Thực trạng và giải pháp thực hành
dân chủ trong Đảng hiện nay
HOA SÚNG
Thời gian qua, Đảng ta ra sức mở rộng thực hành dân chủ và đã đạt được
những bước tiến đáng kể. Điểm mới nhất chính là sự ra đời của Quy chế
chất vấn trong Đảng và việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh
lãnh đạo chủ chốt của Đảng. Bên cạnh đó, công tác cán bộ đã được tiến hành theo
những quy trình chặt chẽ, công khai; công tác bầu cử với những quy định mới
bước đầu tạo ra sự công bằng về cơ hội cho mọi đảng viên. Tuy nhiên, nhìn chung
dân chủ trong Đảng vẫn chưa được thực thi đầy đủ; căn bệnh độc đoán, chuyên
quyền cũng như dân chủ hình thức trong Đảng vẫn tồn tại ở nơi này hay nơi khác.
Thực tế cho thấy, hầu hết các tổ chức, cá nhân bị xử lý kỷ luật của Đảng trong
thời gian vừa qua đều có chung một khuyết điểm là vi phạm nguyên tắc
tập trung dân chủ, thiếu dân chủ trong công tác lãnh đạo, lợi dụng
nguyên tắc tập trung dân chủ làm “bình phong” để áp đặt ý muốn vụ lợi của cá
nhân. Thêm nữa, nạn tham nhũng hiện nay đang hết sức phức tạp, “núp bóng” dưới
nhiều hình thức tinh vi,... Để xảy ra các vấn nạn đó, trước hết là
do sự thiếu tu dưỡng của từng cá nhân nhưng mặt khác, cũng do
nguyên tắc tập trung dân chủ trong nhiều tổ chức đảng bị buông lỏng. Tình trạng
trên đặt ra yêu cầu cấp bách là phải tiếp tục mở rộng dân chủ trong Đảng và cần
phải giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ cương. Tư tưởng Hồ
Chí Minh cũng như thực tế sinh động gợi mở một hệ thống giải pháp như sau:
Một là, nâng cao nhận thức của đảng viên, nhất là của người lãnh đạo các
cấp về vấn đề dân chủ trong Đảng. Cần phải làm tốt công tác tuyên
truyền, giáo dục để toàn bộ đảng viên của Đảng “thấm đến ngọn ngành” sức mạnh
của dân chủ và trách nhiệm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ một cách
nghiêm túc, thiết thực, tự giác, phù hợp với vị thế của mình. Người lãnh đạo
phải thực sự cầu thị, tôn trọng tập thể và cấp dưới; biết khơi gợi để cấp dưới
nói lên ý kiến của mình; phải xem xét ý kiến của cấp dưới một cách công tâm;
phải lựa chọn, tổng hợp những ý kiến riêng lẻ thành một chỉnh thế thống nhất và
nâng nó lên một tầm cao mới, một “chất” mới bằng tầm nhìn và tư duy khoa học.
Về phía đảng viên, cần phải đóng góp ý kiến, quan điểm của mình cho các công
việc của tổ chức; tẩy bỏ tư tưởng “im lặng là vàng”; phải chống tư tưởng ngôi
thứ, cấp bậc, gia trưởng. Tuy nhiên, dân chủ cao độ phải gắn với tập trung cao
độ nên không được lợi dụng dân chủ để thực hiện các hành vi vô tổ chức, vô
chính phủ. Đó là những nhận thức mang tính nguyên tắc mà mọi đảng viên của Đảng
phải thực sự quán triệt trong hành động.
Hai là, nâng cao chất lượng công tác sinh hoạt Đảng, đổi mới nội dung, hình
thức sinh hoạt chi bộ theo hướng hiệu quả, thiết thực, hấp dẫn. Ngày 30-3-2007,
Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về “Nâng cao chất lượng sinh
hoạt chi bộ”, nhưng đến nay, ở không ít chi bộ, nội dung sinh hoạt còn
nghèo nàn, việc thảo luận vẫn hết sức chiếu lệ. Thực trạng này có nhiều nguyên
nhân, như do tâm lý cả nể, do suy nghĩ “dễ người dễ ta”, do sự “bao cấp về tư
tưởng” trong một thời gian dài, do sự thiếu dân chủ của cấp ủy và người đứng
đầu... Trong khi đó, công cuộc đổi mới lại đặt ra quá nhiều
vấn đề mới mẻ, phức tạp cần phải thảo luận. Một cuộc thảo luận muốn đạt kết quả
tốt không thể thiếu sự tranh luận, phản biện sâu sắc, nên phát huy dân chủ
trong sinh hoạt Đảng phải đi đôi với đề cao trách nhiệm đóng góp ý kiến của tất
cả đảng viên. Muốn vậy, cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy phải chủ động, sáng tạo
trong việc tổ chức thảo luận và không được thành kiến, kỳ thị hay quy chụp vô
lối đối với những ý kiến phản biện.
Ba là, cải cách mạnh mẽ công tác tổ chức và cán bộ. Chế
độ bầu cử tại các đại hội cần phải tiếp tục được đổi mới theo hướng mở rộng dân
chủ trực tiếp, bầu cử có số dư, mở rộng quyền ứng cử, đề cử thông qua việc xây
dựng và bảo vệ chương trình hành động. Những người có quyền đề cử, đề cử cán bộ
phải chịu trách nhiệm về sự đề cử của mình. Nâng cao chất lượng và tiến hành
thường xuyên việc chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng (đặc biệt là chất vấn
tại các kỳ họp Trung ương) và việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh
lãnh đạo chủ chốt. Do Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, quản lý đội ngũ
cán bộ trong toàn hệ thống chính trị nên muốn phát huy dân chủ, chống lại các
tệ nạn tiêu cực trong công tác cán bộ thì mọi quy trình gắn với nó phải bảo đảm
tính công khai, minh bạch và hướng tới sự hoàn thiện, đồng bộ. Khi đánh
giá cán bộ đang là “khâu” yếu nhất thì lúc này phải nhanh chóng hoàn thiện hệ
tiêu chí đánh giá cán bộ không chỉ về định tính mà còn gắn với định lượng, lấy
hiệu quả công tác làm thước đo. Việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ phải căn cứ vào
kết quả đó và sự tín nhiệm của tập thể. Sự cứng nhắc trong chủ trương “cơ cấu”
không chỉ hạn chế tính đột phá, sự cạnh tranh công bằng, ý chí phấn đấu của
những người ngoài “cơ cấu”, mà còn đẻ ra căn bệnh cơ hội, “chạy chức”, “chạy
quyền”. Phải thực thi nghiêm túc Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ
Chính trị, “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ
và chống chạy chức, chạy quyền”. Nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra,
thanh tra, nhưng phải lựa chọn cho được những cán bộ kiểm tra, thanh tra có
chuyên môn giỏi, liêm chính, vững vàng trước mọi sức ép và biết dựa vào nhân
dân để thực hiện nhiệm vụ.
Bốn là, cần xây dựng quy chế dân chủ trong Đảng để dân chủ được thực thi mọi
nơi, mọi lúc và trong mọi hoạt động của Đảng. Đây chính là sự cụ thể hóa Điều
lệ Đảng với thể chế hóa Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm
2013 quy định Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của
mình và phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật nhưng đến nay, vẫn
chưa có văn bản pháp luật nào cụ thể hóa những quy định đó. Để đường lối của
Đảng đạt chất lượng tốt nhất thì cần phải có quy chế xây dựng đường lối theo
hướng mở rộng sự phản biện khoa học. Cũng phải có quy chế buộc các tổ chức đảng
phải phản hồi các ý kiến đóng góp, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể chính trị - xã hội. Đảng yêu cầu người đứng đầu phát huy vai trò
và trách nhiệm nêu gương thì cũng phải có cơ chế quy định rõ thẩm quyền, trách
nhiệm, cũng như sự ràng buộc, xử lý kỷ luật những cán bộ thiếu trách nhiệm nêu
gương. Vì thế, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để
xây dựng và hoàn thiện cơ chế dân chủ trong Đảng sao cho phù hợp với điều kiện
thực tế.
Năm là, không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương và noi gương phong cách lãnh
đạo Hồ Chí Minh của cấp ủy và người đứng đầu cấp
ủy. Cán bộ lãnh đạo là nguồn nhân sự đặc biệt, là người đứng đầu
tổ chức; cho nên sự thực hành dân chủ của họ quyết định rất lớn đến “hàm lượng”
dân chủ trong Đảng. Tuy nhiên, quyền lực mà người lãnh đạo có được cũng chỉ là
sự ủy quyền nên họ phải thực sự tôn trọng cấp dưới, tôn trọng tập thể và phải công
khai, minh bạch trong công tác điều hành. Người đứng đầu tất yếu phải đi đầu
trong việc noi gương phong cách lãnh đạo dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
trong cuộc đấu tranh với các hiện tượng phản dân chủ, như tham nhũng, lãng phí,
quan liêu, “lợi ích nhóm”, đặc quyền, đặc lợi... Điều đó đồng nghĩa với việc họ
phải đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân đang “ẩn náu” trong chính bản thân mình và
tổ chức của mình; kiên quyết chống lại các hiện tượng, các thế lực lợi dụng dân
chủ để chống phá Đảng, gây mất ổn định xã hội, chia rẽ mối liên hệ mật thiết
giữa Đảng với nhân dân.
Mở rộng dân chủ trong Đảng không chỉ phát huy cao độ sức mạnh nội tại mà
còn phải thúc đẩy tiến trình đổi mới hệ thống chính trị và quá trình dân chủ
hóa đất nước, cho nên đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, vừa lâu dài, vừa cấp
bách của Đảng. Cuộc sống luôn phong phú và biến đổi nhanh chóng, vì thế, nghiên
cứu, bổ sung các biện pháp giúp cho việc thực hành dân chủ trong Đảng “đi” đúng
hướng là một yêu cầu thường trực và khách quan./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét