Thứ Tư, 7 tháng 6, 2023

 

TÍNH CHÍNH ĐÁNG CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Nhân Trần      

Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được nhân dân tin tưởng, thừa nhận là đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền lực nhà nước là quyền lực công, là công cụ để quản lý, dẫn dắt và phục vụ xã hội, bảo đảm vai trò cầm quyền của Đảng. Vì vậy, không chỉ chính đáng trong giành chính quyền, Đảng muốn duy trì tính chính đáng trong việc cầm quyền, bởi nó chính là cơ sở, nền tảng để người dân tiếp tục đặt niềm tin vào Đảng, đi theo Đảng, tự nguyện phục tùng sự lãnh đạo của Đảng để Đảng đạt được hiệu lực và hiệu quả trong cầm quyền. Vì là một đảng duy nhất cầm quyền, cho nên trong mỗi giai đoạn cầm quyền, tính chính đáng cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng đối với nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và mục tiêu mà chúng ta đang theo đuổi: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với tư cách là một chủ thể chính trị, một chủ thể cầm quyền duy nhất ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn củng cố và nâng cao được tính chính đáng trong cầm quyền thì phải quan tâm đến tính chính đáng từ khi mới nắm quyền, tức khâu phát sinh quyền lực và trong suốt giai đoạn duy trì quyền lãnh đạo của mình. Có 4 yếu tố chính tạo nên tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bảo đảm tính tiên phong trong hệ giá trị của mình. Cần phải khẳng định rằng, hệ giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn và kiên định từ khi thành lập và phát triển đến nay là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Hệ giá trị này là tiền đề tư tưởng ảnh hưởng đến tính chính đáng về mặt lý luận của Đảng. Để có được tính chính đáng về mặt lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, bổ sung và phát triển tính tiên phong trong hệ giá trị của mình. Khi đã có hệ tư tưởng nền tảng mang tính cách mạng, khoa học, tiên phong, tiến bộ (vì dân, bình đẳng, công bằng, tự do...), Đảng không ngừng truyền bá hệ tư tưởng vào nhân dân, trở thành hệ tư tưởng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội, định hướng và dẫn dắt sự phát triển của đất nước. Nhờ vậy, Đảng đã tập hợp được đông đảo nhân dân tin theo Đảng để giành chính quyền, xác lập vai trò cầm quyền của Đảng - đây là yếu tố quan trọng đầu tiên để Đảng Cộng sản Việt Nam có được tính chính đáng trong cầm quyền. Trong quá trình cầm quyền, Đảng không ngừng bổ sung, phát triển hệ tư tưởng nền tảng để xây dựng Cương lĩnh, đường lối, chính sách phù hợp với từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể, để người dân tiếp tục chấp nhận, tin tưởng vào sự lãnh đạo, cầm quyền nhằm củng cố và duy trì tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng.

Thứ hai, tính hợp lý, hợp pháp trong cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là cơ sở của tính chính đáng trong quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực của Đảng. Vì là đảng duy nhất cầm quyền, tính hợp pháp trong cầm quyền của Đảng không chỉ là các quy định trong Cương lĩnh, điều lệ, mà vị trí, vai trò, cầm quyền còn được khẳng định trong các bản Hiến pháp của Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam”. Điều lệ Đảng quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy”. Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có điều quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đây là những khẳng định rất quan trọng bảo đảm cho tính hợp pháp trong cầm quyền của Đảng. Tính hợp pháp trong cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là cách thức tạo dựng các cơ quan nhà nước với tư cách là công cụ quyền lực, công cụ bảo đảm quyền lực chính trị của Đảng được khách quan hóa trong quyền lực công - tức quyền lực nhà nước thông qua những thủ tục, thể lệ, quy trình, cốt lõi là nhà nước hóa các cơ cấu chính trị. Trong suốt quá trình cầm quyền của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng xây dựng đội ngũ cán bộ ngày một lớn mạnh, nhằm giới thiệu cho nhân dân những đảng viên ưu tú để nhân dân bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Trải qua hơn 90 năm ra đời, gần 80 năm cầm quyền, ngay từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, đảng viên được Đảng giới thiệu ra ứng cử luôn chiếm đa số trong các cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Trong suốt những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ quan nhà nước đã không ngừng hoàn thiện thể chế bầu cử, ứng cử nhằm mở rộng dân chủ để các cuộc bầu cử ngày càng chặt chẽ, dân chủ, tạo sự đồng thuận, tin tưởng của nhân dân vào sự lựa chọn của mình. Đảng viên của Đảng được nhân dân lựa chọn sẽ là những nhân tố hạt nhân để duy trì, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự cầm quyền của Đảng và bảo đảm cho ý chí của Đảng được thể chế hóa một cách nhanh chóng, đầy đủ trong hệ thống chính sách để đến được với nhân dân.

Thứ ba, tính hiệu lực, hiệu quả trong quá trình lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu, củng cố, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, mà còn không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, thể chế hóa các lý tưởng chính trị của Đảng thành các chuẩn mực pháp quyền (Hiến pháp và pháp luật) để thực thi trên quy mô toàn xã hội thông qua các cơ quan nhà nước. Muốn bảo đảm được tính chính đáng trong cầm quyền, các mệnh lệnh được đưa ra từ các cơ quan nhà nước với tư cách là công cụ của đảng cầm quyền phải được nhân dân tuân thủ một cách tự nguyện, đi vào cuộc sống. Nhà nước với tư cách là công cụ cầm quyền của Đảng chỉ được xã hội thừa nhận là chính đáng khi tổ chức quyền lực này thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân thông qua hệ thống chính sách. Toàn bộ hoạt động của đảng cầm quyền đều xoay quanh hoạt động của Nhà nước, xoay quanh sản phẩm đầu ra của Nhà nước là các chính sách công. Đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến giải quyết các quan hệ lợi ích khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quyền và trách nhiệm của các cơ quan hoạch định chính sách, năng lực và tầm nhìn của người đứng đầu các cơ quan hoạch định chính sách; tính công khai, minh bạch trong việc cung cấp thông tin đến công chúng; cơ chế và năng lực giám sát, phản biện của các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách… Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Đảng luôn chú trọng đến các khâu: Tính đúng đắn, tính khả thi của mục tiêu chính trị - tức là trình độ, năng lực, quyết sách của đảng cầm quyền; tính đầy đủ, đồng bộ, khoa học và tương đối ổn định của hệ thống Hiến pháp, pháp luật; trình độ, năng lực xây dựng và hoàn thiện thể chế của bộ máy nhà nước, mà trước hết là Quốc hội; quyền năng và năng lực thực tế của bộ máy hành pháp; tính kịp thời, đúng đắn trong việc phát hiện và tính nghiêm minh trong việc xử lý hành vi sai phạm. Đây cũng là năng lực thực tế của đội ngũ làm cơ quan tư pháp và tính độc lập tương đối của cơ quan tư pháp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh đuổi hai đế quốc xâm lược giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Đặc biệt, trong hơn 35 năm đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước, nhân dân đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Bộ mặt đất nước, đời sống của nhân dân thật sự thay đổi; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Thứ tư, duy trì mức độ liêm chính, trong sạch của đảng cầm quyền. Trong thời kỳ kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không có mục tiêu nào lớn hơn, thiêng liêng hơn là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Vì thế, chủ nghĩa cá nhân gần như không có cơ hội để nảy nở và phát triển. Tuy nhiên, khi đất nước chuyển sang giai đoạn xây dựng và phát triển, nhất là từ khi phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người có cơ hội trỗi dậy. Thực tế cho thấy, cái khó chiến thắng nhất trong mỗi con người là chủ nghĩa cá nhân. Vì “chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn, “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…”. Người còn cho rằng, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn, tuyên truyền. Vì vậy, uy tín của Đảng trước nhân dân sẽ phụ thuộc rất lớn vào uy tín của đội ngũ cán bộ của Đảng. Cho nên, ngay từ những năm đầu giành được chính quyền cho đến nay, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII vừa qua, Đảng ta luôn chú trọng đến giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và không ngừng đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, nhiều vấn đề phức tạp được đặt ra và thực hiện từ những năm trước, nhưng hiệu quả còn thấp, thì trong những nhiệm kỳ gần đây đã có chuyển biến tích cực. Công tác kiểm tra, giám sát và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá và đạt những kết quả cụ thể, rõ rệt. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Điều này đã chứng minh được rằng, khi chúng ta có được một đảng cầm quyền liêm chính, trong sạch, tất cả vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân thì khi đó niềm tin của nhân dân sẽ được củng cố và nâng cao, tính chính đáng của đảng cầm quyền được khẳng định, không có thế lực nào có thể chống phá được./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét