CHIẾN THẮNG 30/4/1975 - LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC
Mặt
Trời
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân ta kết thúc bằng Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đó là bản thiên hùng
ca bất hủ của dân tộc Việt Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở thành ngày hội tụ
của ba sự kiện lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ
nguyên mới độc lập dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Vậy mà có người
với dã tâm đen tối lại cố tình xuyên tạc ngày đó là “ngày kết thúc cuộc nội
chiến huynh đệ tương tàn” và cũng không phải là ngày giải phóng miền Nam...Vậy
sự thật là thế nào?
Lịch sử cho thấy, Mỹ đã can thiệp trực
tiếp vào Đông Dương từ rất sớm dưới cớ viện trợ cho thực dân Pháp. Từ cuối năm
1950, Mỹ đã viện trợ cho Pháp ở Đông Dương 4 tỷ USD (chiếm 78% chi phí chiến
tranh của Pháp ở Đông Dương). Hiệp định Giơnevơ tháng 7 năm 1954, Mỹ không ký vào
bản Tuyên bố cuối cùng; ngang nhiên vi phạm các điều khoản của Hiệp định, gạt
Pháp ra, công khai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mục đích mà Mỹ theo đuổi
là tiêu diệt phong trào yêu nước và
cách mạng của nhân dân ta, chặn đứng phong trào Cộng sản có thể lan ra khắp
vùng Đông Nam Á và bao vây các nước xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện dã
tâm đó, Mỹ tiến hành chính sách thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, lập ra chính
quyền tay sai, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ với biện pháp “tố
cộng, diệt cộng”, đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước, tiêu diệt cơ sở cách
mạng ở miền Nam. Chúng ban hành Luật 1059 và giương cao khẩu hiệu “giết nhầm
còn hơn bỏ sót” khiến cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu. Song hình thức
thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm của Mỹ thất
bại. Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” một cách bị
động để đối phó với cách mạng miền Nam. Nội dung cơ bản của chiến lược này là
càn quét, dồn dân vào các ấp chiến lược mà thực chất là các trại tù tập trung.
Mục tiêu của chúng là bình định miền Nam trong 18 tháng, từ giữa năm 1961 đến
hết năm 1962. Chúng đã mở hàng chục nghìn cuộc hành quân càn quét để tiêu diệt
bộ đội và du kích, thanh lọc quần chúng, bắt, giết cán bộ và lùa dân ta vào
16.000 ấp chiến lược do chúng dựng lên.
Nhưng trước
sức mạnh của phong trào cách mạng miền Nam, chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
của Mỹ cũng nhanh chóng bị phá sản. Với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, Mỹ
chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, dùng quân viễn chinh Mỹ để phản
công ta nhằm giành lại quyền chủ động về chiến lược. Mục tiêu của chiến lược
này là đánh bại cách mạng miền Nam trong thời gian từ giữa năm 1965 đến 1967.
Biện pháp chủ yếu là “tìm và diệt” đi đôi với “tìm và bình định” Thực hiện
chiến lược này, Mỹ ồ ạt đưa quân và một khối lượng vũ khí, phương tiện chiến
tranh khổng lồ vào miền Nam Việt Nam. Tính đến thời điểm cuối năm 1967, quân Mỹ
ở miền Nam lên tới 550.000 quân chiếm tới 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ,
40% hải quân, 60% không quân, và 6,5 triệu lượt thanh niên Mỹ trực tiếp tham
gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Khi thi hành chiến lược “chiến tranh
cục bộ”, bên cạnh chiến lược “hai gọng kìm” ở miền Nam, Mỹ còn dùng không quân
và hải quân đánh phá miền Bắc nhằm mục tiêu kép ngăn chặn sự chi viện của miền
Bắc cho miền Nam, cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam, và làm suy yếu miền Bắc
- hậu phương lớn của cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, Mỹ đã thất bại ở cả chiến
trường miền Bắc lẫn chiến trường miền Nam. Đặc biệt, cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã làm ý chí xâm lược của nhà cầm
quyền Mỹ bị lung lay một bước nghiêm trọng. Sau đó Tổng thống Giônxơn phải đơn
phương ngừng đánh phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm
phán với ta tại Hội nghị Pari; thừa nhận sự phá sản của chiến lược “chiến tranh
cục bộ”.
Trước thất
bại nặng nề trên, Níchxơn, sau khi lên cầm quyền, đã buộc phải xuống thang
chiến tranh, rút quân Mỹ về nước, nhưng thay vào đó lại thi hành chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh”, đưa ra “học thuyết Níchxơn” và mở rộng chiến tranh
sang Campuchia. Bản chất của cái gọi là chiến lược và học thuyết này không có
gì khác ngoài âm mưu kéo dài chiến tranh, tiếp tục chính sách áp đặt chủ nghĩa
thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Thực hiện ý đồ đó, từ giữa năm 1968 đến đầu
năm 1970, Mỹ vừa từng bước rút quân, vừa ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền.
Chúng tiến hành hàng loạt kế hoạch bình định và phản công, tiến công ta quyết
liệt. Đồng thời, điên cuồng trở lại đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải
quân, đỉnh cao là tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay
B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố khác. Đi đôi với hành động quân
sự, Mỹ còn dùng thủ đoạn nham hiểm về chính trị, ngoại giao với cái gọi là kết hợp chiến tranh hủy diệt với chiến tranh
giành dân và “chiến tranh bóp nghẹt” hòng làm suy yếu cuộc kháng chiến
của nhân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc. Việc đẩy mạnh hoạt động ngoại giao
xảo quyệt, ép các nước có liên quan đồng tình giải quyết vấn đề Việt Nam theo ý
đồ của Mỹ là kịch bản của “chiến tranh bóp nghẹt” bẩn thỉu. Dù đã sử dụng tối
đa sức mạnh, song rốt cuộc, Mỹ vẫn phải chấp nhận thất bại nhục nhã cả về quân
sự, chính trị và ngoại giao; buộc phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Việt Nam. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố và với âm mưu chống
Cộng sản đến cùng, sau Hiệp định Pari, Mỹ vẫn tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa
chiến tranh”, dùng ngụy quân, ngụy quyền làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa
thực dân mới ở miền Nam Việt Nam dưới vỏ bọc “một quốc gia thân Mỹ”, nhưng thực
chất vẫn là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Để thực hiện cái gọi là “keo cuối cùng”,
Mỹ tiếp tục đổ tiền của, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho ngụy quyền Sài Gòn
và chỉ đạo chính quyền Sài Gòn ráo riết bắt lính, tăng quân, khống chế nhân
dân. Với chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, chúng liên tiếp mở hàng loạt cuộc
hành quân càn quét, lấn chiếm và bình định. Nhưng cũng giống như trước, quan
thầy Mỹ và bọn tay sai ngụy càng ngày càng rơi vào tình thế khốn quẫn, không có
đường thoát.
Và điều gì
đến sẽ phải đến! Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, với sức
mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, quân và dân ta đã đập tan hơn một triệu
quân ngụy và bộ máy ngụy quyền Sài Gòn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn
toàn được giải phóng, và đó cũng là ngày chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược kéo
dài gần 21 năm của đế quốc Mỹ. Nhắc lại một chuỗi sự kiện lịch sử không ai có
thể chối cãi để qua đó thấy rằng, không phải “do giúp Pháp, can thiệp quá sâu vào Đông Dương nên Mỹ bị sa lầy ở Việt
Nam”! Càng không phải “khi Mỹ
rút năm 1973 đã bỏ rơi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu”. Cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam của Mỹ có mục đích chính trị xuyên suốt của nó. Sau Hiệp định
Pari, cuộc kháng chiến của nhân dân ta vẫn là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; vẫn là cuộc đối đầu giữa nhân dân
Việt Nam và Mỹ. Bất chấp âm mưu của chủ nghĩa thực dân giấu mặt, trá
hình, Mỹ vẫn nguyên là kẻ xâm lược và chính quyền Sài Gòn vẫn là thân phận của
kẻ tay sai. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào những giờ chót cầm quyền đã than
rằng “đồng minh lớn đã bội ước đồng minh nhỏ”. Song ông đã ngộ nhận, chẳng có
đồng minh lớn, nhỏ nào cả; chỉ có quan thầy và tay sai. Chính quyền ngụy Sài
Gòn chưa bao giờ có quyền tự quyết, càng chưa bao giờ có “lý tưởng quốc gia”.
Bởi thế, ai đó cho rằng, “sau hiệp
định Pari, nên coi cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến huynh đệ tương
tàn, giữa một bên là vì lý tưởng quốc gia, một bên là vì lý tưởng Cộng sản”
là đã bóp méo tính chất của cuộc chiến tranh. Mỹ xâm lược Việt Nam, dựng lên
chính quyền tay sai để làm bia đỡ đạn cho quân Mỹ, phục vụ lợi ích của Mỹ. Nhân
dân Việt Nam chống lại sự xâm lược Mỹ để bảo vệ nền độc lập của mình. Đó là
tính chất bao trùm và xuyên suốt của cuộc đối đầu lịch sử giữa nhân dân Việt
Nam Mỹ.
Nếu ai đó
nói rằng ngày 30 tháng 4 không gọi là
“ngày giải phóng miền Nam” mà gọi là “ngày hòa hợp dân tộc” là sự đánh
tráo khái niệm. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ hoặc trực tiếp, hoặc
thông qua lực lượng tay sai đã tiến hành hàng trăm nghìn cuộc khủng bố giết hại
cán bộ và đồng bào ta. Mỹ còn gây ra cuộc thảm sát Sơn Mỹ gây chấn động thế
giới, lập ra gần 10.000 đồn bốt, lùa nhân dân vào hàng chục nghìn ấp chiến
lược, rải hàng triệu lít chất độc da cam điôxin xuống khắp miền Nam. Nhưng nhờ
có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Mỹ - ngụy không còn có thể tiếp tục gây tội ác đối với
đồng bào miền Nam được nữa. Vì vậy, ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày miền Nam được
hoàn toàn giải phóng, là ngày đồng bào miền Nam thoát ra khỏi xiềng xích nô lệ.
Đảng và nhân dân ta trong bất luận hoàn cảnh lịch sử nào cũng đều đề cao
và làm hết sức mình để hòa hợp dân tộc, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vì luôn tìm mọi cách để hòa hợp
dân tộc, chúng ta mới có thể huy động được sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để
đánh thắng địch. Đó là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Tôn trọng lịch sử là
tôn trọng dân tộc và tôn trọng mình. Có ngày giải phóng miền Nam, mới có thống
nhất nước nhà. Có giải phóng miền Nam mới có hòa hợp dân tộc. Có giải phóng
miền Nam, có hòa hợp dân tộc, có thống nhất nước nhà, dân tộc ta mới mở ra kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự thật lịch sử là như vậy. Cái nhìn méo mó về
lịch sử sẽ là sự vong ơn bội nghĩa đối với sự hy sinh của cả một dân tộc và sẽ
bị chính đông đảo quần chúng khinh rẻ. Vì vậy, âm mưu xấu xa của những ai có
cái nhìn đó không bao giờ thực hiện được; trái lại, họ chỉ càng lộ rõ chân
tướng và tâm địa đen tối mà thôi./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét