quyền
lãnh đạo cách mạng, ngoại trừ Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vì, họ đều chưa có
đường lối chính trị rõ ràng, thiếu hệ thống tổ chức chặt chẽ, thiếu bản lĩnh
cho nên không đảng phái nào đủ năng lực và uy tín chính trị để lãnh đạo cách
mạng. Thậm chí có những đảng được phép hoạt động công khai, được sự giúp đỡ của
các thế lực ngoại bang cả về phương diện tổ chức lẫn tiền bạc nhưng cũng nhanh
chóng thất bại và tan rã.
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đại diện tiêu biểu cho lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Sự ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã chấm
dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo, tạo ra sự thống
nhất về tổ chức trong cả nước, nâng tầm ảnh hưởng và vị thế của Đảng. Ngay từ
khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, xác định mục tiêu cách mạng, đề ra chủ trương, đường lối đúng
đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử. Đảng đã nắm được quyền lãnh đạo
cách mạng và được tất cả các giai tầng trong xã hội Việt Nam thừa nhận. Mặt
khác, Đảng có phương pháp tổ chức, chỉ đạo hoạt động, phương pháp vận động quần
chúng khoa học, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Từ đó, Đảng tạo lập
được uy tín đối với nhân dân, được nhân dân hết lòng ủng hộ. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã giành những thắng lợi, những thành tựu
to lớn, vẻ vang, có ý nghĩa lịch sử, hoàn thành trọng trách lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhân dân được hưởng
nền độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất
nước, sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam càng được thử thách
và khẳng định. Sau hơn 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam từ
một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp đã vươn lên trở thành nước đang phát
triển, có thu nhập trung bình, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không
ngừng được cải thiện, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh vững
chắc, độc lập, chủ quyền được giữ vững, vị thế và uy tín của đất nước ngày càng
được nâng cao trên trường quốc tế, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Trên thực tế, vai trò lãnh
đạo, cầm quyền của Đảng Cộng Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu, phù hợp với ý
chí, nguyện vọng của nhân dân. Vai trò và vị thế đó không phải là ý muốn chủ
quan của Đảng. Những thử thách cam go của lịch sử đã minh chứng cho bản lĩnh,
trí tuệ, kinh nghiệm của Đảng, tạo dựng niềm tin, uy tín với nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền thông qua sự lãnh đạo
Nhà nước và hệ thống chính trị
Ý thức sâu sắc về vai trò và sứ mệnh vẻ vang của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm
quyền. Trong Di chúc, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền... Phải giữ
gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ
thật trung thành của nhân dân”. Khi chưa có chính quyền, phải hoạt động bí mật,
Đảng hoàn toàn dựa vào nhân dân, sống trong lòng nhân dân, được nhân dân nuôi
dưỡng, chở che, bảo vệ và giúp đỡ về mọi mặt. Nhờ đó, Đảng gần gũi, gắn bó máu
thịt với nhân dân. Từ khi trở thành Đảng cầm quyền (năm 1945), Đảng luôn phấn
đấu vì lợi ích của giai cấp, của nhân dân, “lợi ích của nhân dân tức là lợi ích
của Đảng và phải đặt lợi ích của nhân dân và của Đảng lên trên hết, trước hết”.
Là một đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, được nhân dân thừa nhận, tin
tưởng, ủng hộ và được hiến định trong Hiến pháp và luật pháp, trong quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn phấn đấu làm tròn nhiệm vụ “giải phóng dân tộc,
làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, “ngoài lợi ích của dân tộc, của
Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”, “việc gì có lợi cho dân phải hết
sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Mục đích cầm quyền của
Đảng xét cho cùng là vì lợi ích của nhân dân. Trải qua thực tiễn đấu tranh cách
mạng, Đảng đã hun đúc nên truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân, lấy phục
vụ nhân dân làm mục tiêu, động lực phấn đấu. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “lấy dân làm gốc”, “Nhân dân là trung
tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ
trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền lợi
và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục
tiêu phấn đấu”. Một trong những nội dung quan trọng nhất thể hiện rõ vai trò
Đảng cầm quyền là giải quyết thấu đáo, hài hòa mối quan hệ giữa Đảng với Nhà
nước và các tổ chức chính trị - xã hội; thực hiện tốt cơ chế: Đảng lãnh đạo -
Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ. Để hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình,
cùng lúc Đảng phải đồng thời lãnh đạo triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại vì mục
tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hiến pháp quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam”(8).
Điều lệ Đảng quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền... Đảng lãnh
đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy”. Thực tế, vai
trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp
lý đồng bộ, thể hiện qua hệ thống văn bản pháp luật và đồng thuận, được khẳng
định trong điều lệ, quy định của các tổ chức có liên quan như Đoàn Thanh niên,
Hội Cựu chiến binh, Công đoàn..., chứ không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng
“đơn phương” quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh,
hợp hiến, hợp pháp về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải
qua hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định là đảng
cách mạng chân chính nhất, là đảng cầm quyền, là đảng duy nhất lãnh đạo đất
nước, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Từ khi thành lập cho
đến nay, Đảng luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung
thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, coi đó là điểm xuất
phát, là mục tiêu của mọi chủ trương, đường lối. Do đó, Việt Nam không cần
thiết và không chấp nhận chế độ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Hệ
thống chính trị ở Việt Nam chỉ thừa nhận chế độ “nhất nguyên”, dưới sự lãnh đạo
của Đảng và thực hiện mọi hoạt động dựa trên lợi ích của nhân dân, ngoài ra
không có lợi ích nào khác. Với sự cố gắng nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy quyền dân chủ và quyền
công dân, hướng tới xây dựng một xã hội dân chủ đích thực mà ở đó mọi công dân
đều được hưởng các thành quả của dân chủ, mọi công việc của xã hội đều được
thực hiện theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng”.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, cầm
quyền ở Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc ở Việt Nam theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản đều rơi vào bế
tắc, các đảng phái, tổ chức chính trị lúc đó đều không giữ vững vai trò “chèo
lái” khi đất nước nguy nan. Chỉ duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mục
tiêu, đường lối, chiến lược cách mạng đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử dân
tộc và thời đại, cho nên Đảng được thừa nhận quyền lãnh đạo cách mạng. Trong 30
năm kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ (1945 - 1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã giành
được thắng lợi vẻ vang, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của dân tộc. Sau
Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, Đảng đã lãnh đạo cả nước xây
dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới bằng những bước đi, cách
làm phù hợp, sáng tạo, đem tới thành công trên mọi lĩnh vực. Hơn nữa, việc Việt
Nam vượt qua đại dịch Covid-19, cả nước sớm trở lại trạng thái hoạt động bình
thường mới, đã khẳng định nền chính trị nhất nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam ngày càng được củng cố, phát triển toàn diện, một lần nữa khẳng
định tính tất yếu khách quan: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng. Bên
cạnh những thắng lợi vẻ vang, trong các chặng đường lịch sử, Đảng cũng không
tránh khỏi những yếu kém, khuyết điểm, thậm chí là sai lầm. Song, Đảng không
trốn tránh, giấu giếm mà đã dũng cảm nhìn nhận, đối diện, nghiêm túc tự phê
bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để đáp lại niềm tin, sự kỳ
vọng của nhân dân bằng việc nỗ lực đưa đất nước phát triển bền vững; kinh tế vĩ
mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao;
tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; chính trị xã
hội ổn định, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, vị thế, uy tín của
Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Những thành quả đó đã chứng minh,
chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ khả năng lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, những thế lực phản động, thù địch luôn
lợi dụng những khuyết điểm, sai lầm để khoét sâu, thổi phồng nhằm quy kết Đảng
Cộng sản Việt Nam không đủ sức lãnh đạo cách mạng trong điều kiện mới. Một
trong những luận điệu được các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, cổ súy
nhiều nhất ở Việt Nam đó là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Họ cho rằng
“đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”, muốn có dân chủ thực sự phải thực
hiện “đa nguyên, đa đảng”. Đó chính là những hành động xuyên tạc nhằm kích
động, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng xóa bỏ nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc. Do vậy, cần phải
làm rõ hơn các luận điệu của những người muốn thực hiện đa đảng ở Việt Nam và
lấy thực tiễn để chứng minh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch đó.
Xét cả phương diện lý luận và thực tiễn, Việt Nam chỉ cần một đảng duy
nhất lãnh đạo, cầm quyền - Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này được thể hiện trên
các cơ sở: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu, khách quan,
xuất phát từ chính yêu cầu thực tiễn lịch sử, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân
Việt Nam; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp
hiến và hợp pháp được khẳng định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam; Đảng
là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và của dân tộc Việt Nam; Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được
thực tế kiểm nghiệm qua những thành công, nhất là vào những bước ngoặt lịch sử,
những lúc khó khăn của dân tộc; Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận, ủng hộ Đảng
Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền. Trải qua hơn 9 thập
niên ra đời và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định được vị
trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với mô
hình nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã lãnh đạo toàn dân tộc đạt được nhiều thành tựu to lớn: kinh tế không ngừng
phát triển; đời sống chính trị - xã hội ổn định; chế độ dân chủ được đề cao và
ngày càng phát huy rộng rãi hơn; quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân được
tôn trọng và bảo vệ; nhân dân đã trở thành người chủ của đất nước. Thực tiễn đó
đã chứng minh trong chế độ một đảng duy nhất cầm quyền, dân chủ trong xã hội
Việt Nam không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm,
được phát huy sâu rộng trong thực tế./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét