GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH CHÍNH ĐÁNG CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM
Nhân Trần
Một số nguy cơ đối với tính chính đáng cầm quyền của
Đảng
Trước tiên, nguy cơ từ tính tiên phong
trong hệ giá trị của Đảng. Trong quá
trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức đúng hơn
và bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trên một loạt vấn đề,
chẳng hạn: vấn đề mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, sở hữu tư liệu sản xuất, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa,... Nhờ đó, tư duy lý luận của Đảng ngày càng sâu sắc,
nhận thức đúng, thực chất hơn những tư tưởng của các nhà kinh điển mác-xít,
đồng thời vận dụng, phát triển cho phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam. Tuy
nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, như: Xác định chặng
đường, bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; nội dung,
hình thái và hệ tiêu chí đo lường hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”, nước phát triển, thu nhập cao; lý luận về một đảng duy
nhất cầm quyền trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân; mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị... Từ
khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, các thành tựu trong xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa đã làm cho hệ giá trị và các chuẩn mực có sự chuyển biến
rất lớn. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho công tác tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận của Đảng. Nếu không phát triển sáng tạo lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam thì rất dễ dẫn
đến nguy cơ lạc hậu về lý luận. Đặc biệt, một số công cụ (tổ chức hệ thống
chính trị, tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước, hệ thống Hiến pháp và pháp luật)
và phương thức lãnh đạo của Đảng nếu không có những chuyển biến kịp thời nhằm
đáp ứng được đòi hỏi của những biến chuyển nhanh chóng trong thời đại mới, có
thể sẽ là những rào cản rất lớn cho sự phát triển.
Thứ hai, nguy cơ đến từ hiệu quả của một
số quyết sách của Đảng và Nhà nước. Từ
Đại hội VI đến nay, nhờ bước đột phá từ đổi mới tư duy, Đảng ta đã đề ra đường
lối, chính sách quan trọng trong cả kinh tế và chính trị, vì lợi ích chung, nhờ
đó thúc đẩy được sự phát triển, tạo được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân. Tuy
nhiên, hiện nay, một số chủ trương, đường lối của Đảng chưa được triển khai
thực hiện tốt, chất lượng, hiệu quả chưa cao, làm suy giảm niềm tin trong một
bộ phận nhân dân. Điều này đến từ các nguyên nhân: Tính phản biện trong một số
quyết sách chưa cao; việc thể chế hóa và tổ chức thực thi chủ trương, đường lối
vẫn là một khâu yếu.
Thứ ba, nguy cơ đến từ tình trạng suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu ở một bộ
phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả một số cán bộ cao cấp của Đảng. Nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI,
XII và XIII khẳng định, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham
nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn
chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu
nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát
triển của đất nước. Nếu những vấn đề này không được khắc phục, sẽ ảnh hưởng đến
niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, làm xói mòn tính chính đáng của
đảng cầm quyền.
Giải pháp nâng cao tính chính đáng cầm quyền của Đảng
Một là, tiếp tục nâng cao tính dân chủ
và khoa học trong quy trình hình thành các quyết sách của Đảng. Những quyết sách quan trọng cần được soạn thảo từ cơ
quan tham mưu, tập hợp đội ngũ có trí tuệ cao của Đảng và cần phải được thảo
luận một cách kỹ càng; tăng cường ý thức chủ thể và tinh thần trách nhiệm, ý
thức về sứ mệnh của đảng viên trong xây dựng Đảng. Để nâng cao tính khả thi của
quyết sách, cần “lựa chọn đúng người và kiểm tra công việc thực hiện”, là phải
“thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân đối với công việc đang làm”.
Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Ở Việt Nam, quyền lực chính trị là thống nhất. Vấn đề là, phương
thức thực thi quyền lực chính trị của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua Nhà nước. Qua hơn 35 năm đổi mới, thực
tiễn cầm quyền của Đảng đã được thể hiện cụ thể theo hướng này. Vấn đề đặt ra
hiện nay là, một mặt phải vừa bảo đảm sự thống nhất giữa sự lãnh đạo của Đảng
và tổ chức thực thi quyền lực quản lý của Nhà nước; mặt khác, phải phân biệt
những quyền hạn của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, tránh tình trạng chồng
chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đùn đẩy trách nhiệm mỗi khi có hậu quả xảy
ra. Đây không chỉ là xuất phát từ sự khác nhau trong phương thức thực thi quyền
lực của Đảng và quyền lực của Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn trực tiếp liên quan đến tính minh bạch, rõ ràng,
bền vững của các cơ sở hợp pháp cho vị trí, vai trò của đảng cầm quyền.
Ba là, tăng cường tính gương mẫu, nêu
gương của đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là tăng cường kiểm soát
quyền lực. Gương mẫu, nêu gương của
đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý như một phương thức lãnh đạo
của Đảng. Việc xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý tinh thông về
chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức là một yêu cầu quan trọng nhằm
củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, tình trạng lạm
quyền, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, tham nhũng, hư hỏng, thậm chí độc đoán
của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn xảy ra ở nhiều nơi. Nếu không
khắc phục được sẽ làm mất niềm tin của nhân dân, làm xói mòn tính chính đáng
cầm quyền của Đảng. Nguyên nhân chính là, quyền lực của Đảng chưa được giám
sát, kiểm soát một cách chặt chẽ và hiệu quả. Do vậy, về lâu dài, chúng ta phải tạo ra được một cơ chế giám sát,
kiểm soát quyền lực của Đảng mang tính khoa học và có hiệu quả. Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: Phải nhốt quyền lực vào trong lồng cơ
chế và thể chế. Có như vậy, vấn đề lạm dụng, tha hóa quyền lực của một bộ phận
cán bộ có chức, có quyền mới bị kìm chế nhằm củng cố tính chính đáng trong cầm
quyền của Đảng. Muốn vậy, cần phải: Bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng
về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người
đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị. Tăng cường các thiết chế giám sát, kiểm soát
quyền lực một cách chặt chẽ đối với những cá nhân có quyền lực trong Đảng và
Nhà nước. Thực hiện triệt để và nghiêm túc các quy định về xây dựng, chỉnh đốn
Đảng của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII, kết hợp với đẩy mạnh học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Có kế hoạch cụ thể để
đào tạo, bồi dưỡng, thử thách cán bộ được quy hoạch, nhất là cán bộ cấp chiến
lược để tạo ra các thế hệ lãnh đạo có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và tín nhiệm
trước nhân dân./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét