Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2024

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã không ngừng tham gia các phong trào công nhân và phong trào cộng sản thế giới để tìm gia con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Sau khi bắt gặp Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lênin, Người đã phấn đấu trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, trong tư tưởng của Người luôn mang tính cách mạng và khoa học, nhân văn sâu sắc, được phong trào cộng sản, nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận. Vậy mà, các thế lực thù địch vẫn thường xuyên xuyên tạc cho rằng Hồ Chí Minh có tư tưởng dân tộc cực đoan, hẹp hòi, hiếu chiến nên đã phát động toàn dân chiến tranh với thực dân Pháp, để lại hậu quả thiệt hại vô cùng lớn về người và của cho Việt Nam.

Thực chất đây là quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc phủ nhận đường lối lãnh đạo kháng chiến của Hồ Chí Minh nhằm mục đích làm cho quần chúng nhân dân hiểu sai về Người. Bởi vì, trong bối cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam vừa mới độc lập vào ngày 02/9/1945 nước ta đã phải đương đầu với nhiều loại giặc ngoại xâm như: quân Pháp, quân Anh, quân Ấn, quân Tưởng và các lực lượng phản động trong nước. Trước tình hình đó Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đấu tranh từng bước với những sách lược rất mềm dẻo và khôn khéo đuổi dần các lực lượng ngoại xâm ra khỏi bờ cõi.

Vào cuối năm 1946, trên đất nước ta chỉ còn thực dân Pháp đô hộ, chính quyền cách mạng non trẻ vẫn đang trong điều kiện khó khăn. Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rằng nếu chiến tranh nổ ra vào giai đoạn này thì vô cùng khó khăn với dân tộc Việt Nam nên đã cùng Chính phủ ta đàm phán, nhượng bộ với thực dân Pháp để kéo dài thời gian chuẩn bị kháng chiến.

Khi cận kề của cuộc chiến tranh sắp nổ ra, Ngày 07/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra “Lời kêu gọi gửi Quốc hội và Chính phủ Pháp” khẳng định: Người Việt Nam và người Pháp đã đổ máu nhiều rồi, đã chịu tai vạ chiến tranh nhiều rồi... Tôi yêu Tổ quốc và đồng bào tôi, tôi cũng yêu nước Pháp và nhân dân Pháp. Vì vậy tôi thiết tha kêu gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp nghĩ đến lợi quyền chung tối cao của hai dân tộc Pháp - Việt, hạ lệnh cho đương cục Pháp khôi phục tình trạng trước ngày 20/11/1946, để cùng Chính phủ Việt Nam thi hành Tạm ước, để xây đắp sự cộng tác Pháp - Việt thân thiện và lâu dài”.

Ngày 13/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp với nhà báo Bernard Fall, phóng viên của tờ Paris-Saigon-Hanoi rằng Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách…Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”[1].

Tuy nhiên, khi các giải pháp đàm phán với thực dân Pháp để tìm kiếm hòa bình không được, cuối cùng vào ngày 19/12/1946 Người viết và ngày 20/12/1946 Người đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[2].

Điều đó cho thấy rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện rất rõ tính thiện chí được hòa bình nhưng kẻ thù không từ bỏ âm mưu xâm lược nên đất nước ta buộc phải đoàn kết đứng lên kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Về phía Việt Nam, do có quyết tâm của toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, trải qua 9 năm kháng chiến trường kỳ đến năm 1954 nước ta đã đánh bại âm mưu xâm lược lần 2 của thực dân Pháp kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ. Kết quả thắng lợi đó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và thúc đẩy phong trào cách mạng của các nước đang là thuộc địa đế quốc, thực dân lúc bấy giờ.

Về phía Việt Nam, nếu không có sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh để cả nước đứng lên đánh đổ thực dân Pháp thì muôn đời dân tộc ta vẫn chỉ là người dân nô lệ. Mặt khác, với sự cống hiến to lớn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp và giải phóng con người của cả nhân loại nên Người đã được tổ chức UNESCO công nhận là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam vào năm 1987.

Những giá trị cao đẹp và nhân văn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay vẫn còn nguyên giá trị và có sức lan tỏa rộng rãi trên toàn thế giới, đã hơn 20 quốc gia, vùng lãnh thổ xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh và nhiều công trình mang tên Người. Đó là những minh chứng khách quan phê phán, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch./.

                                                                                     Hoa Súng



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2000, t4, tr.473

[2] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 (1945 - 1947), tr.160-161.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét