Nhận diện mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước,
thị trường và xã hội ở Việt Nam hiện nay
Hoa Súng
Để
có thể phát triển nhanh, bền vững đất nước, quản lý phát triển xã hội một cách
hợp lý, có hiệu quả, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương nhận diện rõ và xây dựng
cơ chế phù hợp, bảo đảm xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và
xã hội. Trong quá trình ấy, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay, cả về lý luận
lẫn thực tiễn, là cần nghiên cứu một cách có hệ thống, nhận diện rõ mối quan hệ
ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam hiện nay, tạo cơ sở khoa
học cho những biện pháp xử lý hài hòa, phát huy được những mặt tích cực của mối
quan hệ này và phòng, tránh được những hệ lụy tiêu cực phái sinh.
Mối
quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội - một trong những quan hệ lớn cần
được nhận diện, xử lý tốt trong giai đoạn phát triển mới
Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) lần đầu tiên xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và
giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, gồm: Quan hệ giữa đổi mới, ổn
định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị
trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và
xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng
trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;
giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc
lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ.
Tổng
kết thực tiễn và phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại
hội XII của Đảng điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng
xã hội chủ nghĩa” thành quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”. Cùng với đó, Đảng ta đã bổ sung mối
quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường” thành mối quan hệ “giữa
Nhà nước, thị trường và xã hội”, chính thức coi đây là mối quan hệ lớn thứ
chín trong những mối quan hệ lớn cần được nhận diện, nghiên cứu có hệ
thống trên bình diện lý luận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, có thể khẳng định
rằng, cơ chế tác động, mối quan hệ giữa Nhà nước với xã hội, giữa thị
trường với xã hội hay quan hệ ba bên giữa ba chủ thể này ở Việt Nam lại khá
phức tạp, là vấn đề khoa học mới mẻ, chưa được nghiên cứu chuyên sâu.
Mối
quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là mối quan hệ lớn, cơ bản, đòi hỏi
phải giải quyết hài hòa trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và giải
quyết tốt mối quan hệ này cũng chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát
triển nhanh, bền vững; đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại,
phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ
XXI. Nhận thức ngày càng rõ hơn về vị trí, vai trò và ý nghĩa của mối quan hệ
này, Đảng ta nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc nhận diện, nhận thức lại cơ
cấu, chức năng để xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội
trong điều kiện mới. Hội nghị Trung ương 5 khóa XII yêu cầu: “Xác định rõ
và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của Nhà nước, thị
trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa; tăng cường và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng”(1).
Đánh
giá chung về 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực
hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2030, 30 năm thực
hiện Cương lĩnh 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dự thảo các văn
kiện trình Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Về nhận thức lý luận, mục tiêu,
đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ
sung, cụ thể hóa, phát triển với những nhận thức quan trọng…; đổi mới phương
thức vận hành của Nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo
đảm quyền làm chủ của nhân dân; hoàn thiện mô hình tổ chức của Nhà nước,… coi
trọng kiểm soát quyền lực nhà nước; giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị
trường và xã hội, quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân”(2). Đồng
thời, dự kiến bổ sung thêm mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường
pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là mối quan hệ thứ mười và lưu ý trong nhận
thức và giải quyết các quan hệ lớn, cần chú trọng hơn đến bảo đảm định hướng xã
hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường; bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập, tự chủ và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
Nhận
thức bước đầu về mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội
Trên
thực tế, mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam hiện
nay là mối quan hệ bất đối xứng, được quản lý, xây dựng, hoàn thiện
nhằm góp phần phát triển nhanh, bền vững đất nước. Có quan điểm cho rằng,
mối quan hệ ba bên này là mối quan hệ ba bên đồng đẳng, cân bằng, ngang bằng
theo kiểu “chủ nghĩa bình quân” và sơ đồ hóa thành một tam giác cân. Quan niệm
về mối quan hệ ba bên đều nhau như vậy có lẽ là không thực sự phù hợp cả về mặt
lý luận và thực tiễn. Cần thấy rằng, theo cách tiếp cận lý thuyết hệ thống tổng
quát, lý thuyết cấu trúc - chức năng và lý thuyết vị thế - vai trò xã hội, mối
quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là mối quan hệ ba
bên bất đối xứng. Bởi vì, trong mối quan hệ này, Nhà nước có vị trí, vai
trò của cả một hệ thống tổ chức nhà nước gồm các cơ quan nhà nước từ Trung ương
đến địa phương để thực hiện quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, dưới sự lãnh
đạo của Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong khi đó, thị trường
chủ yếu có vị trí, vai trò định hướng, quy định và điều tiết hành vi, hoạt động
trao đổi, mua bán, giao dịch của các bên tham gia thị trường, trong đó “Nhà
nước” dưới hình thức tổ chức là các cơ quan nhà nước và xã hội dưới hình thức
là các công dân, “người dân” có thể đóng vai người mua, người tiêu dùng và cả
người cung cấp những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhất định. Mối quan hệ ba bên
bất đối xứng thể hiện ở chỗ, “xã hội” dưới hình thức biểu hiện cụ thể là “người
dân” có vị trí, vai trò của người làm chủ đất nước, vừa có quyền lực vừa có
trách nhiệm tham gia quản lý xã hội, quản lý phát triển xã hội, thực hiện các
quy định của Hiến pháp, pháp luật và các chính sách của Nhà nước.
Mối
quan hệ ba bên bất đối xứng này được định hướng phát triển dưới sự quản lý của
Nhà nước bằng pháp luật, chính sách, với sự lãnh đạo của Đảng, sự tham gia của
người dân và sự ủng hộ của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân.
Điều đặc biệt quan trọng ở đây là, trong quản lý sự phát triển xã hội, Nhà nước
cần vận dụng các quy luật của thị trường và thể chế hóa các quy định để phát
huy vai trò làm chủ của nhân dân và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát
triển; đồng thời, Nhà nước liên tục đổi mới và hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nâng
cao năng lực quản lý nhà nước theo quy luật thị trường và xu thế dân chủ hóa,
bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước. Thị trường với các quy luật của nó
có thể và cần phải được vận dụng một cách phù hợp để góp phần phân bổ hợp lý
các nguồn lực, nâng cao được chất lượng và hiệu quả hành vi, hoạt động của các
cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức và cả cơ quan quản lý nhà nước.
Mối
quan hệ ba bên bất đối xứng này phụ thuộc rất nhiều vào vị trí, vai trò của Nhà
nước, thị trường và xã hội và chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế - xã hội
trong nước và bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam với thế giới.
“Nhà
nước” - vị trí, vai trò và giới hạn
Khái
niệm “Nhà nước”: Theo nghĩa chung nhất, nhà nước là một thiết chế quyền
lực đặc biệt được thiết lập trong phạm vi lãnh thổ nhất định để duy trì trật tự
xã hội và thực thi chủ quyền quốc gia; có bộ máy cai trị và quản lý xã hội; có
quyền ban hành luật pháp, thu thuế, xét xử. Nhà nước tồn tại, hoạt động dựa
trên quyền lực nhà nước, bản chất của nó chính là quyền lực chính trị được biểu
hiện dưới hình thức quyền lực công. Nguồn gốc của quyền lực nhà nước là do dân
ủy quyền. Tuy nhiên, nhân dân không ủy quyền toàn bộ quyền lực của mình cho nhà
nước, mà chỉ ủy quyền cho nhà nước những việc mà nhân dân không thể tự mình làm
được, giữ lại cho mình những quyền có thể làm tốt hơn nhà nước để tự quản cuộc
sống và thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài xã hội sau khi đã
ủy quyền.
Ở
Việt Nam hiện nay, theo nghĩa rộng, Nhà nước là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo nghĩa
hẹp, Nhà nước là hệ thống các cơ quan chính phủ và các cơ quan chính quyền địa
phương các cấp thực hiện quyền hành pháp. Theo nghĩa hẹp này, các cơ quan nhà nước
từ Trung ương đến địa phương có khả năng cụ thể hóa các đặc điểm của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong quản lý sự phát triển xã hội.
Tuy
nhiên, ở đây, cần phải “bóc tách” và nhận diện rõ hơn các phương diện khác nhau
của Nhà nước: 1- Là chủ thể quản lý có quyền ban hành luật pháp, thể chế, chính
sách và sử dụng các công cụ, nguồn lực để can thiệp vào thị trường và xã hội;
2- Là chủ thể trên thị trường thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn
nhà nước, phải bình đẳng trước pháp luật, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường;
3- Là nhà đầu tư công, nguồn lực nhà nước được đầu tư, phân bổ không chỉ theo
chiến lược, kế hoạch, quy hoạch mà còn phải theo cơ chế thị trường để dẫn dắt
đầu tư tư nhân, tối đa hóa hiệu quả, nhất là đầu tư phát triển các dịch vụ công
ích, dịch vụ sự nghiệp công; 4- Là đối tác của doanh nghiệp trong các hợp đồng
đối tác công tư, các đại diện của nhà nước phải có pháp nhân công đủ thẩm quyền
để đàm phán, ký kết và đặt mình bình đẳng với doanh nghiệp, nếu sai phạm hợp
đồng đều phải chấp nhận tranh tụng và chấp hành phán quyết công bằng của tòa
án; 5- Là “hộ tiêu dùng” lớn nhất, mua sắm của Chính phủ cũng phải vận dụng các
nguyên tắc cạnh tranh của thị trường, bảo đảm quyền tiếp cận của tư nhân, các
tổ chức xã hội đối với các gói đấu thầu mua sắm công, các đơn đặt hàng cung ứng
dịch vụ công; 6- Là trọng tài phân xử các tranh chấp trên thị trường và xã hội,
cơ quan tư pháp phải thật sự độc lập, công tâm, minh bạch, đề cao công lý.
Vị
trí và vai trò của Nhà nước trong mối quan hệ ba bên: Xuất phát từ nội hàm khái
niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, có thể thấy, Nhà nước luôn đứng ở
vị trí tầm cao để thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với sự phát triển của
đất nước, trong đó có sự tham gia của “thị trường” và “xã hội” và nhiều thành
phần khác. Nhà nước có vị trí và vai trò thực hiện quyền lực nhà nước thống
nhất đối với thị trường, xã hội và mối quan hệ giữa thị trường và xã hội bảo
đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trong mối quan hệ ba bên này, cả thị
trường và xã hội đều không thực hiện quyền lực nhà nước và có vị trí, vai trò
khác hẳn và do vậy, khó có thể ngang bằng, cân bằng khi so sánh với Nhà nước.
Giới
hạn và “khiếm khuyết” của nhà nước: 1- Thể chế, chính sách thiên
vị vẫn thường xảy ra khi nhà nước chịu tác động bởi “nhóm trục lợi” hướng
lái chính sách để giành lợi ích cho nhóm này mà hy sinh lợi ích của nhóm khác;
2- Phân bổ nguồn lực vụ lợi vẫn xảy ra đối với những nhà nước không
thật sự tôn trọng quy luật của kinh tế thị trường trong phân bổ nguồn lực, sử
dụng thô bạo quyền lực nhà nước khi phân bổ nguồn lực; 3- Đặc quyền, đặc
lợi và tham nhũng là khuyết tật bẩm sinh của mọi nhà nước, nhưng nhìn
chung, các nhà nước sở hữu và nắm quá nhiều quyền hành phân bổ nguồn lực thì
tình trạng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng sẽ nghiêm trọng hơn; 4 - Tính
khó lường phản ứng của thị trường. Thông tin về tình hình thị trường, tương tác
trên thị trường và diễn biến thị trường rất khó lường để Nhà nước có thể ra
quyết định được kịp thời và sát hợp; 5- Nhà nước khó thỏa mãn nhu cầu
xã hội rất đa dạng, cụ thể của các cộng đồng xã hội vi mô. Do giới hạn thông
tin và nguồn lực nên Nhà nước chỉ tập trung cho những nhu cầu cơ bản, thiết
yếu, còn không ít nhu cầu đa dạng, cụ thể, trực tiếp, thậm chí là “sát sườn”
của người dân lại dễ bị “bỏ sót”, nhất là với các tầng lớp yếu thế.
“Thị
trường” - vị trí và vai trò; một số đặc điểm, biến đổi mới và “khuyết
tật”
Khái
niệm “thị trường”: Theo nghĩa chung nhất, thị trường là nơi diễn ra quan hệ
trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Bản thân khái niệm “thị trường” (Market)
đã trải qua một quá trình nhận thức lâu dài từ nhận thức trực quan, sinh động
đến tư duy trừu tượng và trở lại vận dụng trong thực tiễn quản lý sự phát triển
xã hội. Một cách trực quan, thị trường như một cái chợ, một cửa hàng, một siêu
thị, là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ. Một cách trừu tượng, thị trường là hệ thống các thể chế, cơ chế, cấu
trúc, quá trình, quan hệ xã hội, mà thông qua đó, các bên liên quan tham gia,
tiến hành hoạt động trao đổi, mua bán và giao dịch.
Cơ
chế thị trường: là quá trình tương tác giữa các chủ thể kinh tế để hình thành
giá cả, phân bổ nguồn lực, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất. Cơ chế thị
trường là cách tự phân bổ nguồn lực một cách tối ưu, với giá là trục xoay của
thị trường phát tín hiệu; trên cơ sở đó, nhà sản xuất đưa ra quyết định đầu tư,
sản xuất, kinh doanh.
Các
quy luật của thị trường: Với nghĩa là hệ thống các thể chế, thị trường là hệ
thống các quy luật có khả năng định hướng, điều chỉnh hành vi, hoạt động của
các bên tham gia thị trường. Quy luật thị trường là mối quan hệ phổ biến nảy
sinh và thể hiện một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
con người. Các quy luật này quy định, chi phối hành vi, hoạt động của người mua
và người bán, buộc những người này phải tuân thủ nếu không sẽ bị loại khỏi thị
trường hoặc bị thị trường trừng phạt một cách phù hợp. Cần nhận thức rõ hơn một
số quy luật cơ bản của thị trường là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy
luật giá trị thặng dư, quy luật cạnh tranh và cho dù dưới bất kỳ hình thức
biểu hiện nào thì thị trường, với các quy luật tự nhiên của nó, luôn có khả
năng định hướng, quy định và điều chỉnh hành vi, hoạt động của người mua và
người bán tham gia thị trường để trao đổi, mua bán và giao dịch đối với các
hàng hóa, dịch vụ nhất định.
Đặc
điểm và những biến đổi mới: Các loại thị trường hiện đại đều có chung một số
đặc điểm và những biến đổi mới có thể làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá và
ứng phó đối với thị trường. Thứ nhất, thị trường hiện đại lấy đồng tiền
làm vật trung gian để định giá và trao đổi, theo đó bên bán cung cấp hàng hóa,
dịch vụ và nhận lại số tiền theo giá trị trao đổi từ bên mua. Thứ hai,
trong thị trường hiện đại, nhiều loại hàng hóa, dịch vụ mới xuất hiện và chiếm
vị trí trung tâm thúc đẩy phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Đó là sức
lao động trở thành hàng hóa và thị trường lao động, việc làm trở thành một loại
thị trường có vị trí và vai trò ngày càng quan trọng đối với các hoạt động sản
xuất, kinh doanh và các hoạt động giáo dục, đào tạo của xã hội. Đồng thời, đồng
tiền cũng trở thành một loại hàng hóa dưới hình thức “tư bản tài chính”, “vốn
tài chính” và gắn liền với nó là các dịch vụ tài chính, ngân hàng và thị trường
vốn, thị trường tài chính, tín dụng xuất hiện và phát triển rất mạnh trong xã
hội hiện đại. Thứ ba, với sự xuất hiện các tiến bộ khoa học, công nghệ,
nhất là công nghệ truyền thông hiện đại, như máy tính nối mạng, Internet, điện
thoại thông minh… dẫn tới nhiều hình thức giao dịch mới cũng xuất hiện trên thị
trường và tương ứng, có nhiều loại thị trường giao dịch mới xuất hiện và chi
phối hoạt động của mọi thành viên trong xã hội, bao gồm cả các cơ quan nhà nước
và người dân. Ví dụ, trong xã hội hiện nay đã xuất hiện và vận hành “chính phủ
điện tử”; trong đó, một phần các dịch vụ công được thực hiện thông qua hệ thống
các máy móc thiết bị điện tử nối mạng làm tăng hiệu quả quản lý, chất lượng
phục vụ và sự hài lòng đối với người sử dụng và các bên liên quan. Thứ tư,
bất kỳ một sự biến đổi nào của thị trường đều ảnh hưởng nhiều chiều đến toàn bộ
hệ thống các thị trường và ảnh hưởng lan tỏa đến sản xuất, kinh doanh và các
lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Do vậy, điều quan trọng và cần thiết đối với
lãnh đạo, quản lý xã hội là phải kịp thời nắm bắt những biến đổi của thị trường
để phát huy những ảnh hưởng tích cực thúc đẩy phát triển xã hội và kiểm soát
những biến đổi tiêu cực cản trở sự phát triển xã hội. Thứ năm, trong
nền kinh tế thị trường hiện đại, chi phối hành vi kinh doanh của các chủ thể
trên thị trường không chỉ là lợi nhuận mà cả giá trị xã hội, các lợi ích
công cộng được tiêu chuẩn hóa trong cam kết đầu tư (như tiêu chuẩn môi
trường, tiêu chuẩn nhân quyền, quyền công đoàn của người lao động…); mọi tranh
chấp trên thị trường được ứng xử một cách văn minh qua phân xử và phán quyết của
toà án; tính tự phát của thị trường, xung đột lợi ích giữa người tiêu dùng với
người sản xuất được giảm thiểu thông qua điều tiết của các hiệp hội ngành nghề,
cân bằng thông tin giữa các tổ chức xã hội đại diện cho lợi ích người tiêu dùng
và người sản xuất.
Vị
trí và vai trò của thị trường trong mối quan hệ ba bên: Theo nghĩa hẹp,
“thị trường” có thể được nghiên cứu, khảo sát thông qua khái niệm “doanh nghiệp
tư nhân”, bởi lẽ đây là một chủ thể tiêu biểu, điển hình của thị trường. Tất cả
quy luật của thị trường đều có thể biểu hiện và hoạt động thông qua doanh
nghiệp; cụ thể, doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh để sản xuất, lưu thông và bán
hàng hóa trên thị trường đáp ứng nhu cầu của xã hội với chi phí thấp nhất có
thể để tạo được giá trị thặng dư nhiều nhất có thể. Như vậy, trong quan hệ ba
bên, thị trường - cụ thể ở đây là doanh nghiệp - có vị trí, vai trò của người
sản xuất, kinh doanh, người bán các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ cho Nhà nước
và “xã hội”. Trong mối quan hệ ba bên này, thị trường có vị trí bình đẳng như
“xã hội” thể hiện ở việc doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan
nhà nước và đồng thời, phải tuân thủ pháp luật và thực hiện chính sách của Nhà
nước. Nhưng do Nhà nước và “xã hội” đồng thời lại có thể đóng vai “người tiêu
dùng” và “người mua”, nên thị trường cần phải coi Nhà nước và “xã hội” như
khách hàng, như “Thượng đế” để có thể phục vụ tốt nhất nhằm bán được hàng hóa,
dịch vụ và đổi lại là sẽ thu được tiền bán với mức sinh lời nhiều nhất có thể.
Tuy nhiên, so với “xã hội”, Nhà nước luôn có vị trí và vai trò của “khách hàng
lớn nhất”, có thể mua với lượng hàng lớn và trả những khoản tiền khổng lồ nên
thị trường phải đặc biệt coi trọng vị khách hàng đặc biệt này. Trong
khi đó, “xã hội” luôn có vị trí, vai trò của khách hàng thường xuyên đòi
hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì chiến lược bán hàng, chiến lược
phục vụ phù hợp với vị “khách hàng thường xuyên” đó.
Mặt
trái và “khuyết tật” của thị trường: 1- Các thế lực có lợi thế trên thị
trường thường tìm cách tối đa hóa lợi nhuận bằng cách hướng lái chính sách của
Nhà nước, giành lấy các cơ hội tiếp cận thông tin và nguồn lực có
lợi, hình thành nên “nhóm trục lợi”, đe dọa đến lợi ích của các lực lượng
ít có lợi thế hoặc các nhóm yếu thế trong xã hội; 2- Doanh nghiệp thường chỉ quan
tâm đến những ai có khả năng thanh toán, chỉ theo đuổi và làm cái gì có
lợi nhuận, mà thường ít chú ý đến các hàng hóa công cộng, lợi ích công cộng
(khi ít hoặc không đem lại lợi nhuận); 3- Kinh tế thị trường lấy phân bổ kết
quả sản xuất theo lao động, theo vốn đóng góp, gây nên tình trạng phân cực
giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, nhất là tình trạng nghèo của những người
không có cơ hội tiếp cận nguồn lực, người gặp rủi ro, có hoàn cảnh khó khăn đặc
biệt; 4- Tìm kiếm, tối đa hóa lợi nhuận nên doanh nghiệp thường có thiên
hướng hy sinh các lợi ích công cộng, thậm chí có doanh nghiệp còn chấp
nhận cả những việc làm suy đồi đạo đức (như hy sinh môi trường, sức
khỏe của người tiêu dùng, làm hàng giả, hàng kém chất lượng…); 5- Tính tự phát
của kinh tế thị trường gây các cuộc khủng hoảng chu kỳ hoặc suy thoái, gây
ra các hệ lụy khôn lường cả về kinh tế và xã hội.
“Xã
hội” - vị trí, vai trò và những hạn chế
Khái
niệm “xã hội”: Theo nghĩa rộng, xã hội là xã hội Việt Nam đang được xây dựng
nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Theo nghĩa
rộng của xã hội, Nhà nước là một trong các thành phần tạo nên xã hội. Tuy
nhiên, xã hội theo nghĩa rộng này chưa cho thấy rõ “thị trường”, mà thị trường
chỉ thể hiện đặc biệt rõ trong quá trình xây dựng “nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, theo nghĩa rộng, khái niệm “xã hội” được dùng
để chỉ hệ thống xã hội với các thành phần, cấu trúc, các mối quan hệ xã hội
phức tạp.
Theo
nghĩa hẹp, “xã hội” được hiểu là “khu vực thứ ba” nằm cạnh Nhà nước và thị
trường, gồm các giai tầng, cộng đồng (gồm cả gia đình), nhóm xã hội, được tập
hợp thông qua các tổ chức xã hội hình thành một cách tự nguyện dựa trên các
nguyên lý lợi ích (hiệp hội ngành nghề), nghề nghiệp (tổ chức xã hội nghề nghiệp),
địa vực (làng/bản), huyết thống - hôn nhân (dòng họ, gia đình), đức tin (tôn
giáo), nhân đạo, hữu nghị, sở thích…
Tổ
chức xã hội: Là thiết chế tập hợp hội viên theo nguyên tắc tự nguyện, tự
lập, tự dưỡng, hoạt động phi quyền lực chính trị, phi lợi nhuận, dựa vào các
thể chế xã hội thành văn hoặc bất thành văn, theo đuổi giá trị xã hội và lợi
ích của giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội nhất định. Khác với Nhà nước sử dụng
biện pháp hành chính, doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm động lực, thì các tổ chức
xã hội hướng dẫn hành vi của thành viên dựa trên các giá trị xã hội. Tổ chức xã
hội vừa là một cơ sở xã hội của Nhà nước; vừa là thiết chế bảo vệ, thúc đẩy
quyền lợi chính đáng, hợp pháp của thành viên; vừa là khách hàng của doanh
nghiệp tham gia trên thị trường. Động lực của các tổ chức xã hội là giá trị xã
hội và lợi ích chính đáng của mỗi giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội rất đa
dạng.
Vị
trí và vai trò của xã hội: Như đã phân tích, mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước,
thị trường và xã hội là mối quan hệ ba bên bất đối xứng. Tính chất bất đối xứng
này thể hiện rõ qua việc xã hội (theo nghĩa rộng) có thành phần là Nhà nước và
đòi hỏi Nhà nước phải trở thành Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Tuy
nhiên, thực tế cho thấy, Nhà nước luôn gặp giới hạn và không phải lúc nào cũng
đem lại lợi ích tối đa cho tất thảy người dân, nhất là những người yếu thế;… vì
vậy, các tổ chức xã hội là cơ chế bổ sung cho những giới hạn của Nhà nước đối
với các “vùng trung gian”, “vùng lõm” nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các
giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội.
Trong
mối quan hệ ba bên bất đối xứng đang được xây dựng, nhân tố xã hội (“xã hội”
theo nghĩa hẹp) là người dân đóng vai trò làm chủ xã hội lớn, tham gia quản lý
nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, xã hội theo nghĩa hẹp, cụ thể
là những người dân, có vị thế, vai trò của chủ thể xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bị quy định bởi trình độ, điều kiện kinh
tế thị trường cụ thể. Mục tiêu của phát triển xã hội theo cả nghĩa rộng và
nghĩa hẹp là phát triển con người; trong đó, thị trường có thể tạo ra động lực,
cơ chế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo các điều kiện và nguồn lực vật chất cho
phát triển xã hội. Nhà nước quản lý mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị
trường và xã hội bằng pháp luật, chính sách nhằm bảo đảm phát triển xã hội hài
hòa, bền vững.
Những
hạn chế cơ bản của “xã hội”: 1- Các giai tầng, cộng đồng, nhóm xã
hội rất đa dạng, tính thuần nhất không cao, dễ tạo ra tình trạng phân tán,
cát cứ, tản mát, vô chính phủ, nếu thiếu Nhà nước mạnh và thiếu cơ chế huy
động, tập hợp xã hội thống nhất; 2- Các tổ chức xã hội chỉ quan tâm đến
lợi ích cục bộ của thành viên mà ít quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã
hội, hình thành nên các nhóm lợi ích đa dạng nhiều khi xung đột nhau hoặc xung
đột với lợi ích chung, gây nên tình trạng bất cân xứng trong xã hội, làm
tổn hại lợi ích các nhóm xã hội yếu thế; 3- “Xã hội” thường đề cao thể chế xã
hội, cả thành văn và bất thành văn, gắn với tính tự quản, tự nguyện, dễ
tạo ra những “lệ riêng” xa rời luật pháp, thậm chí phủ nhận luật pháp dưới các
hình thức “bất tuân dân sự”; 4- Hoạt động phi lợi nhuận cũng là khu vực mà
doanh nghiệp dễ lợi dụng tìm cách trốn thuế, chuyển giá; còn nếu dựa vào
hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thì lại dễ bị hành chính hóa, làm hạn chế
tính tự chủ, tính đại diện bảo vệ cho quyền lợi hội viên; 5- “Hội
chứng đám đông” của “xã hội” thường gây nên các hệ lụy khó lường cả về kinh
tế và chính trị, nhất là hoạt động mua bán cổ phiếu, bất động sản hay các hành
vi có tính đám đông khi bị kích động chính trị chống đối Nhà nước.
Sự
cần thiết phải bổ khuyết lẫn nhau để mỗi chủ thể trong mối quan hệ ba bên này
phát huy được điểm mạnh và hạn chế được điểm yếu, góp phần thúc đẩy đất nước
phát triển nhanh, hài hòa, bền vững
Nhà
nước vừa theo đuổi lợi ích công cộng, vừa bảo vệ lợi ích của lực lượng chính
trị cầm quyền. Nhà nước pháp quyền, dân chủ thường lấy lợi ích công cộng làm
mục tiêu cao nhất cho tổ chức và hoạt động của mình thông qua tạo lập môi
trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế trên thị trường, mở rộng
phúc lợi cho người dân, tìm cách chính đáng hóa lợi ích của lực lượng cầm quyền
trong lợi ích xã hội. Tuy vậy, không phải lúc nào Nhà nước cũng đạt được lợi
ích công cộng ở mức lý tưởng, bởi lẽ Nhà nước luôn gặp giới hạn khi tác động
đến “vùng trung gian”, “vùng lõm”, nhất là trong xử lý mối quan hệ giữa nhóm xã
hội có lợi thế và nhóm xã hội bất lợi thế, giữa vùng thuận lợi và khó khăn,
giữa hoạt động kinh doanh theo thị trường và hoạt động phi thị trường… Vì vậy,
các tổ chức xã hội đóng vai trò như là cơ chế bổ sung cho những giới hạn của
Nhà nước đối với các “vùng trung gian”, “vùng lõm” nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích
giữa các giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội.
Trong
nền kinh tế thị trường hiện đại, với tư cách là nhà đầu tư, Nhà nước không chỉ
là nhà quản lý mà còn là đối tác của doanh nghiệp, có vị thế bình đẳng trên thị
trường và bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước vận hành trong nền kinh tế thị
trường hiện đại, đầy đủ, hội nhập quốc tế không còn là nhà nước sở hữu, mà thừa
nhận và bảo hộ quyền sở hữu và quyền tài sản của mọi chủ thể khác trong xã hội.
Đó cũng là Nhà nước không cố nắm giữ mọi dịch vụ công mà chủ yếu chuyển sang
kiểm soát chất lượng, sẵn sàng chuyển giao cho tư nhân và xã hội những gì họ
làm tốt hơn Nhà nước(3).
Doanh
nghiệp có xu hướng tối đa hóa lợi nhuận, xu hướng độc quyền, hạn chế cạnh
tranh, hy sinh các lợi ích công cộng, gây nên các ngoại ứng tiêu cực (ô nhiễm
môi trường, phân hóa giàu nghèo, gian lận thương mại…). Để tối đa hóa lợi
nhuận, tiếp cận nguồn lực thuận lợi, doanh nghiệp và một bộ phận quan chức nhà
nước có xu hướng bắt tay hình thành “nhóm trục lợi” hướng lái chính sách, vừa
làm méo mó quy luật thị trường, vừa làm tha hóa Nhà nước, đe dọa đến lợi ích
các nhóm bất lợi thế và yếu thế. Vì vậy, phải cần đến vai trò không thể thiếu
của Nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi chủ thể sản xuất,
kinh doanh, chống độc quyền, hạn chế ngoại ứng tiêu cực, phân xử công bằng các
tranh chấp; và cũng cần đến các tổ chức xã hội để cân bằng tiếng nói khi tham
gia hoạch định chính sách giữa nhóm sản xuất và nhóm tiêu dùng, giữa ngành hàng
này với ngành hàng khác…, góp phần kiểm soát quan hệ giữa Nhà nước và doanh
nghiệp, phòng ngừa “nhóm trục lợi” chính sách; tổ chức cung ứng dịch vụ xã hội
phi lợi nhuận để khắc phục khuyết tật của thị trường vốn có thiên hướng chỉ
quan tâm tới tối đa hóa lợi nhuận.
“Xã
hội” có xu hướng theo đuổi các lợi ích cục bộ của giai tầng, cộng đồng, nhóm xã
hội… mà giữa chúng nhiều khi xung đột nhau và cũng xung đột với lợi ích chung
của toàn xã hội. Do đó, nếu thiếu bàn tay của Nhà nước thì sẽ gây nên tình
trạng vô chính phủ, không giải quyết được lợi ích nhóm cục bộ và lợi ích công
cộng; tương tự, nếu thiếu vận dụng nguyên tắc thị trường vào hoạt động quản trị
tổ chức xã hội thì sẽ đẩy các tổ chức rơi vào trạng thái hành chính hóa, thiếu
năng động, thiếu nguồn lực tài chính phục vụ cho mở mang phúc lợi. Có thể nhận
thấy, “xã hội” theo đuổi giá trị xã hội, lấy giá trị văn hóa, đạo đức, nhân văn
làm động lực phát triển, có ý nghĩa cân bằng với Nhà nước vốn dựa vào sức mạnh
của quyền lực chính trị, cân bằng với doanh nghiệp vốn dựa vào sức mạnh của
đồng tiền. Ở đây, “xã hội” dựa vào nhiều trụ cột phát triển nên có thể bảo đảm
sự hài hòa, cân bằng và vấn đề đặt ra là phải có và thực hiện được sự kết
hợp hợp lý giữa sử dụng quyền lực chính trị với quyền lực kinh tế và quyền lực
văn hóa, đạo đức (giá trị xã hội). Vì vậy, cần phát huy mạnh mẽ hơn
nữa vai trò của “xã hội” nhằm bổ sung cho giới hạn của Nhà nước và hạn chế,
“khuyết tật” của thị trường, như hình thành các cơ chế tham gia giám sát, phản
biện xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tiếng
nói của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội được chuyển tải một cách cân bằng
đến các cơ quan hoạch định chính sách, tránh để một “nhóm lợi ích” chi phối
thông tin “đầu vào”, gây nên tình trạng bất cân xứng thông tin; tham gia điều
tiết quan hệ cung - cầu trên thị trường thông qua các hiệp hội, liên hiệp hội
ngành hàng(4).
Trong
thực tế gần 35 năm đổi mới vừa qua đã xuất hiện sự điều chỉnh, hoán đổi,
chuyển giao trách nhiệm giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đối với
nhiều nội dung thuộc lĩnh vực quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam. Chẳng hạn
như: Khác với dịch vụ xã hội trước đổi mới do Nhà nước độc quyền cung ứng thì
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay,
dịch vụ xã hội do nhiều chủ thể đa dạng cung ứng, gồm Nhà nước, tư nhân, tập
thể, cộng đồng. Vì thế, có loại dịch vụ xã hội thuộc sở hữu nhà nước, do
Nhà nước lập hệ thống tổ chức cung ứng, thường gọi là các đơn vị sự nghiệp công
lập; có loại dịch vụ xã hội thuộc sở hữu tư nhân, do tư nhân cung ứng, hoạt
động theo nguyên tắc của thị trường, tối đa hóa lợi nhuận; có loại dịch vụ xã
hội thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng,
hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận. Những dịch vụ xã hội hoạt động theo
nguyên tắc phi lợi nhuận thường có nguồn gốc tài sản dịch chuyển từ sở hữu
tư nhân thành sở hữu xã hội, sở hữu cộng đồng, với cơ chế tài chính đặc thù,
chất lượng của dịch vụ không hoàn toàn đo lường được bằng giá cả theo trục xoay
của giá thị trường, mà chúng bị điều chỉnh rất nhiều bởi giá trị đạo đức,
nhân văn như trong giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội…
Vì
vậy, trong thời gian tới, Đảng cần tập trung xác định, nhận thức lại rõ
ràng và đầy đủ hơn chức năng của Nhà nước để xây dựng nhà nước quản trị, nhà
nước phục vụ nhân dân; xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại,
đầy đủ, góp phần củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và giải quyết tốt
các vấn đề xã hội; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nhằm bổ sung
cho giới hạn của Nhà nước và hạn chế “khuyết tật” của thị trường; dựa trên các
giá trị công lợi, nhân văn, công bằng, phúc lợi cho người dân…, bởi đó chính là
những giá trị chung và là cơ sở cho hợp tác, đối tác giữa Nhà nước, thị trường
và xã hội ở nước ta.
Về
phương diện thực tiễn, nghiên cứu, nhận diện mối quan hệ giữa Nhà nước, thị
trường và xã hội ở Việt Nam hiện nay phải xuất phát từ thực tiễn phát
triển của Việt Nam, nhằm khắc phục tình trạng tách biệt giữa các chủ thể
hiện nay, bảo đảm kết nối ba chủ thể này thành một phức thể trong
quản lý phát triển xã hội, tránh chồng chéo, phân biệt đối xử; góp phần
nâng cao hiệu quả phát triển xã hội nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước trong giai đoạn mới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét