TÍNH CHÍNH ĐÁNG CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nhân
Trần
Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được nhân dân tin tưởng, thừa
nhận là đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền lực nhà nước là quyền
lực công, là công cụ để quản lý, dẫn dắt và phục vụ xã hội, bảo đảm vai trò cầm
quyền của Đảng. Vì vậy, không chỉ chính đáng trong giành chính quyền, Đảng muốn
duy trì tính chính đáng trong việc cầm quyền, bởi nó chính là cơ sở, nền tảng
để người dân tiếp tục đặt niềm tin vào Đảng, đi theo Đảng, tự nguyện phục tùng
sự lãnh đạo của Đảng để Đảng đạt được hiệu lực và hiệu quả trong cầm quyền. Vì
là một đảng duy nhất cầm quyền, cho nên trong mỗi giai đoạn cầm quyền, tính
chính đáng cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng đối với nhân
dân, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và mục
tiêu mà chúng ta đang theo đuổi: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Với tư cách là một chủ thể chính trị, một chủ thể cầm quyền duy nhất ở
nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn củng cố và nâng cao được tính chính đáng
trong cầm quyền thì phải quan tâm đến tính chính đáng từ khi mới nắm quyền, tức
khâu phát sinh quyền lực và trong suốt giai đoạn duy trì quyền lãnh đạo của
mình. Có 4 yếu tố chính tạo nên tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng:
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bảo
đảm tính tiên phong trong hệ giá trị của mình. Cần phải khẳng định rằng, hệ giá trị của Đảng Cộng sản
Việt Nam lựa chọn và kiên định từ khi thành lập và phát triển đến nay là chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là Cương lĩnh, đường lối, chính sách của
Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Hệ giá trị này là tiền đề tư tưởng
ảnh hưởng đến tính chính đáng về mặt lý luận của Đảng. Để có được tính chính
đáng về mặt lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, bổ sung và phát
triển tính tiên phong trong hệ giá trị của mình. Khi đã có hệ tư tưởng nền tảng mang tính cách mạng, khoa học, tiên
phong, tiến bộ (vì dân, bình đẳng, công bằng, tự do...), Đảng không ngừng
truyền bá hệ tư tưởng vào nhân dân, trở thành hệ tư tưởng giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống xã hội, định hướng và dẫn dắt sự phát triển của đất nước. Nhờ
vậy, Đảng đã tập hợp được đông đảo nhân dân tin theo Đảng để giành chính quyền,
xác lập vai trò cầm quyền của Đảng - đây là yếu tố quan trọng đầu tiên để Đảng
Cộng sản Việt Nam có được tính chính đáng trong cầm quyền. Trong quá trình cầm
quyền, Đảng không ngừng bổ sung, phát triển hệ tư tưởng nền tảng để xây dựng
Cương lĩnh, đường lối, chính sách phù hợp với từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể,
để người dân tiếp tục chấp nhận, tin tưởng vào sự lãnh đạo, cầm quyền nhằm củng
cố và duy trì tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng.
Thứ hai, tính hợp lý, hợp pháp trong cầm
quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là cơ sở của tính chính đáng trong quá trình
giành, giữ và thực thi quyền lực của Đảng. Vì là đảng duy nhất cầm quyền, tính
hợp pháp trong cầm quyền của Đảng không chỉ là các quy định trong Cương lĩnh,
điều lệ, mà vị trí, vai trò, cầm quyền còn được khẳng định trong các bản Hiến
pháp của Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam
là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam”. Điều lệ Đảng quy
định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính
trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy”. Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có điều quy định:
“Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đây là
những khẳng định rất quan trọng bảo đảm cho tính hợp pháp trong cầm quyền của
Đảng.
Tính hợp pháp trong cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là cách
thức tạo dựng các cơ quan nhà nước với tư cách là công cụ quyền lực, công cụ
bảo đảm quyền lực chính trị của Đảng được khách quan hóa trong quyền lực công -
tức quyền lực nhà nước thông qua những thủ tục, thể lệ, quy trình, cốt lõi là
nhà nước hóa các cơ cấu chính trị. Trong suốt quá trình cầm quyền của mình,
Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng xây dựng đội ngũ cán bộ ngày một lớn mạnh,
nhằm giới thiệu cho nhân dân những đảng viên ưu tú để nhân dân bầu vào các cơ
quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Trải qua hơn 90 năm ra
đời, gần 80 năm cầm quyền, ngay từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến
cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
nhiệm kỳ 2021 - 2026, đảng viên được Đảng giới thiệu ra ứng cử luôn chiếm đa số
trong các cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Trong suốt
những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ quan nhà nước đã không ngừng
hoàn thiện thể chế bầu cử, ứng cử nhằm mở rộng dân chủ để các cuộc bầu cử ngày
càng chặt chẽ, dân chủ, tạo sự đồng thuận, tin tưởng của nhân dân vào sự lựa
chọn của mình. Đảng viên của Đảng được nhân dân lựa chọn sẽ là những nhân tố
hạt nhân để duy trì, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự cầm quyền của Đảng và
bảo đảm cho ý chí của Đảng được thể chế hóa một cách nhanh chóng, đầy đủ trong
hệ thống chính sách để đến được với nhân dân.
Thứ ba, tính hiệu lực, hiệu quả trong
quá trình lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam
không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu, củng cố, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng Cương lĩnh, đường lối, chính sách của
Đảng, mà còn không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, thể
chế hóa các lý tưởng chính trị của Đảng thành các chuẩn mực pháp quyền (Hiến
pháp và pháp luật) để thực thi trên quy mô toàn xã hội thông qua các cơ quan
nhà nước. Muốn bảo đảm được tính chính đáng trong cầm quyền, các mệnh lệnh được
đưa ra từ các cơ quan nhà nước với tư cách là công cụ của đảng cầm quyền phải
được nhân dân tuân thủ một cách tự nguyện, đi vào cuộc sống. Nhà nước với tư cách là công cụ cầm
quyền của Đảng chỉ được xã hội thừa nhận là chính đáng khi tổ chức quyền lực
này thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân thông qua hệ thống chính
sách. Toàn bộ hoạt động của đảng cầm quyền đều xoay quanh hoạt động của Nhà
nước, xoay quanh sản phẩm đầu ra của Nhà nước là các chính sách công. Đây là
vấn đề phức tạp, liên quan đến giải quyết các quan hệ lợi ích khác nhau trong
xã hội, đặc biệt là quyền và trách nhiệm của các cơ quan hoạch định chính sách,
năng lực và tầm nhìn của người đứng đầu các cơ quan hoạch định chính sách; tính
công khai, minh bạch trong việc cung cấp thông tin đến công chúng; cơ chế và
năng lực giám sát, phản biện của các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình
hoạch định và thực thi chính sách… Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Đảng luôn
chú trọng đến các khâu: Tính đúng đắn, tính khả thi của mục tiêu chính trị -
tức là trình độ, năng lực, quyết sách của đảng cầm quyền; tính đầy đủ, đồng bộ,
khoa học và tương đối ổn định của hệ thống Hiến pháp, pháp luật; trình độ, năng
lực xây dựng và hoàn thiện thể chế của bộ máy nhà nước, mà trước hết là Quốc
hội; quyền năng và năng lực thực tế của bộ máy hành pháp; tính kịp thời, đúng
đắn trong việc phát hiện và tính nghiêm minh trong việc xử lý hành vi sai phạm.
Đây cũng là năng lực thực tế của đội ngũ làm cơ quan tư pháp và tính độc lập
tương đối của cơ quan tư pháp. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh đuổi hai đế quốc xâm lược giành
độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Đặc biệt, trong hơn
35 năm đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước, nhân dân đạt được những thành tựu vô
cùng quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu
nhập trung bình; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế toàn diện, sâu rộng. Bộ mặt đất nước, đời sống của nhân dân thật sự thay
đổi; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và mở rộng; đại đoàn kết toàn dân
tộc được củng cố, tăng cường. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh; sức mạnh
về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng
mở rộng, đi vào chiều sâu; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được
nâng cao. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Thứ tư, duy trì mức độ liêm chính, trong
sạch của đảng cầm quyền. Trong thời
kỳ kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân không có mục tiêu nào lớn hơn, thiêng liêng hơn là đánh đuổi đế quốc xâm
lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Vì thế, chủ nghĩa cá nhân gần như
không có cơ hội để nảy nở và phát triển. Tuy nhiên, khi đất nước chuyển sang
giai đoạn xây dựng và phát triển, nhất là từ khi phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, thì chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người có cơ
hội trỗi dậy. Thực tế cho thấy, cái khó chiến thắng nhất trong mỗi con người là
chủ nghĩa cá nhân. Vì “chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong
mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi -
để ngóc đầu dậy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn, “trước mặt quần chúng,
không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng
chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải
làm mực thước cho người ta bắt chước…”. Người còn cho rằng, một tấm gương sống
có giá trị hơn một trăm bài diễn văn, tuyên truyền. Vì vậy, uy tín của Đảng
trước nhân dân sẽ phụ thuộc rất lớn vào uy tín của đội ngũ cán bộ của Đảng. Cho
nên, ngay từ những năm đầu giành được chính quyền cho đến nay, nhất là trong
nhiệm kỳ Đại hội XII vừa qua, Đảng ta luôn chú trọng đến giáo dục đạo đức cách
mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và
không ngừng đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, tình trạng suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ. Do vậy, nhiều vấn đề phức tạp được đặt ra và thực hiện từ những
năm trước, nhưng hiệu quả còn thấp, thì trong những nhiệm kỳ gần đây đã có
chuyển biến tích cực. Công tác kiểm tra, giám sát và đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, bài bản, đi vào
chiều sâu, có bước đột phá và đạt những kết quả cụ thể, rõ rệt. Nhiều vụ án
kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo
sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá
cao và đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hoá” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm
chế, ngăn chặn. Điều này đã chứng minh được rằng, khi chúng ta có được một đảng
cầm quyền liêm chính, trong sạch, tất cả vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, lợi
ích của nhân dân thì khi đó niềm tin của nhân dân sẽ được củng cố và nâng cao,
tính chính đáng của đảng cầm quyền được khẳng định, không có thế lực nào có thể
chống phá được./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét