Một
số yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu
tranh lý luận hiện nay.
Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp
trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trên con đường đó,
chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản
thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan, duy ý chí hoặc do
bảo thủ, trì trệ dẫn tới sự đình đốn, thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng
túng và thiếu lý lẽ, thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước
đây và Đông Âu-những nơi mà CNXH hiện thực tưởng như rất vững chắc nhưng đã bị
tan rã một cách nhanh chóng-đã cho chúng ta bài học sâu sắc cả về tính phức tạp
của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn trên con đường đi tới tương
lai của loài người.
Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa
đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện
toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta
đang tiến hành. Mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng
tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó
nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau, rất khó rạch
ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại
sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng
CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu
tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng
ta.
Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong
cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang
tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng, một mặt, lý thuyết về CNXH
và xã hội XHCN được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu
đáo trên cơ sở vận dụng những quy luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi
chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận
thuyết về CNXH được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải
tìm tòi và gạt bỏ các vấn đề, các yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu
vào lý giải những vấn đề cốt lõi.
Tính trừu tượng cao của CNXH khoa học chính là những nguyên
lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước.
Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng CNXH, không thể không tính đến
những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng
một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và
khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Bác Hồ đã
vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền
thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng
phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và
đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng
tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.
Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối
hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới
làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý
luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh.
Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
chúng ta có lúc đánh giá, nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản
xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của
lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp
một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Khi nói về kết cấu và
bản chất của CNXH, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt,
sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết
đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều
đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng XHCN và trên thực tế sẽ
tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan
tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo
công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế,
không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức
thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc,
không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình
thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng
thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản.
Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng
nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc
XHCN trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến
lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là
người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng
khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng
xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu
được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi
người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng, chung sức.
Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố
niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của
sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể
vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một
cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng, chung sức,
tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi
đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con
người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại
có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành
động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa
Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác.
Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải
nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
quốc tế, đối với chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm
cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng
đúng cho mỗi người khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới
đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước
mọi thử thách của thời cuộc.
LHS
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét